tin tức-sự kiện

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM: MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG LÀM BÀI TẬP LÀM VĂN THỂ LOẠI MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 5

I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1. Lí do chọn đề tài

Dạy tốt phân môn Tập làm văn nói chung và kiểu bài văn miêu tả nói riêng là vấn đề được nhiều giáo viên tiểu học quan tâm. Chương trình thay sách tiểu học phát huy bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết trong môn Tiếng Việt. Học sinh tiểu học ngay từ lớp 1, 2, 3 đã được tiếp xúc với nhiều dạng văn bản khác nhau, có nội dung gần gũi trong cuộc sống và kĩ năng giao tiếp của các em với cộng đồng. Đó là một ưu điểm không ai phủ nhận. Tuy nhiên, chương trình mới chuyển tải sự thay đổi cả về nội dung và kỹ năng rèn luyện lẫn hình thức, biện pháp và quy trình lên lớp. Là giáo viên, nhất là giáo viên dạy lớp 4, 5 không ai tránh khỏi những trăn trở, băn khoăn là làm thế nào giúp học sinh rèn luyện tốt kỹ năng làm bài Tập làm văn, nhất là văn miêu tả.

Qua thực tế giảng dạy tại trường Tiểu học A Châu Giang, tôi nhận thấy phân môn Tập làm văn là phân môn khó nhất trong các phân môn của môn Tiếng Việt. Để thực hiện được mục tiêu của phân môn Tập làm văn là phải xây dựng được kĩ năng nói và viết thành thạo, các em cần huy động tất cả các kiến thức của các phân môn Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Kể chuyện,…Trong khi đó, các em tiếp thu chậm thì rất “ngán” học phân môn này.

Với học sinh lớp Năm, việc rèn kĩ năng làm văn miêu tả cho các em là cần thiết. Học tốt thể loại văn miêu tả sẽ là điều kiện thuận lợi để học tốt các môn học khác ở Tiểu học và học tiếp lên các lớp trên. Việc giúp các em hoàn thành tốt bài văn miêu tả sẽ góp phần nâng cao năng lực cảm thụ văn học mà còn giúp các em khám phá được những cái đẹp qua việc xây dựng văn bản.

Nhằm góp phần đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường nói chung, dạy cho học sinh lớp 5 học tốt văn miêu tả nói riêng, tôi đã chọn đề tài: “Một số biện pháp rèn kĩ năng làm bài Tập làm văn thể loại miêu tả cho học sinh lớp 5.”

2. Mục đích nghiên cứu

- Giúp học sinh lớp 5 làm tốt các bài Tập làm văn thể loại miêu tả.

3. Đối tượng nghiên cứu:

Học sinh lớp 5A Trường Tiểu học A Châu Giang.

4. Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
  • Phương pháp quan sát
  • Phương pháp thống kê phân loại
  • Phương pháp thử nghiệm sư phạm
  • Phương pháp thực hành
  • Phương pháp đối chứng

5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Nội dung phân môn Tập làm văn lớp 5 thể loại miêu tả

II. NỘI DUNG

  1. Cơ sở lí luận

Tiếng Việt là tiếng phổ thông của dân tộc Việt Nam. Trong nhà trường Tiểu học, Tiếng Việt là đối tượng mà học sinh cần chiếm lĩnh. Đồng thời, cũng là một môn học được gọi là môn Tiếng Việt. Môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học có nhiệm vụ hình thành và phát triển cho học sinh các kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết để học tập và giao tiếp trong môi trường hoạt động, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy. Môn Tiếng Việt còn cung cấp cho học sinh những kiến thức ban đầu về tiếng Việt. Học tập môn này, học sinh còn được bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt, hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam.

Trong chương trình Tiểu học mới, môn Tiếng Việt được chia thành các phân môn, mỗi phân môn có nhiệm vụ rèn luyện cho học sinh những kĩ năng nhất định. Phân môn Tập làm văn là một phân môn mang tính tổng hợp và sáng tạo cao. Nó tổng hợp các kiến thức, kĩ năng từ Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu,... để viết nên một bài Tập làm văn. Theo quan điểm tích hợp, các phân môn được tập hợp lại xung quanh trục chủ điểm và các bài đọc. Nó có nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn luyện kĩ năng gắn bó chặt chẽ với nhau. Như vậy, muốn dạy- học có hiệu quả Tập làm văn miêu tả (tả cảnh, tả người) nhất thiết người giáo viên phải dạy tốt Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu. Vì trong các bài đọc, trong câu chuyện, trong các bài tập luyện từ và câu thường xuất hiện các đoạn văn, khổ thơ có nội dung miêu tả rất rõ về cảnh vật, thiên nhiên, con người,...

Bài Tập làm văn nếu không sáng tạo sẽ trở thành một bài văn khô cứng, góp nhặt của người khác, nội dung bài văn sẽ không hồn nhiên, trong sáng, mới mẻ như tâm hồn của các tác giả nhỏ tuổi.

Chất lượng Tập làm văn là chất lượng của cảm thụ văn học, của các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng mẹ đẻ. Cho nên, thầy và trò phải soạn giảng và học tập tích cực, nghiêm túc, hiệu quả, mới mong nâng cao một cách bền vững chất lượng môn Tiếng Việt ở lớp cuối cấp Tiểu học.

2. Cơ sở thực tiễn

2.1. Thực trạng

a) Giáo viên:

- Việc vận dụng dạy học tích hợp chưa được giáo viên vận dụng triệt để nên lượng kiến thức, kĩ năng cung cấp cho các em trong một tiết Tập làm văn thường rất lớn, nhiều lúc dẫn đến tình trạng quá tải trong tiết học.

- Giáo viên đã có nhiều cố gắng trong việc đổi mới phương pháp dạy học nhưng đôi khi cũng ngại không dám “thoát li” các gợi ý của sách giáo khoa, sách tham khảo vì sợ sai và không đủ thời gian cho một tiết học.

b) Học sinh:

- Học sinh chưa vận dụng được các kiến thức, kĩ năng đã học trong các phân môn của Tiếng Việt, của các môn học khác, của các lớp dưới vào học tập môn Tập làm văn. Chẳng hạn, khi dạy cho học sinh cấu tạo một bài văn tả cảnh, giáo viên cần hướng dẫn các em tìm hiểu văn bản mẫu để rút ra nhận xét. Trong khi đó, nếu dựa trên kiến thức đã học về văn miêu tả ở lớp Bốn để hình thành cho các em cấu tạo bài văn tả cảnh ở lớp Năm rõ ràng là nhanh hơn.

- Học sinh của tôi đa số là học sinh không có năng khiếu về làm văn. Với đối tượng này, việc học tập của các em còn gặp một số khó khăn sau:

+ Tiếng Việt là tiếng nói để giao tiếp của các em nhưng vốn Tiếng Việt lại rất hạn chế. Trong khi đó, việc học kiểu bài miêu tả trong phân môn Tập làm văn lớp Năm lại yêu cầu vốn từ ngữ, năng lực tư duy rất lớn. Vốn từ của các em chưa phong phú, chưa hiểu hết nghĩa của từ nên việc vận dụng vào bài làm còn nhiều sai sót.

+ Chương trình Tiếng Việt có rất nhiều ưu điểm trong việc phát huy sáng tạo của học sinh nhưng lại tương đối nặng đối với đối tượng học sinh tiếp thu chậm.

+ Trong các lớp vẫn còn rải rác một số học sinh cá biệt, có học sinh đọc chưa thông, viết chưa thạo. Đây là một trở ngại lớn cho việc dạy học tập làm văn cho các em. Với những học sinh này, yêu cầu đặt từng câu văn rời rạc còn khó, nói gì đến việc hướng dẫn các em đặt một đoạn văn theo cầu.

+ Kĩ năng làm văn miêu tả của các em học sinh yếu hầu như không có. Các em chưa biết cách quan sát, thực hiện làm một bài văn miêu tả chưa đúng quy trình, chưa biết cách chọn lọc các chi tiết miêu tả đặc sắc để đưa vào bài văn, làm cho bài văn thành “một mớ hỗn độn” của các chi tiết hoặc là thành “một bản liệt kê” với rất nhiều chi tiết.

- Với học sinh có năng khiếu việc dạy học tập làm văn cũng gặp một số tồn tại sau:

+ Do trong lớp có nhiều đối tượng học sinh nên giáo viên thường sử dụng phương pháp làm mẫu để tạo đà giúp học sinh tiếp thu chậm làm văn. Phương pháp này giúp học sinh yếu có thể làm được bài bằng những gợi ý. Tuy nhiên, một số học sinh học được lại thường hay bắt chước các câu, đoạn văn mẫu nên nhiều bài làm có các câu, đoạn giống nhau.

+ Có sự chênh lệch rất lớn về trình độ của học sinh năng khiếu và học sinh tiếp thu chậm nên giáo viên rất khó sử dụng các phương pháp “hiện đại” để có thể thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục. Nếu chú ý đến học sinh năng khiếu thì sẽ bỏ qua học sinh chậm. Nhưng nếu tập trung vào học sinh chậm, kiên trì với đối tượng này đạt được yêu cầu bài văn thì lại ảnh hưởng đến sự phát triển của số học sinh có năng khiếu.

+ Học văn thể loại miêu tả, làm văn miêu tả nhưng nhiều học sinh lại thiếu vốn sống thực tế nên dẫn đến một số tình huống hay gặp trong dạy học văn miêu tả như: Học sinh không biết làm bài nên bỏ giấy trắng hoặc làm bài văn rất ngắn khoảng 4, 5 dòng; các em sử dụng các gợi ý của giáo viên hay sử dụng các đoạn văn mẫu để viết.

+ Một khó khăn nữa là nhiều học sinh viết chữ chưa đẹp, nếu không nói là rất xấu, sai chính tả. Nhiều bài văn có chữ viết lem nhem, đầy vết bẩn. Với một bài văn đầy lỗi chính tả, tẩy xoá thì việc đọc lại bài, trau chuốt câu văn, sửa ý, sửa từ quả là khó khăn, gian khổ.

c) Cha mẹ học sinh:

Cha mẹ các em hầu như ít quan tâm đến việc học hành của các em do phải vất vả với việc đồng áng, mưu sinh, do nhận thức chưa đúng về giáo dục, do hiểu biết và trình độ còn hạn chế,…

3. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề

3.1. Điều tra phân loại học sinh

Tôi điều tra, phân loại, nắm chắc từng đối tượng học sinh: năng khiếu, tiếp thu chậm và học sinh cá biệt. Nắm chắc được đối tượng học sinh, tôi sẽ đề ra kế hoạch dạy học phù hợp, có những biện pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh. Đồng thời, tạo điều kiện tốt nhất góp phần phụ đạo học sinh tiếp thu chậm biết làm văn miêu tả, có thể vận dụng làm được một bài văn hoàn chỉnh.

3.2. Giúp học sinh xác định yêu cầu trọng tâm đề bài

Bài văn của học sinh được viết theo một đề bài cụ thể, cho nên yêu cầu hàng đầu là các em phải viết đúng đề bài. Một đề bài đưa ra cho học sinh viết thường ẩn chứa đến 3 yêu cầu: yêu cầu về thể loại (kiểu bài), yêu cầu về nội dung, yêu cầu về trọng tâm.

Ví dụ: Đề bài ở tuần 4 lớp 5:

“Tả cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều) trong một vườn cây (hay trong công viên, trên đường phố, trên cánh đồng, nương rẫy).

Khi xác định yêu cầu trọng tâm của đề bài, tôi giúp học sinh hiểu được rằng việc viết đúng yêu cầu của đề bài là yếu tố quyết định nội dung bài viết:

Với đề bài trên, ẩn chứa 3 yêu cầu sau:

a. Yêu cầu về thể loại của đề là: Miêu tả (thể hiện ở từ “Tả”).

b. Yêu cầu về nội dung là: Buổi sáng (hoặc trưa, chiều) thể hiện ở cụm từ “cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều)”.

c. Yêu cầu về trọng tâm là: Ở trong một vườn cây (hay trong công viên...).

Trong thực tế, không phải đề bài nào cũng xác định đủ 3 yêu cầu. Như đề bài “Tả một cơn mưa” chỉ có yêu cầu về thể loại và nội dung. Với đề bài này, tôi giúp học sinh tự xác định thêm yêu cầu về trọng tâm của bài viết. Chẳng hạn “Tả một cơn mưa khi em đang trên đường đi học”...

Việc xác định đúng trọng tâm của đề sẽ giúp cho bài viết được thu hẹp nên các em có được ý cụ thể, chính xác, tránh việc viết tràn lan, chung chung,...

3.3. Giúp học sinh nắm đặc điểm của từng kiểu bài miêu tả

Tôi giúp học sinh biết dùng lời văn phù hợp với yêu cầu về nội dung và thể loại cho trước, khi luyện tập. Tôi cũng lưu ý nhắc nhở các em nắm vững các đặc điểm của mỗi thể loại, mỗi dạng bài và xác định đối tượng miêu tả. Trong mỗi bài văn phải thể hiện cái mới cái hay, cái riêng và cảm xúc của mình.

3.3.1. Kiểu bài tả cảnh: Cần xác định các yêu cầu sau:

a. Xác định không gian, thời gian nhất định

Sau khi xác định thời gian, không gian nhất định học sinh cần biết lựa chọn trình tự quan sát. Việc quan sát có thể tiến hành ở những vị trí khác nhau nhưng vẫn phải có một vị trí chủ yếu làm cho cảnh được quan sát bộc lộ ra những điều cơ bản nhất của nó. Khi đã xác định được vị trí quan sát rồi, ta nên có cái nhìn bao quát toàn cảnh đồng thời phải biết phân chia cảnh ra thành từng mảng, từng phần để quan sát.

b. Xác định trình tự miêu tả

Khi tả phải xác định một trình tự miêu tả phù hợp với cảnh được tả. Tả từ trên xuống hay từ dưới lên, từ phải sang trái hay từ ngoài vào trong... là tuỳ thuộc đặc điểm của cảnh.

c. Chọn nét tiêu biểu:

Chỉ nên chọn nét tiêu biểu nhất của cảnh để tả, tập trung làm nổi bật đặc điểm đó lên, có thể tả xen hoạt động của người, của vật, ... trong cảnh để góp phần làm cho cảnh sinh động hơn, đẹp hơn.

d. Tả cảnh gắn với cảm xúc riêng bằng nhiều giác quan

Tả cảnh luôn luôn gắn với cảm xúc của người viết. Cảnh vật mang theo trong nó cuộc sống riêng với những đặc điểm riêng. Con người cảm nhận cảnh như thế nào sẽ đem đến cho cảnh những tình cảm như thế. Nhà thơ Lê Anh Xuân, trong niềm vui của ngày Tổ quốc hoàn toàn thống nhất, đất nước thoát khỏi ách ngoại xâm, bằng tâm trạng hạnh phúc nhất, ông đã thốt lên:

“Bỗng thấy nội tôi trẻ lại

Như thời con gái tuổi đôi mươi.”

Đây chính là phần hồn của cảnh. Cảnh không có hồn sẽ trơ trọi, thiếu sức sống.

e. Chọn từ ngữ thích hợp khi tả cảnh

Khi làm văn miêu tả cần biết lựa chọn từ ngữ gợi tả, dùng hình ảnh so sánh hoặc nhân hoá để làm nổi bật đặc điểm cảnh đang tả giúp người đọc như đang đứng trước cảnh đó và cảm nhận được những tình cảm của người viết.

* Ví dụ : Để học sinh hiểu rõ điều tôi nói, tôi trích một số câu trong bài văn tả cảnh: “Chiều tối” của Phạm Đức (Sách Tiếng Việt 5- tập 1- trang 22): “Nắng bắt đầu rút lên những chòm cây cao, rồi nhạt dần và như hoà lẫn với ánh sáng trắng nhợt cuối cùng.”

Ta thấy câu văn miêu tả sự chuyển hoá của ánh sáng từ “nhạt dần” rồi “hoà lẫn” với “ánh sáng trắng nhợt”.

Tác giả cũng đã dùng mắt để quan sát sự biến đổi của ánh sáng và bóng tối, đã dùng tai để nghe tiếng dế và dùng mũi để cảm nhận hương vườn và cũng đã sử dụng nghệ thuật nhân hoá làm cho câu văn sinh động một cách rất tinh tế, khi viết: “Bóng tối như bức màn mỏng, như thứ bụi xốp, mờ đen phủ dần lên mọi vật.” “Một vài tiếng dế gáy sớm, vẻ thăm dò, chờ đợi.”; “ Trong im ắng, hương vườn thơm thoảng bắt đầu rón rén bước ra và tung tăng trong ngọn gió nhẹ, nhảy trên cỏ, trườn theo những thân cành.”

3.3.2. Kiểu bài tả người

Khi miêu tả người, yếu tố quan sát lại càng quan trọng. Nhìn chung, mọi người đều có những đặc điểm giống nhau nhưng lại hoàn toàn khác nhau ở những đặc điểm riêng, chỉ người đó mới có. Nhiệm vụ của giáo viên khi hướng dẫn học sinh “miêu tả người” là giúp cho các em thấy rằng phải miêu tả ngắn gọn mà chân thực, sinh động về hình ảnh và hoạt động của người mình tả.

Ví dụ:

Trong bài văn “Người thợ rèn” (SGK lớp 5- tập 1- trang 123). Tác giả miêu tả người thợ rèn đang làm việc:

“Anh bắt lấy thỏi thép hồng như bắt lấy một con cá sống. Dưới những nhát búa hăm hở của anh, con cá lửa ấy vùng vẫy, quằn quại, giãy lên đành đạch.”

Ta thấy tác giả quan sát rất kĩ và miêu tả sinh động làm nổi bật hình ảnh người thợ rèn như một người chinh phục dũng mãnh và thấy rõ quá trình biến thỏi thép thành một lưỡi rựa.

Vì thế, để làm được bài văn tả người thành công, tôi đã giúp học sinh xác định các yêu cầu sau:

a. Chú ý tả ngoại hình hoạt động

Khi tả người cần chú ý đến tuổi tác, mỗi lứa tuổi khác nhau sẽ có sự phát triển về cơ thể, về tâm lý riêng biệt khác nhau và có những hành động thể hiện theo giới tính, thói quen sinh hoạt, hoàn cảnh sống…. Khi miêu tả cần tập trung vào việc làm sao nêu được cái chung và cái riêng của người được miêu tả.

b. Quan sát trò chuyện trực tiếp

Khi tả người, điều cần nhất là quan sát trực tiếp hoặc trò chuyện, trao đổi ý kiến với người đó. Quan sát khuôn mặt, dáng đi, nghe giọng nói, xem xét cách nói, cử chỉ, thao tác lúc làm việc…để rút ra nét nổi bật... (chọn và quan sát người định tả trong thời gian chuẩn bị bài mới ở nhà). Ta cũng cần dùng cách quan sát gián tiếp là thông qua trí nhớ hoặc nhận xét của một người khác về người định tả để bổ sung những thông tin cần thiết.

c. Tả kết hợp ngoại hình, tính nết, hoạt động

Khi miêu tả có thể tách riêng từng mặt,từng bộ phận để tả nhưng để nội dung bài văn miêu tả đạt được sự gắn bó, súc tích ta nên kết hợp tả ngoại hình, tính nết đan xen với tả hoạt động.

d. Tả những nét tiêu biểu bằng tình cảm chân thật của mình

Khi tả người, điều quan trọng là cần tả chân thật những nét tiêu biểu về người đó, không cần phải tô điểm người mình tả bằng những hình ảnh hoa mĩ, vẽ nên một hình ảnh toàn diện. Làm như vậy bài văn sẽ trở nên khuôn sáo, thiếu sự chân thật làm người đọc cảm thấy khó chịu. Tôi luôn lưu ý cho học sinh rằng, trong mỗi con người ai cũng có chỗ khiếm khuyết nhưng nét đẹp thì bao giờ cũng nhiều hơn (đẹp về hình thể, đẹp về tính cách, đẹp về tâm hồn…) Nếu các em phát hiện, cảm nhận được và biết tả hết các đặc điểm đó thì sẽ làm cho bài văn miêu tả của các em sinh động, hồn nhiên đầy cảm xúc và người đọc dễ chấp nhận hơn.

Ví dụ:

Trong bài văn tả “Cô Chấm” (sách Tiếng Việt 5- tập 1- trang 156) nhà văn Đào Vũ đã viết: “Chấm không phải là cô con gái đẹp, nhưng là người mà ai đã gặp thì không thể lẫn lộn với bất cứ một người nào khác.” “Chấm cứ như một cây xương rồng. Cây xương rồng chặt ngang chặt dọc, chỉ cần cắm nó xuống đất, đất cằn cũng được, nó sẽ sống và sẽ lớn lên. Chấm thì cần cơm và lao động để sống .”; “Chấm mộc mạc như hòn đất. Hòn đất ấy bầu bạn với nắng với mưa để cho cây lúa mọc lên hết vụ này qua vụ khác, hết năm này qua năm khác...”

3.4. Rèn cho học sinh kĩ năng quan sát

Miêu tả là vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi bật của cảnh, của người để giúp người nghe, người đọc hình dung được các đối tượng ấy. (Tiếng Việt 4 tập 1, trang 140 chương trình cũ), tức là lấy câu văn để biểu hiện các đặc tính, chân tướng sự vật, giúp người đọc như được nhìn tận mắt, sờ tận tay vào sự vật miêu tả. Vì vậy, khi dạy văn miêu tả, tôi hướng dẫn học sinh quan sát và miêu tả theo các trình tự hợp lý sau:

a. Tả theo trình tự không gian

Quan sát toàn bộ trước rồi đến quan sát từng bộ phận, tả từ xa đến gần, từ ngoài vào trong, từ trái qua phải,... (hoặc ngược lại).

Ví dụ 1:

Tả từ ngoài vào trong: “ Đền Thượng nằm chót vót trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh. Trước đền, những khóm hải đường đâm bông rực đỏ, những cánh bướm nhiều màu sắc bay dập dờn như đang múa quạt xoè hoa. Trong đền dòng chữ vàng Nam Quốc Sơn Hà uy nghiêm đề ở bức hoành phi treo chính giữa.”

Ví dụ 2:

Tả từ dưới lên trên “ Cây hồi thẳng, cao, tròn xoe. Cành hồi giòn, dễ gãy hơn cành khế. Quả hồi phơi mình xoè trên mặt lá đầu cành.” (Rừng hồi xứ Lạng)

b. Tả theo trình tự thời gian

Cái gì xảy ra trước (có trước) thì miêu tả trước. Cái gì xảy ra sau (có sau) thì miêu tả sau. Trình tự này thường được vận dụng khi làm Tập làm văn miêu tả cảnh vật hay tả cảnh sinh hoạt của người .

Ví dụ 1:

“...Buổi chiều, xe dừng lại ở một thị trấn nhỏ. Nắng phố huyện vàng hoe. Những em bé Hmông, những em bé Tu Dí, Phù Lá cổ đeo móng hổ, quần áo sặc sỡ đang chơi đùa trước cửa hàng. Hoàng hôn, áp phiên của phiên chợ thị trấn, người ngựa dập dìu chìm trong sương núi tím nhạt” (Đường đi Sa Pa- Hướng dẫn học Tiếng Việt 4- Tập 2B).

Ví dụ 2:

“Thảo quả trên rừng Đản Khao đã chín nục. Chẳng có thứ quả nào hương thơm lại ngây ngất kì lạ đến như thế. Mới đầu xuân năm kia, những hạt thảo quả gieo trên đất rừng qua một năm, đã lớn cao đến bụng người. Một năm sau nữa, từ một thân lẻ, thảo quả đâm thêm hai nhánh mới. Sự sinh sôi sao mà mạnh mẽ vậy.” (Mùa thảo quả - Tiếng Việt 5 – Tập 1)

c. Tả theo trình tự tâm lí:

Khi quan sát cần thấy những đặc điểm riêng, nổi bật nhất, thu hút và gây cảm xúc mạnh nhất đến bản thân thì quan sát trước, tả trước, các bộ phận khác tả sau. Khi miêu tả đồ vật, loài vật, tả người nên vận dụng trình tự này nhưng chỉ nên tả những điểm đặc trưng nhất, không cần phải tả đầy đủ chi tiết như nhau của đối tượng.

Ví dụ 1:

“ Bà tôi ngồi cạnh tôi chải đầu. Tóc bà đen và dày kì lạ, phủ kín cả hai vai, xoã xuống ngực, xuống đầu gối. Một tay khẽ nâng mớ tóc lên và ướm trên tay, bà đưa một cách khó khăn chiếc lược thưa bằng gỗ vào mớ tóc dày.

Giọng bà trầm bỗng, ngân nga như tiếng chuông. Nó khắc sâu vào trí nhớ tôi dễ dàng, và như những đoá hoa, cũng dịu dàng, rực rỡ, đầy nhựa sống. Khi bà mỉm cười, hai con ngươi đen sẫm nở ra long lanh, dịu hiền khó tả,...” (Bà tôi - Tiếng Việt 5- Tập 1).

Tác giả đã quan sát và tập trung tả mái tóc, giọng nói rồi đến ánh mắt. Mái tóc “dày kì lạ”.

Ví dụ 2:

“Sầu riêng là loại trái quý ở miền Nam. Hương vị của nó hết sức đặc biệt, mùi thơm đậm, bay rất xa... Hoa sầu riêng trổ vào cuối năm... Hoa đậu từng chùm màu trắng ngà. Đứng ngắm cây sầu riêng, tôi cứ nghĩ mãi về dáng cây kì lạ này. Thân nó khẳng khiu, cao vút, cành ngay thẳng đuột...”.(Hướng dẫn học Tiếng Việt 4- Tập 2A)

Tác giả đã tả nét đặc sắc nhất của quả, hoa và dáng cây sầu riêng.

Ngoài các trình tự miêu tả trên, tôi hướng dẫn và rèn luyện cho học sinh kĩ năng sử dụng các giác quan (thính giác, thị giác, xúc giác, vị giác,...) để quan sát, cảm nhận sự vật, hiện tượng miêu tả.

Ví dụ 3:

Phân tích bài “Mưa rào” (Tiếng Việt 5- Tập 1- Trang 33) ta thấy tác giả đã quan sát bằng các giác quan như sau:

Thị giác: Thấy những đám mây biến đổi trước cơn mưa, thấy mưa rơi.

Xúc giác: Gió bỗng thấy mát lạnh, nhuốm hơi nước.

Khứu giác: Biết được mùi nồng ngai ngái, xa lạ man mác của những trận mưa đầu mùa.

Thính giác: Nghe thấy tiếng gió thổi, tiếng mưa rơi, tiếng sấm, tiếng hót của chào mào.

3.5. Chọn đề tài gần gũi, quen thuộc với học sinh

Học sinh tiểu học vùng thuận lợi nói chung có thể viết được những bài văn miêu tả chỉ bằng quan sát qua tranh ảnh, phim,…Nhưng đối với học sinh yếu của trường tôi, những đề tài xa lạ là điều cần tránh.. Các em đến trường học tập bằng ngôn ngữ Tiếng Việt tương đối hạn hẹp mà giáo viên lại yêu cầu các em hình dung, tưởng tượng rồi đặt câu, viết một bài văn miêu tả hoàn chỉnh với một đối tượng mà các em chưa nhìn thấy bao giờ thì đúng là điều quá sức đối với các em.

Ví dụ: (Đề bài trong sách giáo khoa Tiếng Việt 5- tập 2- trang 134): Tả một khu vui chơi, giải trí mà em thích.

Với những đề bài như thế này, tôi mạnh dạn thay bằng đề bài khác (thông qua buổi sinh hoạt chuyên môn của tổ)

Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là không cho học sinh có cơ hội phát huy trí tưởng tượng của mình. Trong một lớp học có nhiều đối tượng học sinh như lớp tôi, khi ra đề bài cho các em, tôi luôn tạo cho các em quyền lựa chọn bằng cách ra nhiều đề bài (từ 2 đến 4 đề) để các đối tượng trong lớp đều có thể tự do chọn đề bài thích hợp cho mình, tránh áp đặt cho các em.

Ví dụ: Khi ra đề bài tả người cho các em làm bài kiểm ta viết, tôi chọn bốn đề bài sau:

a) Tả một người thân trong gia đình em.

b) Tả một người bạn cùng lớp hoặc người bạn thân gần nhà em.

c) Tả một ca sĩ hay một nghệ sĩ hài mà em yêu thích.

d) Tả thầy giáo hoặc cô giáo mà em kính mến.

Với bốn đề bài trên, các em có thể chọn đối tượng miêu tả là một nhân vật quen thuộc, gần gũi. Nhưng với một vài học sinh khác, các em cũng có thể chọn tả ca sĩ đang biểu diễn với rất nhiều chi tiết sống động mà các em đã có dịp quan sát trên ti vi qua các chương trình ca nhạc hoặc phim ảnh.

3.6. Hướng dẫn học sinh lập dàn ý

Khi học sinh đã được cung cấp những từ ngữ miêu tả rồi, tôi tổ chức, hướng dẫn cho các em lập dàn ý, lựa chọn sắp xếp ý để miêu tả. Muốn lập được dàn ý, tôi phải hướng dẫn học sinh hai công việc chính đó là chọn lọc ý và sắp xếp thành dàn ý. Những điều các em quan sát thu thập được bao gồm cả thô lẫn tinh. Điều quan trọng khi lập dàn ý là các em biết lựa chọn tinh và loại bỏ thô. Tôi định hướng cho các em đâu là trọng tâm đâu là thứ yếu.

Ví dụ: Khi tả hồ sen thì trọng tâm là tả hồ, tả sen còn cảnh bầu trời, cảnh vật quanh hồ là phụ. Các em cần biết sắp xếp nội dung theo từng phần dàn ý có thể là theo thứ tự không gian hoặc thứ thự thời gian.

Với học sinh tiếp thu chậm tôi cho học sinh lập dàn ý theo mức độ từ dễ đến khó.

Mức độ 1: Lập dàn ý dựa trên kết quả quan sát và câu hỏi định hướng.

Mức độ 2: Lập dàn ý dựa trên kết quả quan sát.

3.7. Làm giàu vốn từ cho học sinh

Tôi có biện pháp làm giàu vốn từ ngữ cho học sinh qua từng bài đọc, từng bài tập ở các môn Tập đọc, Kể chuyện, Luyện từ- câu cùng chủ điểm.

Tạo cho học sinh thói quen quan sát, đánh giá, nhìn nhận một sự vật, một cảnh vật hay một con người nào đó và thể hiện những điều đã quan sát và đánh giá được bằng vốn từ ngữ, ngôn ngữ của mình, kịp thời điều chỉnh những lỗi về dùng từ, viết câu, làm văn...

a. Bài tập làm giàu vốn từ cho học sinh thông qua các phân môn của môn Tiếng Việt:

Phân môn Tập đọc tôi giúp các em hiểu được nội dung của các đoạn văn, khổ thơ có ý nghĩa miêu tả (cảnh vật, con người,...). Mỗi tiết dạy Tập đọc tôi thêm một vài câu hỏi về thể loại, bố cục và trình tự miêu tả của tác giả để học sinh thấm dần về Tập làm văn miêu tả.

Phân môn Luyện từ và câu tôi giúp học sinh làm giàu vốn từ nhiều nhất khi dạy các tiết Mở rộng vốn từ vì trong các tiết này có các bài tập mở rộng vốn từ rất cụ thể, thiết thực như tìm từ, ghép từ, phát hiện từ miêu tả, dùng từ đặt câu, sắp xếp các từ thành nhóm miêu tả như nhóm từ ngữ miêu tả ngoại hình, nhóm từ ngữ miêu tả đặc điểm cảnh vật, nhóm miêu tả hoạt động,...

Ở phân môn Tập làm văn, tôi giúp học sinh làm giàu vốn từ theo các đề tài nhỏ:

Ví dụ 1: Từ thường dùng khi làm bài văn tả cảnh

- Từ gợi tả âm thanh : bì bọp, ì ọp, ì ầm, xôn xao, ào ào...

- Từ gợi tả hình ảnh: thẳng cánh cò bay, vòi vọi, thăm thẳm,…

Ví dụ 2:Ví dụ: Từ thường dùng khi làm bài văn tả người:

Tả hình dáng:

- Tả thân hình, dáng người: Cao, lùn, gầy gò, ốm yếu, nho nhỏ, nhỏ thó, tầm thước, xương xương, mảnh khảnh, dong dỏnh, thon thả, đẫy đà, yểu điệu, béo phệ, mập mạp, lực lưỡng, vạm vỡ, trẻ trung, quắc thước, cân đối, gầy guộc, mảnh mai, cường tráng, bệnh hoạn, tiều tuỵ, lụ khụ, uể oải, bụ bẫm…

- Tả khuôn mặt, diện mạo: Bầu bĩnh, trẻ măng, hồng hào, đen sạm, rám nắng, xanh xao, tái met, xanh tái như chàm, không còn chút máu, vuông vắn, vuông chữ điền, trái xoan, hốc hác, vô tư, đần độn, thông minh sáng sủa, khôi ngô, khả ái, xấu xí, rỗ như tổ ong, tươi tỉnh, niềm nở, hớn hở, ủ rũ, cau có, bơ phờ, hung tợn, ngờ nghệch khờ khạo, lầm lì, là lạ, đạo mạo, thơ ngây, nhăn nheo, thờ thẫn, đăm chiêu, thiểu não, hiền hậu, dễ thương,…

- Tả làn da: Nhăn nheo, xanh như tàu lá, bạch tạng, trắng nõn, trắng trẻo, nõn nà, mịn màng, chai cứng, nứt nẻ, có nhiều vết xẹo, sần sùi, tái mét, xanh xao, xanh lét, hồng hào, đỏ thắm, mốc thếch, đen sạm, da bánh mật, ngăm ngăm, ngăm đen, đen đủi,…

- Tả mắt: Đen huyền, đen láy, trong sang, u buồn, thâm quầng, trắng đục, đỏ ngầu, mù loà, sang, lồi, tròn vo,xếch, một mí, mất ốc bươu, trao tráo, ti hí, mắt bồ câu,…

- Tả cái nhìn của đôi mắt: Đăm đắm, đắm đuối, dáo dác, trìu mến, mơ màng, chòng chọc, chăm chú, ngơ ngác, hằn học,…

Tả tính tình:

- Diễn tả tính cách: Nóng nảy, khoác lác, ba hoa, nham hiểm, xảo quyệt, tham lam, ích kỉ, ưa giễu cợt, cau có, gắt gỏng, hấp tấp, khắt khe, láu táu, ít nói, nhã nhặn, bạo dạn, vị tha, hời hợt,lười nhác, lì lợm, trầm tính, đứng đắn, thật thà, ôn hoà, hiền hậu, vui vẻ, nhút nhát, nghiêm nghị, dè dặt, siêng năng, thận trọng, lỗ mãng,…

- Diễn tả thái độ: Vui sướng, hớn hở, hân hoan, hả hê, thoả thích, sảng khoái, khoái chí, vui nhộn, vui đáo để, vui mừng, đắc chí,…

b. Sử dụng từ ngữ trong miêu tả:

Sau khi học sinh đã có một vốn từ nhất định, tôi giúp học sinh các cách sử dụng vốn từ trong miêu tả như: sử dụng từ láy, sử dụng tính từ tuyệt đối (đỏ mọng, đặc sệt, trong suốt...), sử dụng các biện pháp nghệ thuật (so sánh, nhân hoá, ẩn dụ...).

Ví dụ 1: Cho các từ “ríu rít, líu lo, liếp chiếp, rộn ràng, tấp nập, là là, từ từ...”

Hãy chọn từ thích hợp điền vào chỗ trống trong đoạn văn sau: “Tiếng chim... báo hiệu một ngày mới bắt đầu. Ông mặt trời... nhô lên sau luỹ tre xanh. Khói bếp nhà ai... bay trong gió. Đàn gà con... gọi nhau,...theo chân mẹ. Đường làng đã... người qua lại.”

Ví dụ 2: Hãy chọn từ ngữ thích hợp trong ngoặc điền vào chỗ trống để được các câu văn có hình ảnh so sánh phù hợp nhất (tiếng chuông, chùm sao, thuỷ tinh, dải lụa, giọng bà tiên).

- Hoa xoan nở từng chùm trông giống như... ( những chùm sao )

- Nắng cứ như...xối xuống mặt đất. ( thuỷ tinh )

- Giọng bà trầm ấm ngân nga như... ( tiếng chuông )

Ở ví dụ 1 và ví dụ 2, cho số từ nhiều hơn số chỗ trống cần điền, buộc HS phải suy nghĩ kĩ hơn khi chọn từ.

3.8. Giúp học sinh luyện viết câu

Trước hết, mọi học sinh phải viết được câu văn đúng ngữ pháp. Đây là yêu cầu cơ bản (vì câu là đơn vị lời nói). Đối với học sinh có năng khiếu, tôi yêu cầu học sinh đặt câu đúng ngữ pháp, giàu hình ảnh, tạo được sắc thái riêng của đối tượng miêu tả. Đối với học sinh tiếp thu chậm, tôi hướng dẫn học sinh đặt được câu đúng, thể hiện được ý cần nói. Ví dụ: Miêu tả mái tóc của một bạn:

+ Với học sinh chậm: Tóc bạn Linh đen huyền.

+ Với học sinh học ở mức trung bình: Bạn Linh có mái tóc đen huyền, dài ngang vai.

+ Với học sinh năng khiếu: Linh có mái tóc đen huyền, óng ả, xoã ngang vai mà không thể lẫn lộn với bất cứ bạn nào trong lớp được.

Biết dùng dấu câu đúng, nhất là dấu chấm và dấu phẩy. Ngắt câu đúng sẽ diễn đạt rõ ràng, người đọc, người nghe dễ dàng tiếp nhận thông tin. Việc dạy cho các em sử dụng đúng dấu câu đã được tiến hành từ các lớp dưới và phải được thường xuyên ôn luyện, vì vậy khi dạy Tập làm văn, tôi vẫn thường xuyên đưa ra các trường hợp sử dụng dấu câu chưa đúng để cả lớp nhận xét. Ví dụ:

+ Trong lớp em ai cũng mến bạn Linh.

+ Cột cờ cao chót vót lá cờ đỏ sao vàng phấp phới tung bay.

+ Sân trường mát rượi bởi bóng của những cây bàng cây phượng.

Học sinh trao đổi, sửa chữa:

+ Trong lớp em, ai cũng mến bạn Linh.

+ Cột cờ cao chót vót, lá cờ đỏ sao vàng phấp phới tung bay.

+ Sân trường mát rượi bởi bóng của những cây bàng, cây phượng.

3.9. Hướng dẫn học sinh tích luỹ vốn kiến thức văn học

Tích luỹ văn học là điều kiện tối thiểu để học tốt môn Tiếng Việt, nhất là phân môn Tập làm văn. Tôi đã cho học sinh sử dụng sổ tay chính tả để ghi chép những tiếng khó, ghi những trường hợp mắc lỗi chính tả đã được sửa chữa. Trong phân môn Tập làm văn, đây cũng là một biện pháp tích cực để giúp học sinh trau dồi vốn kiến thức văn học. Sổ tay văn học dùng cho các em ghi chép các ý hay, các câu, đoạn văn hay. Việc ghi chép này không nhất thiết để cho học sinh khi làm văn sẽ mở ra sử dụng nhưng trước hết, qua mỗi lần ghi chép, các em sẽ được một lần đọc, ghi nhớ, bắt chước, lâu dần thành thói quen. Khi làm bài, những từ ngữ, hình ảnh, ý văn sẽ tự động tái hiện, giúp học sinh có thể vận dụng trong bài làm.

3.10. Hướng dẫn học sinh tìm hiểu, cảm nhận cái hay, cái đẹp của một đoạn văn

Hướng dẫn học sinh tìm hiểu để cảm nhận cái hay, cái đẹp qua việc đọc một đoạn văn được thầy cô tiến hành qua nhiều tiết học. Cảm nhận được cái hay, cái đẹp, các em sẽ hình thành được những cảm xúc thẩm mĩ, giúp cho việc học tập làm văn tốt hơn, nhất là văn miêu tả.

Để hướng dẫn tìm hiểu cảm nhận cái hay, cái đẹp của đoạn văn, tôi hướng dẫn các em hình thành thói quen suy nghĩ, tự đặt và ghi các câu hỏi xoay quanh nội dung đoạn văn. Kết quả học sinh có thể tự đặt các câu hỏi như:

+ Đoạn văn này miêu tả đặc điểm gì của nhân vật ?

+ Đoạn văn này dùng những từ láy nào để miêu tả hình ảnh của nhân vật?

+ Có thể dùng những hình ảnh so sánh nào cho đoạn văn ?...

3.11. Rèn kĩ năng sắp xếp, diễn đạt ý

Đề bài: Hãy miêu tả một người bạn thân của em.

Học sinh quan sát, viết nhanh ra giấy những điều mà mình quan sát được.

Ví dụ:

+ Bạn Phương Linh học chung lớp với em.

+ Bạn chơi thân với em từ năm học lớp Một.

+ Chúng em rất thân nhau.

+ Em sẽ cố gắng làm những điều thật tốt để tình bạn của chúng em mãi mãi bền lâu.

+ Những ngày bạn nghỉ học, em cảm thấy rất nhớ.

+ Bạn có nước da ngăm ngăm của một người con gái đồng quê.

+ Bạn hay phát biểu và hiểu bài rất nhanh nên được thầy và các bạn khen ngợi.

+ Bạn rất hay cười.

+ Mái tóc bạn không đen như tóc em nhưng dài hơn.

+ Bằng tuổi với em nhưng cao hơn em một cái đầu.

+ Phương Linh viết chữ rất đẹp. Bạn đã được chọn dự thi viết chữ đẹp vòng trường và đạt giải ba.

+ Mỗi khi bạn cười, hai lúm đồng tiền trên má hiện rõ trên khuôn mặt ngăm đen dễ thương.

+ Bạn không gây gỗ với ai bao giờ.

+ Thầy cô thường lấy bạn để làm gương.

Sau khi tìm ý, cho các em chọn và sắp sếp ý thành các đoạn Mở bài, Thân bài, Kết bài phù hợp.

Ví dụ:

* Đoạn mở bài:

Em và bạn Phương Linh chơi thân với nhau từ năm lớp Ba. Chúng em rất thân nhau. Đi học, em thường đi chung với bạn.

* Đoạn thân bài:

Bằng tuổi với em cao hơn em một cái đầu. Bạn có nước da ngăm ngăm của một người con gái đồng quê quen dầm mưa dãi nắng. Bạn rất hay cười, mỗi khi bạn cười, hai lúm đồng tiền trên má hiện rõ trên khuôn mặt ngăm đen dễ thương. Phương Linh có đôi mắt to rất đẹp với hàng lông mi dài, cong. Đôi mắt bạn luôn ánh lên ra vẻ hồn nhiên, chất phác. Mái tóc bạn không đen như tóc em nhưng dài hơn. Linh viết chữ rất đẹp, bạn đã được chọn dự thi viết chữ đẹp vòng trường và đạt giải Nhất. Cô thường lấy bạn ra làm gương cho chúng em noi theo để rèn chữ. Ở lớp, cô thường khen bạn hiểu bài rất nhanh. Em chưa thấy bạn nặng lời với ai bao giờ.

* Đoạn kết bài:

Mỗi khi vắng Phương Linh, nhất là những ngày bạn nghỉ học, em cảm thấy rất nhớ bạn. Em sẽ cố gắng làm những điều thật tốt để tình bạn của chúng em mãi mãi bền lâu.

Tôi lưu ý cho học sinh mục đích của từng đoạn văn. Đoạn mở bài có tác dụng giới thiệu cho người đọc, người nghe biết xuất xứ nhân vật. Đoạn thân bài là bức tranh vẽ bằng lời về hình dáng, đường nét, cử chỉ, hoạt động, tính nết của nhân vật. Có chọn được những chi tiết đặc sắc, tiêu biểu thì ta mới nhận ra nhân vật đó mang những cá tính riêng. Bạn học sinh trong bài là một học sinh vùng nông thôn với những đặc điểm riêng, cá tính riêng không lẫn lộn với bất cứ bạn học sinh nào khác. Đoạn kết bài mang đậm dấu ấn cá nhân của người viết. Không thể có đoạn kết bài chung cho mọi học sinh. Tôi hướng dẫn học sinh nêu được cảm xúc tự nhiên, chân thật, không sáo rỗng kiểu như: Em rất yêu quý bạn…

3.12. Cá thể hoá hoạt động dạy học

Quan tâm đến đối tượng học sinh học ở mức trung bình, chậm đồng thời vẫn đảm bảo phát triển năng lực cảm thụ văn học đối với học sinh có năng khiếu.

Ví dụ: Tả ngôi trường thân yêu của em

+ Bài làm của một học sinh có năng khiếu: Ngoài ngôi nhà thân yêu đã gắn bó với tuổi thơ của em thì trường em chính là ngôi nhà thứ hai. Đi đâu xa, em nhớ nhà và mỗi khi về nhà thì em lại nhớ đến ngôi trường thân yêu này.

+ Bài của một học sinh học ở mức trung bình: Nằm cạnh bên con đường làng trải đá là ngôi trường thân yêu của em.

+ Bài làm của một học sinh chậm: Mỗi ngày em thường cắp sách đến ngôi trường quen thuộc của em.

Khi học sinh đặt câu nêu cảm nghĩ của mình ở phần kết bài, tôi quan tâm đến từng em. Đối với học sinh học ở mức trung bình, chậm, tôi phải hướng dẫn cụ thể cho các em bằng những gợi ý như:

+ Em hãy nói tình cảm của mình đối với ngôi trường (yêu, ghét)? (Em rất yêu ngôi trường).

+ Em thể hiện tình yêu đó bằng những việc làm như thế nào? (Em trồng cây, chăm sóc bồn hoa để trường em ngày càng đẹp hơn hay: Em không bao giờ phá phách làm hỏng đồ đạc hay bẻ hoa của nhà trường)

Tuyệt đối tôi không hướng dẫn học sinh một cách đồng loạt để các em có những câu văn nghĩa chung chung như: “Cô giáo em có mái tóc đen huyền, mượt như nhung. Đôi mắt cô đen trong và sáng long lanh. Nước da của cô trắng mịn màng” hay “ Trường em mái ngói đỏ tươi. Cột cờ cao chót vót. Trên đỉnh cột cờ, lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới. Giờ ra chơi, các bạn ùa ra khỏi sân lớp như bầy ong vỡ tổ”

Tôi hướng dẫn để học sinh tìm ra những nét đặc sắc của cảnh. Những nét đặc sắc đó giúp người đọc hình dung được cảnh vật cụ thể mà không lẫn lộn với cảnh vật khác. Ví dụ: Để hướng dẫn học sinh tả ngôi trường thân yêu, tôi cho học sinh quan sát, tìm ý và chọn những chi tiết mà chỉ trường tôi mới có: “Ngôi trường của em không giống bất cứ một ngôi trường tiểu học nào. Đó là một ngôi trường kiên cố nằm ven con kênh nhỏ và cánh đồng lúa rộng bát ngát. Mùa nào cũng vậy, ngôi trường luôn nhận được những làn gió mát từ mặt kênh và cánh đồng đưa tới. Đây là ngôi trường thân yêu đã được xây dựng từ rất lâu rồi”.

3.13. Chấm bài và trả bài viết

Chương trình Tập làm văn lớp 5 có 3 tiết trả bài tả cảnh, 3 tiết trả bài tả người, 4 tiết trả bài kể chuyện, đồ vật, cây cối, con vật. Ta nhận thấy rằng có chấm bài chu đáo thì mới có tiết trả bài đạt hiệu quả.

a. Chấm bài:

Khi chấm bài Tập làm văn cho học sinh, mỗi bài tôi đọc qua một lượt để có cái nhìn chung về bố cục, về diễn đạt của học sinh, xem thử học sinh đã làm bài đúng thể loại, nội dung và trọng tâm bài viết chưa. Tôi ghi ra sổ chấm bài những chỗ hay, chưa hay hoặc sai những lỗi gì...của từng HS.

Khi chấm điểm xong cho cả lớp, tôi đánh giá chung kết quả bài làm của học sinh và rút ra những tiến bộ cần phát huy, và những thiếu sót cần sửa chữa bổ sung để chuẩn bị cho tiết trả bài sắp tới…..

b. Trả bài viết:

Nội dung, phương pháp lên lớp một tiết trả bài Tập làm văn viết lớp 5, theo sách giáo khoa xác định có 3 hoạt động chính:

1. Nghe thầy (cô) nhận xét chung về kết quả bài làm của lớp.

2. Chữa bài.

3. Đọc tham khảo các bài văn hay được thầy (cô) giáo khen để học tập và rút kinh nghiệm (Tiếng Việt 5- Tập 1- Trang 53).

Để tiết trả bài viết đạt hiệu quả, tôi lấy thông tin từ bài viết của học sinh (đã chấm và ghi ở sổ chấm bài) và thực hiện các hoạt động trả bài một cách bài bản, có linh hoạt tuỳ theo tình hình chất lượng Tập làm văn của lớp.

* Hoạt động 1: Nhận xét chung về bài làm của lớp gồm các bước sau:

Bước 1: Đánh giá việc nắm vững các yêu cầu của đề bài (ghi đề, học sinh đọc đề bài, xác định 3 yêu cầu: thể loại, nội dung và trọng tâm). Đánh giá tình hình làm bài của lớp về mặt nhận thức đề (số bài đã đạt 3 yêu cầu của đề, số bài chưa đạt hoặc đạt chưa đủ 3 yêu cầu. Biểu dương cá nhân, cả lớp...).

Bước 2: Đánh giá về nội dung bài viết (cho học sinh nêu dàn ý chung của kiểu bài tả cảnh, (tả người)… Đọc một vài đoạn văn đã chọn sẵn cho học sinh nghe và nhận xét, cuối cùng tôi đánh giá chung về nội dung đoạn văn đó.

* Hoạt động 2: Chữa bài:

Nội dung và cách thức thực hiện sửa chữa lỗi diễn đạt:

Việc sửa chữa lỗi diễn đạt dựa trên cơ sở bài làm của cả lớp mà trong quá trình chấm bài tôi đã ghi ra các câu có vấn đề về ngữ pháp, các lỗi chính tả … Đến lúc này tôi tổ chức, hướng dẫn cho học sinh nhận xét, sửa chữa. Định hướng như vậy sẽ giúp cho việc sửa chữa lỗi sát hợp và kịp thời uốn nắn kĩ năng diễn đạt cho lớp.

Hoạt động 2 này tiến hành theo 3 bước :

Bước 1: Tham gia chữa lỗi chung cho cả lớp:

Ví dụ:

Tiết trả bài viết số 1(tả cảnh, tuần 5): Trọng tâm sửa lỗi là dùng từ và thực trạng viết câu.

Bước 2: Học sinh đọc lại bài làm của mình, chú ý những chỗ mực đỏ ghi lời khen, chê của cô giáo. (Ví dụ: câu hay, đoạn hay, hoặc lỗi dùng từ, lỗi viết câu, lỗi chính tả…)

Bước 3: Học sinh tự chữa bài vào vở tập làm văn.

* Hoạt động 3:

Đọc tham khảo một số đoạn, hoặc vài bài văn hay của một số em cho cả lớp nghe để học tập và rút kinh nghiệm.

4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm

Qua những biện pháp và giải pháp tôi đã áp dụng được nêu ở trên, đến cuối học kì I năm học 2017 – 2018, các em đã nắm được một số vốn kiến thức nhất định để học có hiệu quả phân môn Tập làm văn. Cả lớp đều ham thích môn học, không sợ sệt khi đến tiết Tập làm văn như đầu năm học nữa. Bài làm của các em đa số đã có tiến bộ, học sinh nắm được cách sắp xếp ý, bố cục chặt chẽ, dùng từ chính xác, viết câu văn trôi chảy, mạch lạc, bước đầu có hình ảnh, cảm xúc, hiểu và vận dụng khá tốt các biện pháp tu từ trong các bài tập làm văn của mình. Đặc biệt các em rất tự tin khi đến tiết học Tập làm văn.

Diễn biến các bài kiểm tra

Thời điểm

Tổng số

HS

Sắp xếp ý phù hợp

Bố cục chặt chẽ

Dùng từ ngữ có hình ảnh

Câu văn sinh động

SL

TL

SL

TL

SL

TL

SL

TL

Khảo sát đầu năm

30

10

33,3%

10

33,3%

5

16,7%

2

6,6%

Giữa học kì I

30

20

66,6%

20

66,6%

15

50%

15

50%

Cuối học kì I

30

25

83,5%

25

83,5%

20

66,6%

20

66,6%

Diễn biến chất lượng các bài kiểm tra Tập làm văn sau khi áp dụng đề tài này thật đáng phấn khởi, đây là kết quả của một quá trình phấn đấu của cô giáo và học sinh lớp 5A trường Tiểu học A Châu Giang. Chất lượng phân môn Tập làm văn đi lên rõ rệt đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt của lớp và của tổ chuyên môn.

III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kết luận

Sau một thời gian áp dụng vào thực tế giảng dạy ở lớp Năm, qua các kết quả kiểm tra cho thấy, đề tài đã thu được một số kết quả nhất định. Học sinh có những chuyển biến rõ rệt trong việc học kiểu bài miêu tả của chương trình Tập làm văn lớp Năm. Đồng thời, bản thân tôi cũng rút ra được một số bài học kinh nghiệm như sau:

- Trước hết, người thầy phải luôn có lòng yêu nghề, yêu người, có ý thức trách nhiệm và tinh thần cầu tiến, không ngừng học hỏi và mạnh dạn áp dụng những cái mới vào trong thực tiễn giảng dạy.

- Giáo viên phải nắm vững đối tượng học sinh, hiểu rõ trình độ và năng lực, hoàn cảnh và sở thích của từng em cũng như tâm sinh lí lứa tuổi các em. Phân loại được học sinh, người thầy mới có thể áp dụng những phương pháp dạy học phù hợp với từng nhóm đối tượng học sinh, từng cá thể học sinh.

- Giáo viên phải thường xuyên nghiên cứu, dự giờ đồng nghiệp, tham dự đầy đủ các lớp tập huấn chuyên môn…để nắm bắt những thông tin về nội dung, phương pháp của chương trình môn Tiếng Việt. Từ đó, giáo viên mới có thể lập một kế hoạch bài học cho mình một cách khoa học, có sự tích hợp giữa kiến thức các môn học với nhau.

- Dạy tập làm văn theo quan điểm tích hợp kiến thức, kĩ năng giữa bài trước với bài sau, giữa các phân môn Tiếng Việt với nhau, giữa lớp dưới với lớp trên.

- Sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nhằm khuyến khích học sinh bộc lộ trí tuệ và cảm xúc của mình trong các ngôn bản mà các em tạo lập như:

+ Phương pháp phân tích ngôn ngữ: Trên cơ sở các văn bản mẫu, học sinh khai thác, nhận biết kết cấu bài văn, trình tự miêu tả.

+ Phương pháp trực quan: Học sinh phải được quan sát đối tượng miêu tả. Các em có quan sát đối tượng trên thực tế ở lớp hoặc ở nhà, quan sát qua phim ảnh. Vận dụng công nghệ thông tin trong dạy học, tạo điều kiện cho các em quan sát những đối tượng mà ở địa phương không có để mở rộng hiểu biết cho các em.

+ Phương pháp rèn luyện theo mẫu: Dựa vào văn bản mẫu, học sinh tạo lập các văn bản mới theo nét riêng của các em.

+ Phương pháp thực hành giao tiếp: Tạo điều kiện cho mọi đối tượng học sinh được trình bày sản phẩm của mình, được tranh luận để tìm ra cái mới.

2. Kiến nghị

Để dạy học có hiệu quả Tập làm văn ở Tiểu học (nhất là văn miêu tả ở lớp 5) tôi xin có mấy đề nghị sau :

a. Về phía nhà trường

Cần tổ chức cho các lớp khối 4,5 trong trường thao giảng, hội giảng các tiết Tập làm văn thể loại miêu tả để rút kinh nghiệm chung, nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy phân môn Tập làm văn nói chung và kiểu bài văn miêu tả nói riêng.

b. Đối với đồng nghiệp dạy lớp 4, 5

Thầy, cô giáo cần phải đầu tư hơn nữa về phương pháp và biện pháp cho mỗi giờ học phân môn Tập làm văn (từng thể loại, từng kiểu bài cụ thể) để từng bước giúp các em nắm vững kiến thức, chủ động nói lên những suy nghĩ hồn nhiên của mình; nói đúng, nói hay, làm giàu thêm vốn từ ngữ và giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt.

Trên đây là một số suy nghĩ và việc làm cụ thể của tôi về vấn đề giúp học sinh lớp 5 học tập có hiệu quả phân môn Tập làm văn thể loại miêu tả cho học sinh lớp 5 Trường Tiểu học A Châu Giang. Với phương pháp này sẽ có tiền đề để tiếp tục dạy phân môn Tập làm văn ở lớp 5 và các lớp trên đạt kết quả tốt.

Vì thời gian có hạn nên sáng kiến này sẽ không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Rất mong được sự đóng góp của bạn bè đồng nghiệp, Ban lãnh đạo nhà trường và các cấp quản lý để sáng kiến của tôi được hoàn thiện hơn, góp phần nâng cao chất lượng học tập của học sinh và nâng cao chất lượng giảng dạy cho giáo viên.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Châu Giang, ngày 15 tháng 3 năm 2018

Người viết

Hoàng Thị Hải

Tác giả: Hoàng Thị Hải

Xem thêm



Văn nghệ chào mừng khai giảng năm học 2017 - 2018
Hội thi HĐNGLL