tin tức-sự kiện

sáng kiến kinh nghiệm phân môn Tập đọc lớp 4

I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1. Lí do chọn đề tài

Tiểu học là cấp học nền tảng đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển toàn diện nhân cách của con người, đặt nền tảng vững chắc cho giáo dục phổ thông và cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân.

Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Bước đầu xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, làm nền tảng cho học sinh tiếp tục học trung học cơ sở.

Mặt khác, giáo dục tiểu học là nền móng đầu tiên giúp con người tồn tại và phát triển, trong đó môn Tiếng Việt có một vị trí đặc biệt quan trọng vì nó hình thành và phát triển cho học sinh khả năng giao tiếp, là cơ sở để phát triển tư duy cho trẻ, giúp trẻ tiếp thu các môn học khác.

Tiếng Việt ở tiểu học gồm nhiều phân môn: Tập đọc, Luyện từ và câu, Kể chuyện, Chính tả, Tập làm văn. Mỗi một phân môn đều có một chức năng, khi dạy ngữ văn ở nhà trường đồng thời cũng chuẩn bị vốn cho học sinh khi học văn mà Tập đọc là một phân môn giữ vị trí không nhỏ.

Tập đọc là một phân môn mang tính chất tổng hợp vì ngoài nhiệm vụ dạy học nó còn có nhiệm vụ trau dồi kiến thức về Tiếng Việt cho học sinh (về phát âm, từ ngữ, câu văn,...) kiến thức bước đầu về văn học, đời sống và giáo dục tình cảm thẩm mĩ. Tập đọc ở Tiểu học nói chung và ở lớp 4 nói riêng giữ một nhiệm vụ quan trọng. Trong các giờ Tập đọc, việc học sinh biết đọc đúng và diễn cảm bài văn, bài thơ sẽ tạo cho các em sự say mê hứng thu trong học tập và tích lũy một vốn kiến thức văn học đáng kể sau này cho các em.

Phân môn Tập đọc có tác dụng mạnh mẽ trong giáo dục mĩ cảm, học sinh yêu cái đẹp, rung cảm trước cái đẹp trong thiên nhiên, cái đẹp trong xã hội, cái đẹp trong văn chương. Tập đọc còn rèn luyện cho học sinh tư duy trừu tượng và cả tư duy lôgíc. Giờ Tập đọc ngoài việc dẫn dắt cho học sinh tìm nội dung để phát triển óc tổng hợp, tìm bố cục để phát triển óc phân tích, các em còn được rèn luyện óc tưởng tượng, phán đoán, ghi nhớ .

Phân môn Tập đọc còn được kết hợp chặt chẽ với các phân môn khác của chương trình Tiếng Việt. Qua các bài văn được học, học sinh vừa cảm thụ được cái hay, cái đẹp vừa học được cách sử dụng từ chính xác, cách đặt câu gọn gàng, sinh động , được luyện tập về chính tả, luyện từ và câu, tập làm văn.

Ở Tiểu học nói chung và ở lớp 4 nói riêng phân môn Tập đọc có hai yêu cầu cơ bản là:

- Rèn kĩ năng tập đọc.

- Giúp học sinh cảm thụ tốt bài văn.

Học phân môn Tập đọc, việc đọc và cảm thụ là hai khâu có quan hệ mật thiết với nhau, gắn bó hỗ trợ đắc lực cho nhau, cảm thụ tốt giúp việc đọc đúng, diễn cảm tốt. Ngược lại đọc đúng và diễn cảm tốt giúp cho việc cảm thụ bài văn thêm sâu sắc. Học sinh có đọc đúng, đọc thông thạo và trên cơ sở đã hiểu nội dung câu thơ, câu văn, đoạn thơ, đoạn văn thì các em mới thể hiện được cảm xúc, tức là đã hiểu tường tận về nội dung và nắm được ý nghĩa giáo dục của bài. Điều đó khẳng định rằng trong tiết Tập đọc lớp 4, việc rèn kĩ năng đọc đúng, đọc diễn cảm cho học sinh là rất cần thiết. Trong tiết học, học sinh có đọc đúng, biết đọc diễn cảm thì viết chính tả, dùng từ, đặt câu mới đúng; viết tập làm văn mới hay. Chính vì vậy, để góp phần nâng cao chất lượng đọc cho học sinh tôi mạnh dạn đề xuất một vài kinh nghiệm nhỏ của mình về vấn đề: “Một số biện pháp rèn đọc đúng, diễn cảm nhằm nâng cao chất lượng dạy học phân môn tập đọc lớp 4 ”.

2. Mục đích nghiên cứu

Giúp học sinh lớp 4 có kĩ năng đọc đúng và đọc diễn cảm trong các tiết Tập đọc.

3. Đối tượng nghiên cứu

Học sinh lớp 4A - Trường Tiểu học A Châu Giang

4. Phương pháp nghiên cứu

-Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

-Phương pháp quan sát

  • Phương pháp thống kê phân loại
  • Phương pháp thử nghiệm sư phạm

-Phương pháp thực hành

-Phương pháp đối chứng

5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Phân môn Tập đọc lớp 4

II. NỘI DUNG

1. Cơ sở lí luận

Trong việc dạy tiếng mẹ đẻ cho học sinh đọc và hiểu được nội dung bài thì phân môn Tập đọc có vai trò thật quan trọng. Phân môn Tập đọc giúp các em có kĩ năng nghe tốt, đọc thông, viết thạo, đọc đúng còn giúp các em hiểu được nội dung văn bản. Đọc diễn cảm giúp các em cảm thụ được những cái hay, cái đẹp của nghệ thuật văn chương. Ngoài ra phân môn Tập đọc còn có tác dụng rất to lớn trong việc giáo dục tình cảm cho học sinh của lứa tuổi tiểu học. Qua phân môn Tập đọc các em được tiếp xúc với những áng văn, áng thơ hay chọn lọc dạy trong chương trình. Học sinh được tiếp xúc với thế giới muôn hình, muôn vẻ ở xung quanh qua nghệ thuật ngôn từ. Từ đó làm cho học sinh cảm nhận được vẻ tinh túy của thế giới đó bằng ngôn ngữ Tiếng Việt. Tuy nhiên do đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi của các em chưa thể cảm nhận hết hoặc có cảm nhận cũng không thể diễn đạt tốt vì vốn ngôn ngữ của các em còn quá đơn giản, ít ỏi và chưa phong phú. Nên quá trình dạy Tập đọc để cho các em đọc đúng đã là khó, để các em đọc diễn cảm được nội dung còn khó khăn gấp nhiều lần.

Mặt khác, yêu cầu của phân môn Tập đọc lớp 4 là:

1. Củng cố, phát triển kĩ năng đọc trơn, đọc thầm đã được hình thành ở các lớp 1, 2, 3; tăng cường tốc độ đọc, biết đọc lướt để chọn thông tin nhanh; bước đầu biết đọc diễn cảm.

2. Phát triển kĩ năng đọc - hiểu lên mức cao hơn: Nắm và vận dụng được một số khái niệm như đề tài, cốt truyện, nhân vật, tính cách,…để hiểu ý nghĩa của bài và phát hiện một vài giá trị nghệ thuật trong các bài văn, thơ (yêu cầu trọng tâm)

3. Mở rộng vốn hiểu biết về tự nhiên, xã hội và con người để góp phần hình thành nhân cách của con người mới.

Như vậy, để đạt được các yêu cầu trên và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh đòi hỏi mỗi giáo viên cần đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học sao cho “ Nhẹ nhàng, chất lượng, hiệu quả”.

2. Cơ sở thực tiễn

Qua việc giảng dạy lớp 4 và dự giờ trao đổi học tập lẫn nhau trong hội giảng cấp trường, cấp huyện, tôi thấy còn bộc lộ một số tồn tại sau:

2.1. Về phía học sinh

- Có những học sinh học lớp 4 đọc vẫn chưa lưu loát, còn ngắc ngứ, ngắt nghỉ còn chưa đúng chỗ, nhấn giọng lên xuống tuỳ tiện. Trong quá trình đọc, một số em còn hấp tấp không chuẩn bị kĩ cho việc đọc nên đọc quá nhanh, dẫn đến sai từ, thêm hoặc bớt từ làm ảnh hưởng đến ý nghĩa của bài văn, bài thơ. Do đó các em không hiểu được nội dung, nghệ thuật, không hiểu được cái hay cái đẹp của tác phẩm .

- Các em chưa có thói quen xem trước bài mới ở nhà nên việc đọc ở lớp không hiệu quả.

2.2. Về phía giáo viên

- Chưa thường xuyên rèn đọc. Khi học sinh đọc sai đọc lại để sửa thì chưa rèn dứt điểm những phụ âm đầu hay sai. Nhiều giáo viên đọc chưa hay làm ảnh hưởng không ít tới việc đọc của học sinh. Hơn nữa trong giờ Tập đọc có giáo viên chưa chú ý đến học sinh đọc sai, chỉ chú ý đến học sinh đọc đúng, đọc hay.

- Trong giảng dạy việc rèn đọc diễn cảm mang tính chất hình thức, nhiều giáo viên còn lúng túng trong việc hướng dẫn học sinh rèn đọc: đọc thành tiếng, đọc thầm. Ngược lại, trong giờ Tập đọc có giáo viên chỉ chú trọng đến việc tìm hiểu nội dung bài, số lượng học sinh được luyện đọc trong lớp ít. Do đó các em chưa biết khi nào đọc lên giọng, hạ giọng, khi nào nhấn giọng từ ngữ. Nhất là khi đọc lời các nhân vật chưa thể hiện được tính cách của các nhân vật.

- Thực tế ở giờ dạy Tập đọc, giáo viên dành thời gian cho việc luyện đọc của học sinh còn ít, còn áp đặt cách đọc cho các em, học sinh phải đọc một cách thụ động. Nên bản thân học sinh tự cho rằng mình đã đọc thông thạo, do đó không chú tâm rèn kĩ năng đọc lưu loát, đọc diễn cảm. Giáo viên ít tổ chức, ít gợi ý để học sinh khám phá tìm hiểu cách đọc dẫn đến hiệu quả đạt được trong giờ tập đọc chưa cao.

- Chưa chú ý đến phương pháp dạy học mới. Đó là giáo viên chỉ là người gợi ý, dẫn dắt, còn học sinh sẽ là người chủ động tìm ra cách đọc đúng, đọc hay. Do đó việc rèn cho học sinh có thói quen nhận xét bạn đọc đúng hay sai để sửa cho bạn và điều chỉnh mình khi mình đọc sai là việc làm cần thiết.

- Chưa chú ý đến việc cho học sinh luyện đọc theo nhóm nên trong giờ học còn nhiều em chưa được đọc.

2.3. Do các yếu tố khác

- Do ảnh hưởng của ngôn ngữ địa phương phát âm chưa chuẩn, nên học sinh còn đọc sai, phát âm nhầm lẫn l/n; dấu sắc với dấu ngã.

- Do bố mẹ ở địa phương khác chuyển đến hay trong gia đình có người lớn nói, phát âm chưa đúng nên các em bắt chước.

- Một số em do bố mẹ bận công việc nên chưa thực sự quan tâm đến việc sửa lỗi đọc cho con thường xuyên.

* Từ thực tiễn trên, để biết được học sinh có thực sự tiến bộ về cách đọc khi áp dụng “Một số biện pháp rèn đọc đúng, diễn cảm nhằm nâng cao chất lượng dạy học phân môn tập đọc lớp 4 ” vào thực hiện không, tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng đọc của lớp tôi chủ nhiệm, kết quả như sau:

Tổng số học sinh: 32 em

Kĩ năng đọc

Số lượng

Tỉ lệ %

Ghi chú

Đọc nhỏ, ấp úng, phát âm

chưa chuẩn

12

37,5

Đôi khi đọc sai từ

Đọc to nhưng còn sai từ

(thêm - bớt từ)

8

25

Đôi khi đọc quá nhanh

Đọc to, lưu loát, rõ ràng

nhưng chưa diễn cảm

10

31,2

Chưa phân biệt được giọng đọc

Đọc to, lưu loát, rõ ràng, diễn cảm tương đối tốt

2

6,3

Đôi khi chưa nhấn từ đúng

Như vậy chất lượng đọc đúng và diễn cảm còn thấp, việc đề ra các biện pháp rèn học sinh đọc đúng, đọc diễn cảm là vô cùng cần thiết.

3. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề

3.1. Phân loại học sinh

Sau khi nhận lớp, tôi đã ổn định chung tổ chức lớp. Qua tìm hiểu điều tra để nắm chắc đối tượng học sinh và lựa chọn, đặc biệt là về kĩ năng đọc và phân loại học sinh theo ba đối tượng:

Đối tượng 1: Học sinh biết đọc diễn cảm

Đối tượng 2: Học sinh mới chỉ biết đọc to, rõ, lưu loát.

Đối tượng 3: Học sinh đọc nhỏ, ấp úng, ngọng.

Dựa vào đó, tôi đã sắp xếp chỗ cho học sinh những em đọc yếu ngồi cạnh những em đọc khá, đọc tốt để đôi bạn cùng tiến. Tôi tiến hành công việc tiếp theo là giới thiệu cấu tạo chương trình môn tập đọc để các em nắm được các chủ đề chính trong từng học kì và cả năm học. Đồng thời nêu tầm quan trọng, yêu cầu cơ bản về việc rèn luyện kỹ năng đọc diễn cảm giúp các em cảm thụ bài văn, bài thơ của từng chủ đề. Hướng dẫn mỗi em đóng một quyển sổ để ghi những câu, những đoạn, bài văn, bài thơ hay có giá trị về nội dung và nghệ thuật.

3.2. Chuẩn bị của giáo viên và học sinh

a) Đối với giáo viên

- Trước hết muốn rèn cho học sinh đọc thành tiếng đúng thì giáo viên phải đọc hay (đọc diễn cảm). Để đạt được yêu cầu trên thì giáo viên phải rèn luyện bản thân mình đọc đúng, đọc hay. Không cho phép giáo viên dạy Tập đọc mà lại đọc chưa chuẩn. Trước khi soạn bài giáo viên phải đọc bài nhiều lần, đọc thể hiện được cảm xúc của tác giả khi viết bài văn đó. Dành quỹ thời gian cho việc soạn bài và thiết kế các hoạt động cụ thể của cô trò ở từng đoạn của bài. Cô phải chú ý đến khâu rèn đọc cho học sinh, chú ý đến đối tượng học sinh đọc kém. Nhất là những tiết luyện đọc ở buổi hai. Giáo viên phải nên sửa, rèn dứt điểm cho học sinh phát âm sai ở từng cặp phụ âm mà em đó hay phát âm sai hoặc đọc chưa đúng.

- Tham khảo nội dung sách hướng dẫn giảng dạy để lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức học tập cho phù hợp với đối tượng của lớp mình.

- Sưu tầm đồ dùng dạy học, tranh ảnh minh hoạ phục vụ cho bài dạy

để học sinh hứng thú học tập tiếp thu bài sâu hơn.

- Chú ý đến yêu cầu của phân môn tập đọc: Đó là rèn đọc, rèn đọc càng nhiều càng tốt.

b) Đối với học sinh

Trước khi học bài tập đọc, tôi dặn học sinh đọc nhiều lần ở nhà cho trôi chảy và chuẩn bị trước phần câu hỏi, tìm hiểu nội dung bài trong sách giáo khoa, đề ra các yêu cầu phù hợp với từng đối tượng học sinh.

3.3. Tiến hành rèn đọc đúng và đọc diễn cảm

3.3.1. Rèn luyện đọc đúng tiếng, từ, câu

Khi học sinh đọc sai, tôi đã phân loại lỗi đọc, đoán biết trước nguyên nhân để có cách sửa thích hợp nhằm đảm bảo tính khoa học.

Cụ thể:

a) Học sinh đọc sai tiếng. Trường hợp này học sinh thường sai ở lỗi phát âm hoặc đọc sai do không nhìn kĩ vần, đọc quá nhanh nên dẫn đến đọc sai từ, thêm hoặc bớt từ.

* Trường hợp sai phụ âm đầu (thông thường là n-l): tôi yêu cầu đọc lại và gợi ý sửa lỗi phát âm (có thể phải mô tả hoạt động của các cơ quan phát âm và phát âm mẫu để học sinh làm theo), chỉ cần học sinh nhận biết được cách phát âm và có ý thức phát âm đúng, chưa đòi hỏi phải sửa ngay được lỗi mắc.

Ví dụ: Các em hay phát âm sai n/l, tôi nói khi phát âm “n”: đầu lưỡi thẳng (vì nó là âm tắc), “l”: đầu lưỡi cong lên. Sau đó phát âm mẫu để học sinh nhìn - nghe đọc lại. Tôi cũng động viên học sinh đó luyện đọc các từ có phụ âm đầu là n-l, 1 tuần sau sẽ nghe đọc xem tiến bộ đến đâu. Chẳng hạn:

- Luyện phát âm đúng “n” trong các từ sau:

na ná, nao núng, nấu nướng, nem nép, nết na, nền nã, nâng niu, nóng nực, nuôi nấng, nơp nớp, nao núng, nao nức, năng nổ, nắn nót, não nùng, non nước, nồng nàn, nung nấu, nặng nề, nấn ná, ...

- Luyện phát âm đúng âm “l” trong các từ:

la liệt, lạc lõng, lanh lảnh, lảnh lót, lành lặn, lấp lánh, là lượt, lẳng lặng, lẫn lộn, lập loè, lấp ló, lả lướt, lầy lội, la lối, lừng lẫy, làm lụng, lạnh lẽo, lặc lè, lỏng lẻo, lóng lánh, lung linh, lửng lơ, lấm la lấm lét, lấp la lấp lánh, ...

- Luyện cả “n”“l”.

náo loạn, nảy lửa, nói lại, nới lỏng, nước lửa, nức lòng, làng nước, làm nũng, lão nông, lâu năm, lên nước, lưu niên, ...

* Trường hợp sai do đọc theo thói quen, không nhìn kĩ vần, đọc quá nhanh. Tôi tập cho các em tính cẩn thận hơn, bình tĩnh hơn khi đọc bài, nhìn kĩ từ ngữ khi đọc cho chính xác hơn.

Ví dụ: Bài Bốn anh tài (Tiếng Việt tập 2 trang 4) có câu: “Dân bản đặt tên cho chú là Cẩu Khây.” Học sinh đã đọc sai “Cẩu Khây” thành “Cẩy Khây”, tôi đã yêu cầu nhìn lại vần để đọc cho đúng.

b) Học sinh đọc sai từ (đọc tách rời các tiếng trong từ phức), tôi giúp học sinh nhận biết được nghĩa của từ để có cách đọc đúng.

Ví dụ: Bài Trống đồng Đông Sơn (Tiếng Việt tập 2 trang 17), trong bài có câu: “Đó là con người thuần, hậu hiền hòa, mang tính nhân bản sâu sắc.”

Học sinh đã đọc tách rời “nhân – bản”, tôi đã nói: nhân bản là từ ghép có nghĩa là yêu thương và đề cao con người nên cần đọc liền để đúng nghĩa.

c) Học sinh đọc sai câu (ngắt nghỉ hơi không đúng chỗ, đọc sai ngữ điệu, …), tôi gợi ý để HS nhận ra chỗ sai, tự tìm ra được cách đọc phù hợp.

Cụ thể: Việc ngắt nghỉ hơi phải phù hợp với dấu câu: nghỉ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu hơn ở dấu chấm, dấu hai chấm. Đối với những bài văn xuôi, khi đọc ngoài việc tìm những dấu câu đặc biệt (câu hỏi, câu cảm, câu khiến) để hướng dẫn học sinh đọc đúng, tôi còn chú trọng đến việc ngắt hơi ở những chỗ không có dấu câu nhưng là những chỗ tách ý, tôi đã dựa vào nghĩa và quan hệ ngữ pháp để xác định đúng cách ngắt lấy hơi đúng. Đối với những bài thơ cần ngắt nhịp đúng. Với bài thơ lục bát, nhịp thơ phổ biến là 2/4, 4/2, 3/5, 2/6. Dòng thơ 7 chữ nhịp thơ thường là 2/5, 5/2, 3/4, 4/3. Dòng thơ 5 chữ nhịp thơ thường là 2/3, 3/2.

Ví dụ: Bài Chợ Tết (Tiếng Việt tập 2 trang 38)

Dải mây trắng/ đỏ dần trên đỉnh núi

Sương hồng nam/ ôm ấp nóc nhà gianh

Trên con đường/ viền trắng mép đồi xanh

Người các ấp/ tưng bừng ra chợ Tết

Họ vui vẻ /kéo hàng trên cỏ biếc

3.3.2. Rèn luyện đọc diễn cảm

Đối với phần đọc diễn cảm thì sau phần tìm hiểu bài, tôi yêu cầu học sinh đọc thật tốt một đoạn nhằm “ thăm dò” khả năng thể hiện sự cảm nhận nội dung bằng giọng đọc của học sinh.

- Qua giọng đọc của học sinh, tôi dẫn dắt, gợi ý để các em phát huy ưu điểm , khắc phục những hạn chế và tự tìm ra cách đọc hợp lí

Ví dụ: Bài Khúc hát ru những em bé lớn lên trên lưng mẹ (Tiếng Việt tập 2 trang 48)

“....Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi

Em ngủ cho ngoan/ đừng rời lưng mẹ

Mẹ giã gạo/ mẹ nuôi bộ đội

Nhịp chày nghiêng/ giấc ngủ em nghiêng

Mồ hôi mẹ rơi/ má em nóng hổi

Vai mẹ gầy/ nhấp nhô làm gối .”

Bài đọc nói lên tình yêu của người mẹ Tà - ôi đối với con và đối với cách mạng khi đọc bài các em đọc với giọng như thế nào? Vậy để thể hiện tốt điều này chúng ta cần nhấn giọng vào những từ ngữ nào?

- Có thể tôi đọc mẫu nhằm minh họa, gợi ý hoặc “ tạo tình huống” cho học sinh nhận xét, giải thích, tự tìm ra cách đọc .

Ví dụ: Bài Tre Việt Nam (Tiếng Việt tập 1 trang 41)

Tôi đọc mẫu, yêu cầu học sinh: Nghe và phát hiện cách đọc của cô (ngắt nhịp ở chỗ nào, nhấn giọng hay cao giọng, kéo dài giọng ở từ ngữ nào?...Vì sao khi đọc câu thơ có dấu chấm hỏi cô chỉ cần nhấn giọng ở các từ “ lũy, thành” mà không cần đọc cao giọng ở tiếng cuối câu hỏi?....

...Thân gầy guộc, lá mong manh /

Mà sao nên lũy nên thành tre ơi ?

Sau đó tôi cho học sinh thực hành luyện đọc diễn cảm (theo cặp, theo nhóm) để các em tự rút kinh nghiệm cho mình, hình thành kĩ năng nhận xét và tự nhận xét. Tiếp theo tổ chức thi đọc diễn cảm trước lớp để các em học tập lẫn nhau và được giáo viên động viên, uốn nắn .

Tuy nhiên, trước khi dạy bài đọc tôi cần tìm hiểu kĩ bài dạy xem bài Tập đọc đó là văn bản nghệ thuật hay là phi nghệ thuật.

a) Đối với văn bản nghệ thuật

Tôi hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm thông qua dẫn dắt, gợi mở giúp các em thể hiện tình cảm, thái độ qua giọng đọc phù hợp với sự việc, hình ảnh, cảm xúc, tính cách nhân vật trong bài ... Cụ thể là:

* Học sinh bước đầu biết làm chủ giọng đọc, nhấn giọng những từ gợi tả, gợi cảm, từ ngữ chìa khóa làm nổi bật ý chính trong câu.

Ví dụ: Bài Con sẻ (Tiếng Việt tập 2 trang 90)

“ Bỗng từ trên cây cao gần đó, một con sẻ già có bọ ức đen nhánh lao xuống như hòn đá rơi trước mõm con chó. Lông sẻ già dựng ngược, miệng rít lên tuyệt vọng và thảm thiết. Nó nhảy hai ba bước về phía cái miệng há rộng đầy răng của con chó .

Sẻ già lao đến cứu con, lấy thân mình phủ kín sẻ con. Giọng nó yếu ớt nhưng hung dữkhản đặc ...”

Khi đọc đoạn 2, đoạn 3, tôi gợi ý HS “Hình ảnh sẻ mẹ lao xuống lấy thân mình che trở cho con” được tác giả miêu tả rất sinh động, khi đọc đoạn này các em cần nhấn giọng vào những từ ngữ nào?

Học sinh biết nhấn giọng vào những từ gợi tả hành động, dáng vẻ của sẻ già khi lao xuống cứu con.

* Học sinh biết thể hiện ngữ điệu, sự thay đổi tốc độ, cao độ, cường độ, trường độ ... phù hợp với từng loại câu kể, câu hỏi, cảm cảm, câu khiến

Ví dụ: Bài Ga- vrốt ngoài chiến lũy (Tiếng Việt tập 2 trang 80)

Khi đọc đoạn miêu tả chi tiết thể hiện lòng dũng cảm của Ga- vrốt, giáo viên lưu ý học sinh sự thay đổi giọng đọc như sau :

- Cậu làm trò gì đấy? - Cuốc - phây - rắc hỏi (Câu hỏi thể hiện sự ngạc nhiên)

  • Em nhặt cho đầy giỏ đây! (Câu cảm thể hiện sự bình tĩnh)

-Cậu không thấy đạn réo à?(Câu hỏi như nhắc nhở Ga- vrốt không được liều mình)

-Ga - vrốt trả lời :

-Có chứ nó rơi như mưa ấy. Nhưng làm sao nào? (Khi đọc lên giọng ở câu hỏi thể hiện sự hồn nhiên)

  • Cuốc- phây- rắc thét lên
  • Vào ngay! (Câu khiến thể hiện sự đề nghị, mệnh lệnh kèm sự lo lắng)

-Tí ti thôi! - Ga - vrốt nói (thể hiện sự tinh nghịnh)

Trong đoạn đọc diễn cảm tôi cũng lưu ý học sinh: Đối với bài văn xuôi ngoài việc đọc tốt các câu chúng ta còn phải biết ngắt hơi ở chỗ không có dấu câu nhưng chỗ đó là chỗ tách ý .

Ví dụ: Bài Con sẻ (Tiếng Việt tập 2 trang 90)

HS ngắt câu dài “ Chợt / nó dừng chân và bắt đầu bò, tuồng như đánh hơi thấy vật gì.” hoặc câu “ Bỗng / từ trên cây cao gần đó, một con sẻ già có bộ ức đen nhánh lao xuống như hòn đá / rơi trước mõm con chó .”

* Tôi hướng dẫn học sinh đọc phân biệt lời kể của tác giả với lời nhân vật. Đọc phân biệt lời của các nhân vật sao cho phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và tính cách của từng nhân vật (ngườu già, trẻ em, người tốt, người xấu ...)

Ví dụ: Bài Khuất phục tên cướp biển (Tiếng Việt tập 2 trang 66)

Trong bài đọc có 2 nhân vật chính là Bác sĩ Ly - một người nhân hậu, điềm đạm nhưng nghiêm nghị, cương quyết và tên cướp biển - chúa tàu hung hãn, dữ tợn .

Trước khi học sinh đọc diễn cảm, tôi yêu cầu các em cần tìm hiểu bài thật kĩ. Khi đó học sinh đọc lời nhân vật sẽ phân biệt được giọng đọc dựa vào tính cách nhân vật (người tốt, người xấu).

Trong bài cùng là câu hỏi nhưng trong đoạn đối thoại sau, tính cách của hai nhân vật thể hiện khác nhau hoàn toàn.

Chúa tàu trừng mắt nhìn Bác sĩ, quát :

- Có câm mồm không? (đọc giọng thể hiện sự hung hãn của tên cướp khi đập tay xuống bàn quát Bác sĩ Ly)

Bác sĩ điềm tĩnh hỏi :

- Anh bảo tôi phải không?(giọng tự tin, điềm tĩnh nhưng hết sức nghiêm nghị).

Khi tên chúa tàu cục cằn bảo “phải”, bác sĩ nói :

- Anh cứ uống rượu mãi như thế thì đến phải tống anh đi nơi khác .

Cơn giận của tên cướp thật dữ dội. Hắn đứng phắt dậy, rút soạt dao ra, lăm lăm chực đâm. Bác sĩ Ly vẫn dõng dạc quả quyết :

- Nếu anh không cất dao, tôi quyết làm cho anh bị treo cổ trong phiên tòa sắp tới. ( giọng đọc bình tĩnh, cương quyết bảo vệ lẽ phải )

* Ngoài ra tôi giúp học sinh thể hiện ngữ điệu phù hợp tình huống miêu tả hay thái độ cảm xúc của tác giả (vui, buồn, nghiêm trang, giận giữ ...)

Ví dụ: Bài Con sẻ (Tiếng Việt tập 2 trang 90)

Khi đọc đoạn cuối miêu tả tình cảm của tác giả đối với con chim sẻ bé nhỏ “ Vâng, lòng tôi đầy thán phục, xin bạn đừng cười. Tôi kính cẩn nghiêng mình trước con chim sẻ bé bỏng dũng cảm kia, trước tình yêu của nó.”

HS đọc đoạn với giọng vui, nhấn giọng một số từ ngữ gạch chân thể hiện sự trân trọng, kính phục của tác giả đối với tình yêu của sẻ mẹ đối với sẻ con .

Tuy nhiên học sinh đọc diễn cảm như thế nào còn phụ thuộc vào sự cảm nhận riêng của từng em. Tôi không áp đặt cho các em một cách đọc theo khuôn mẫu.

b) Đối với loại hình văn bản phi nghệ thuật

Tôi hướng dẫn HS xác định được ngữ điệu đọc phù hợp với mục đích thông báo, làm rõ những thông tin cơ bản, giúp người nghe tiếp nhận được những vấn đề quan trọng hay nổi bật trong văn bản. Điều này giúp cho HS khắc phục được những cách đọc thiên về hình thức hoặc diễn cảm tùy tiện.

Ví dụ: Bài Vẽ về cuộc sống an toàn (Tiếng Việt tập 2 trang 54)

Học sinh biết đọc đúng bản tin (thông báo tin vui) đọc rõ ràng, rành mạch vui tốc độ khá nhanh, lưu ý ngắt nghỉ hơi đúng sau các dấu câu, nghỉ hơi tự nhiên, tách các cụm từ trong những câu khá dài .

“ UNICEF Việt Nam và báo Thiếu niên Tiền phong / vừa tổng kết cuộc thi vẽ tranh của thiếu nhi với chủ đề / “ Em muốn sống an toàn”

Để học sinh lớp 4 từng bước hình thành kĩ năng đọc diễn cảm, tôi đọc mẫu, giúp học sinh luyện tập thể hiện sự cảm nhận về nội dung, ý nghĩa của bài qua giọng đọc. Ngoài việc thống nhất cách đọc chung, mỗi học sinh có cảm thụ riêng, từ đó có cách dọc diễn cảm bộc lộ sự sáng tạo. Để phát huy tính sáng tạo của học sinh khi đọc diễn cảm tôi tổ chức cho học sinh luyện tập “ tự bộc lộ”

(trên cơ sở đọc mẫu của giáo viên và kết quả tìm hiểu bài) qua đó tôi điều chỉnh cách đọc cho học sinh, tránh phân tích quá chi tiết về cách đọc. (Ví dụ: Xác định chỗ ngắt hơi, cao giọng, thấp giọng ...) rồi sau đó mới chuyển sang luyện đọc và dọc theo một cách giống hệt nhau.

Khi học sinh luyện đọc tôi tạo được trong lớp một không khí thoải mái để học sinh dễ trực cảm với bài văn, có tâm trạng chờ đợi và chú ý nghe giáo viên đọc và cũng từ đó các em có thể học tập và bắt chước thầy.

Trong khi rèn đọc diễn cảm tôi thường xuyên chú ý đến những học sinh rụt rè nhút nhát, tôi thường xuyên khuyến khích không gắt gỏng để các em luống cuống.

Đối với học sinh nghịch ngợm phân tán tư tưởng, không chú ý đến tiết học, tôi thường để ý thỉnh thoảng chỉ định các em đọc tiếp.

Đối với học sinh đọc ấp úng, ngoài việc hướng dẫn đọc dứt khoát từng từ, cụm từ, với câu dài cho học sinh ngắt hơi đúng chủ đề ra yêu cầu rèn đọc ở nhà, kiểm tra lại những yêu cầu đã đề ra đối với học sinh, việc này phải được tiến hành thường xuyên không được ngắt quãng.

Cuối mỗi tiết học tôi thường tổ chức thi đọc diễn cảm để các em thi nhau thể hiện giọng đọc của mình. Qua đó học sinh được đánh giá, nhận xét cách đọc, giọng đọc của bạn để rút kinh nghiệm cho bản thân.

Tóm lại, sau mỗi giờ tập đọc tôi thường kiểm tra chất lượng đọc của học sinh thông qua đọc thành tiếng xem các em đã đọc diễn cảm chưa và nhắc nhở các em về nhà tiếp tục luyện đọc.

4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:

Qua quá trình giảng dạy, nhờ đã kiên trì bên bỉ áp dụng những biện pháp rèn đọc như đã nêu trên, tôi đã tiến hành khảo sát lần 2 vào tháng 2 năm 2017, lớp tôi chủ nhiệm, tôi thấy tỷ lệ học sinh đọc tốt đã có nhiều chuyển biến so với kết quả khảo sát đầu năm học. Cụ thể kết quả như sau:

Kĩ năng đọc

Số lượng

Tỉ lệ %

Ghi chú

Đọc nhỏ, ấp úng, phát âm

chưa chuẩn

2

6,3

Đôi khi đọc sai từ

Đọc to nhưng còn sai từ

(thêm - bớt từ)

4

12,6

Đôi khi đọc quá nhanh

Đọc to, lưu loát, rõ ràng

nhưng chưa diễn cảm

12

37,5

Đôi khi chưa phân biệt được giọng đọc

Đọc to, lưu loát, rõ ràng, diễn cảm tương đối tốt

14

43,8

Đôi khi chưa nhấn từ đúng

Qua kết quả khảo sát và số liệu ghi chép, tôi rất phấn khởi thấy trong các giờ tập đọc học sinh say mê học và lớp học sôi nổi, kỹ năng đọc diễn cảm được nâng cao rõ rệt. Có nhiều em đầu năm học đọc nhỏ , chưa trôi chảy, đến giữa học kì 2 các em đã đọc to, rõ ràng, lưu loát hơn. Những em đọc to lưu loát nhưng chưa diễn cảm thì đã đọc diễn cảm bài văn theo đúng yêu cầu đề ra. Tuy kết quả chưa được mỹ mãn như ý nhưng đó cũng là thành công bước đầu nghiên cứu, tìm ra biện pháp rèn đọc diễn cảm cho học sinh của mình.

III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kết luận

Muốn nâng cao chất lượng hiệu quả của các giờ dạy Tập đọc để học sinh đọc đúng đọc hay bước đầu cảm thụ được cái hay cái đẹp trong bài văn, bài thơ thì khâu luyện đọc- rèn đọc đúng có vai trò rất quan trọng. Học sinh có đọc đúng mới hiểu đúng nội dung, mới diễn tả được cảm xúc của mình. Để làm tốt việc rèn đọc cho học sinh lớp 4 trong phân môn Tập đọc người giáo viên phải làm tốt những việc sau:

- Mỗi giáo viên phải mẫu mực trong lời nói, việc làm, say sưa yêu nghề yêu trẻ, yêu trường lớp.

- Phải luôn nghiên cứu tìm hiểu về nội dung kiến thức, phương pháp bộ môn, nắm chắc hệ thống chương trình. Người giáo viên phải thường xuyên tự bồi dưỡng nâng cao trình độ, luôn cập nhật những thông tin, những đổi mới về phương pháp giảng dạy.

- Giáo viên phải nhận thức đúng vai trò chức năng ở phân môn Tập đọc. Trước hết giáo viên phải rèn cho mình đọc đúng, đọc hay, đọc diễn cảm mọi bài tập đọc trong cấp học nói chung, các bài tập đọc lớp 4 nói riêng. Phải đầu tư quĩ thời gian cho khâu chuẩn bị bài, xây dựng tổ chức các hoạt động cho học sinh trên lớp học.

- Giáo viên phải kiên trì, thường xuyên rèn cho học sinh theo các bước:

+ Luyện học sinh phát âm đúng các phụ âm khó đọc hay sai.

+ Luyện đọc đúng các cụm từ, ngắt nghỉ đúng.

+ Ngắt nghỉ đúng ở các câu văn, khổ thơ.

+ Luyện đọc mức độ từ thấp đến cao với học sinh chậm tiến.

+ Luyện cho học sinh biết lên giọng, hạ giọng, nhấn giọng ở câu văn, thể hiện tính cách nhân vật hoặc giọng vui, buồn trong các văn bản với giọng đọc, ngữ điệu, tốc độ đọc, âm sắc, nhằm diễn tả đúng nội dung bài.

+ Đối với những học sinh đọc sai, rèn dứt điểm ở tiết đọc và tiết luyện đọc ở buổi hai.

+ Nhiều học sinh được tham gia đọc và nhận xét bạn đọc.

- Luôn động viên khích lệ gây hứng thú học tập, đọc đối với học sinh yếu kém, phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh.

- Vận dụng phương pháp giảng dạy phù hợp với đối tượng học sinh lớp mình. Cử chỉ giáo viên, lời nói ngắn gọn dễ hiểu hướng học sinh thao tác tư duy chủ động.

Tóm lại, để rèn đọc đúng, đọc diễn cảm cho học sinh, người gióa viên phải có lòng yêu nghề, mến trẻ. Việc đọc đúng sẽ giúp cho học sinh tự tin hơn trong học tập, không chỉ riêng môn Tiếng Việt mà tất cả các môn học khác đều cần đọc đúng, khả năng đọc thầm nhanh, nắm bắt thông tin chính xác sẽ giúp các em học ngày càng tốt hơn.

2. Kiến nghị

a. Về phía học sinh

Học sinh phải chuẩn bị bài thật tốt ở nhà, đọc nhiều lần đối với học sinh đọc chưa tốt trước khi đến lớp.

b. Về phía nhà trường

- Nhà trường cần trao đổi với tổ chuyên môn nghiên cứu kĩ chương trình từ đó đề xuất thời lượng, thời gian học cho phù hợp với học sinh, thường xuyên tổ chức các chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học Tập đọc. Tăng cường tổ chức giao lư­u học hỏi giữa các giáo viên trong trường và trường bạn…

- Tổ khối quan tâm bồi dưỡng thường xuyên hơn nữa những giáo viên năng lực còn hạn chế nhất là khâu đọc của giáo viên.

- Hội thảo trao đổi những kinh nghiệm cho đồng nghiệp học tập ở cấp trường, cấp cụm, cấp huyện.

Trên đây là một số suy nghĩ và việc làm cụ thể của tôi về vấn đề rèn đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4 Trường Tiểu học A Châu Giang. Với phương pháp rèn đọc này sẽ có tiền đề để tiếp tục dạy môn tập đọc ở lớp 5 và các lớp trên đạt kết quả tốt.

Vì thời gian có hạn nên sáng kiến này sẽ không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Rất mong được sự đóng góp của bạn bè đồng nghiệp, Ban lãnh đạo nhà trường và các cấp quản lý để sáng kiến của tôi được hoàn thiện hơn, góp phần nâng cao chất lượng học tập của học sinh và nâng cao chất lượng giảng dạy cho giáo viên.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Châu Giang, ngày 2 tháng 3 năm 2017

Người viết

Hoàng Thị Hải

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Số thứ tự

Tên tài liệu

Tên tác giả; Nhà xuất bản

1

Cơ sở ngôn ngữ và Tiếng Việt.

Mai Ngọc Chừ - Hoàng Trọng Phiếm - NXB GD

2

Giải đáp 88 câu hỏi về giảng dạy Tiếng Việt ở tiểu học

Trần Mạnh Hưởng - Lê Hữu Tỉnh - NXB GD

3

Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học

Lê Phương Nga - Lê Hữu Tỉnh - NXB ĐHSP Hà Nội 1

4

Phương pháp dạy học Tiếng Việt

Nguyễn Trí - NXB GD

5

SGK Tiếng Việt lớp 4

NXB GD

6

SGV Tiếng Việt lớp 4

NXB GD

7

Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở Tiểu học

NXB GD

MỤC LỤC

Nội dung

Trang

I/ Lí do chọn đề tài

3

1. Lí do chọn đề tài

3

2. Mục đích nghiên cứu

4

3. Đối tượng nghiên cứu

4

4. Phương pháp nghiên cứu

4

5. Phạm vi giới hạn nghiên cứu

4

II/ Nội dung

5

1. Cơ sở lí luận

5

2. Cơ sở thực tiễn

5

3. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề

7

3.1. Phân loại học sinh

7

3.2. Chuẩn bị của giáo viên và học sinh

7

3.3. Tiến hành rèn đọc đúng và đọc diễn cảm

7

4. Hiệu quả của việc áp dụng sáng kiến vào thực tiễn

14

III/ Kết luận và kiến nghị

14

1. Kết luận

14

2. Kiến nghị

15

Tác giả: Hoàng Thị Hải

Xem thêm



Văn nghệ chào mừng khai giảng năm học 2017 - 2018
Hội thi HĐNGLL