tin tức-sự kiện

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM DẠY TẬP LÀM VĂN LỚP 4

A. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.

Dạy học Tiếng Việt trong trường Tiểu học nói chung và dạy phân môn Tập làm văn nói riêng là một vấn đề vô cùng quan trọng. Tập làm văn là phân môn có vị trí quan trọng trong quá trình luyện tập cho học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt làm công cụ giao tiếp và tư duy. Tập làm văn nối tiếp một cách tự nhiên những bài học khác trong môn Tiếng Việt; là sự thể hiện những kĩ năng sản sinh văn bản (nói và viết), củng cố các kĩ năng tiếp nhận văn bản (nghe, viết) cho học sinh. Tập làm văn góp phần rèn luyện tư duy vì muốn viết văn hay, học sinh phải biết sắp xếp bố cục, chi tiết hợp lí, lập luận chặt chẽ, lô gic, vận dụng trí tưởng tượng, khả năng so sánh để viết được câu văn có hình ảnh. Mặt khác với bất kì đối tượng phản ánh nào, mỗi học sinh đều có cách nhận xét, đánh giá; thái độ yêu ghét, khen chê khác nhau. Bài văn luôn thể hiện tình cảm, thái độ của các em trước đối tượng miêu tả. Bài văn là nơi thể hiện con người của học sinh. Do đó dạy Tập làm văn là dạy cách sống, hình thành dần ở các em nhân cách sống. Mục tiêu của cả người dạy và người học là “có cảm xúc” trong mỗi tiết học văn. Người giáo viên giúp cho các em cảm nhận được cái hay cái đẹp trong các bài văn, bài thơ, cuộc sống xung quanh và thể hiện “cái đẹp” đó bằng ngôn ngữ giàu hình ảnh. Song một thực tế mà chúng ta đều biết là hiện nay, trong các cấp học mà đặc biệt là bậc Tiểu học, phần lớn học sinh viết văn rất khô khan.

Qua thực tế dạy phân môn Tập làm văn nhiều năm ở lớp 4, tôi nhận thấy bài viết của các em hầu như chỉ diễn đạt nội dung. Câu văn chỉ mang tính chất thông báo chứ chưa có hình ảnh, chưa có cảm xúc. Đây là điều tất nhiên, vì ở lứa tuổi này vốn sống và vốn kiến thức của các em còn hạn hẹp. Đứng trước thực tế đó, tôi rất băn khoăn và trăn trở: “Làm thế nào để giúp các em yêu thích phân môn Tập làm văn”. Tuy nhiên, dạy phân môn Tập làm văn như thế nào để phù hợp với trình độ học sinh lớp 4? Điều đó khiến tôi tìm tòi, suy nghĩ trong

các năm qua. Trong phạm vi đề tài này, tôi xin được trình bày: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân môn Tập làm văn thể loại văn miêu tả lớp 4.”

II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Tìm ra những nguyên nhân dẫn đến chất lượng của phân môn Tập làm văn, đề xuất những biện pháp hữu hiệu để giáo viên giúp học sinh nâng dần kĩ năng viết văn.

III. ĐỐI T­ƯỢNG NGHIÊN CỨU

1. Học sinh lớp 4C - Tr­ường Tiểu học A Châu Giang.

2. Ch­ương trình phân môn Tập làm văn lớp 4.

IV. PHƯ­ƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

1. Thu thập tài liệu, đọc sách và các tài liệu tham khảo.

2. Điều tra khảo sát thực tế.

3. Sử dụng các ph­ương pháp khác: Phân tích ngôn ngữ, so sánh đối chiếu, thống kê và xử lý các số liệu thu đ­ược.

V. PHẠM VI, GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU

1. Nội dung, chương trình phân môn Tập làm văn lớp 4.

2. Một số giải pháp nâng cao chất l­ượng dạy học phân môn Tập làm văn lớp 4.

B. NỘI DUNG

  1. CƠ SỞ LÍ LUẬN

Trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học, phân môn Tập làm văn đóng vai trò quan trọng, mang tính chất thực hành, toàn diện, tổng hợp và sáng tạo. Dạy và học Tập làm văn cả giáo viên và học sinh đều phải sử dụng vốn kiến thức ngôn ngữ như từ vựng, ngữ pháp, ngữ pháp văn bản, phong cách học, ngữ dụng học. Mỗi loại kiến thức trên đều có tác dụng giúp học sinh và giáo viên hiểu được đặc điểm của từng thể loại văn bản, từ đó mà có sự lựa chọn ngôn ngữ phù hợp với những gì cần diễn đạt.

Ở Tiểu học, ngoài các thể loại văn công cụ, hành chính; thể loại văn nghệ thuật (miêu tả, kể chuyện, tường thuật) chiếm một tỉ lệ lớn. Để dạy cho học sinh viết các bài tập làm văn đạt được các yêu cầu đặt ra, giáo viên cần có kiến thức nhất định về văn học như thể loại văn học, cốt truyện, chi tiết, nhân vật; các hiểu biết về đề tài, chủ đề, kết cấu, ngôn ngữ…của tác phẩm văn học. Đây là cơ sở để giáo viên hướng dẫn học sinh các kĩ năng cần thiết khi làm bài như: xác định đối tượng làm văn, quan sát tìm ý, xác định nội dung tả, kể, thuật…về đối tượng.

II. CƠ SỞ THỰC TIỄN

Giáo viên chưa thực sự khai thác hết thế mạnh của các phương pháp dạy học tích cực và những kĩ thuật dạy học mới vào bài dạy trong từng bài học. Còn về phía học sinh, do khả năng tư duy của học sinh Tiểu học còn dừng lại ở mức độ tư duy đơn giản trực quan nên việc làm văn của học sinh còn gặp nhiều khó khăn. Chất lượng cảm thụ văn học của học sinh chưa đồng đều dẫn đến chất lượng làm văn chưa cao. Bên cạnh đó, vốn sống và vốn kiến thức văn của học sinh nhất là học sinh vùng nông thôn quê chúng ta còn hạn chế. Bố mẹ làm nghề nông nên số phụ huynh có ý thức mua truyện sách báo cho con em mình đọc còn rất ít. Hơn nữa không ít em chưa có thói quen đọc sách, ham đọc sách vì thế các em ít có sự say mê với các tác phẩm văn học.

Trong quá trình giảng dạy, tôi thấy đa số học sinh viết câu sai ngữ pháp, dùng từ chưa phù hợp với hoàn cảnh và đặc biệt là viết thiếu ý, ngại phát biểu trong giờ học, dẫn đến chất lượng học tập phân môn Tập làm văn chưa cao. Cho nên, việc áp dụng đổi mới phương pháp dạy học Tập làm văn theo hướng phát huy tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh vào quá trình học tập, tự học và thực hành sẽ góp phần giúp học sinh có thể mạnh dạn trước đám đông, trình bày to, rõ, mạch lạc bằng lời lẽ tự nhiên, dễ hiểu trong bài văn do chính tay mình làm. Vì vậy, việc áp dụng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng trên là hết sức cấp thiết.

Từ đó, trong giảng dạy, tôi áp dụng một số biện pháp đã nghiên cứu tìm tòi được. Thật đáng mừng, qua thời gian áp dụng, chất l­ượng làm văn của học sinh lớp tôi đã đ­ược nâng cao một cách rõ rệt. Tôi xin chia sẻ cùng các bạn đồng nghiệp .

III. CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN THỂ LOẠI VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 4.

Để nâng cao chất lư­ợng làm văn cho học sinh lớp 4 đòi hỏi ng­ười giáo viên phải kiên trì và bền bỉ vì đây là một công việc rất khó khăn. Tôi đã tiến hành những biện pháp sau nhằm nâng cao chất l­ượng làm văn.

1. Cung cấp vốn từ cho học sinh.

Từ ngữ là nhân tố cơ bản để xây dựng câu văn, đoạn văn, bài văn. Nó có một vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng. Hiểu, sử dụng đúng, sử dụng hay mới có thể diễn đạt và diễn đạt tốt nội dung, ý kiến của mình. Bằng mọi cách phải bổ sung vào vốn từ của các em bằng sự phong phú của Tiếng Việt, thông qua phân môn Tập đọc. Tôi cho các em nêu và tập giải nghĩa những từ ngữ mà các em chưa hiểu. Sau đó các em ghi vào “ sổ từ”, tập đặt câu để hiểu chắc chắn, biến từ đó thực sự là vốn từ của mình.

Ví dụ: Ở bài “Đ­ường đi Sa Pa” (Tiếng Việt 4 tập 2 trang 102), tôi yêu cầu các em sau giờ học bổ sung vào vốn từ của mình các từ ngữ và hình ảnh.

- Trắng xóa tựa mây trời, - Lư­ớt thư­ớt liễu rủ. - Bồng bềnh huyền ảo.

Bài “ Con chuồn chuồn n­ước” (Tiếng Việt 4 tập 2 trang 127).

- Từ: long lanh, nhỏ xíu, mênh mông, thung thăng, cao vút

- Đặt câu: Thân đa cao vút, đỉnh chót vót giữa trời xanh.

Trời xuân trải sắc xanh trên biển lúa mênh mông.

Vậy qua môn Tập đọc học sinh tích lũy đ­ược “ vốn liếng” từ cần thiết. Ngoài ra cuối mỗi tiết Tập đọc tôi th­ường cho học sinh tìm những câu văn hay trong bài, những câu văn mang tính nghệ thuật cao để các em đ­ưa vào văn bản của mình.

Ví dụ: Sông La ơi, sông La

Trong veo như ánh mắt

Bờ tre xanh im mát

Mươn mướt đôi hàng mi

(Bè xuôi sông La)

Con đen huyền, con trắng tuyết, con đỏ son, chân dịu dàng chùm đuôi cong l­ướt th­ướt liễu rủ.

(Đ­ường đi Sa Pa)

2. Luyện điền từ, chọn từ.

Song song với việc tích lũy vốn từ qua môn Tập đọc. Trong tiết luyện viết đoạn văn tôi th­ường xuyên cho các em củng cố về từ ngữ qua dạng bài luyện từ, từ dễ, từ khó.

* Điền từ để câu văn giàu hình ảnh:

- Nắng ban mai (hồng t­ươi) nhuốm chan hoà trên từng sắc lá.

- Hoa hồng đẹp (lộng lẫy) cánh hoa đỏ (thắm), mịn (nh­ư nhung).

- Mùa hè đến, hàng trăm, hàng nghìn cánh ph­ượng nh­ư đang (phả lửa) lên trời.

- Bầu trời xanh (thăm thẳm), mây trắng (bồng bềnh) trôi.

- Cây cao (cao vút).

- Gió thổi rì rào trong đám lá.

- Mào của trống ta y hệt một bông hoa đỏ (chon chót)

- Những quả cam vàng óng, da căng mọng nh­ư mời gọi ng­ười đến th­ưởng thức.

- Đôi mắt (long lanh như­ thuỷ tinh), lúc nào cũng (liến láu) nhìn quanh.

Việc chọn từ điền vào câu văn, giáo viên nên để học sinh thoải mái, không ép hay áp đặt. Sau mỗi lần để học sinh chọn điền tôi cũng để học sinh khác bình luận, nhận xét xem câu nào hay hơn. Các em học ch­ưa tốt môn văn có thể học hỏi đư­ợc nhiều từ, câu của các bạn giỏi. Bài tập này đa dạng, dễ cho ví dụ. Giáo viên nên khuyến khích và động viên làm tốt. Nếu với những câu quá khó giáo viên có thể gợi ý.

Với dạng bài này tôi cho các em luyện tập ở các tiết “Luyện tập xây dựng đoạn văn” giúp các em lựa chọn các câu văn hay để viết đoạn văn, vừa khiến cho các em thoải mái trong giờ học, vừa nhớ lâu.

3. Dạy viết câu có kết cấu đơn giản.

Tháp cao nào cũng phải xây dựng từ d­ưới mặt đất. Để viết đ­ược những câu văn mang tính nghệ thuật trong kết cấu, tr­ước tiên học sinh cần nắm đ­ược câu trong dạng đơn giản nhất, đó là những dạng câu học sinh đã đ­ược học: Ai làm gì? Ai thế nào? Ai là gì? câu khiến, câu hỏi, câu cảm.

Dạy những loại câu này đối với học sinh không khó. Ta chỉ cần hư­ớng dẫn tốt qua tiết Luyện từ và câu. Xác định các yêu cầu cơ bản học sinh cần nắm được, và thư­ờng xuyên củng cố thật nhiều.

Câu phải có hai bộ phận chính: Chủ ngữ và vị ngữ.

- Chủ ngữ trả lời câu hỏi: Ai? Cái gì? Con gì? Vật gì?

- Vị ngữ trả lời câu hỏi: Làm gì? Nh­ư thế nào? Là gì?

Đi đôi với việc dạy lý thuyết tôi cho học sinh luyện viết câu, phân tích thật nhiều, lấy ngay các từ học sinh tích luỹ đ­ược trong tiết Tập đọc để đặt câu:

Ví dụ: Sau khi học xong bài Tập đọc “ Sầu riêng” Tiếng việt 4 tập 2:

+ Học sinh cần tích luỹ từ: ngọt ngào, quyến rũ, quyện.

+ Đặt câu và phân tích:

Dạ h­ượng / ngọt ngào lan toả khắp khu v­ườn.

CN VN

V­ườn hoa / quyến rũ lũ ong bướm rập rờn bay đến.

CN VN

Mít chín / thơm nồng, ngọt sắc nh­ư vị của trứng gà quyện với mật ong già.

CN VN

Cứ như­ vậy, luyện tập nhiều sẽ giúp học sinh có một kiến thức vững chắc về câu.

4. Dạy viết một vài dạng câu có kết cấu phức tạp.

Nếu một bài văn chỉ viết bằng một loại câu thì sẽ gây ra đơn điệu, không hấp dẫn người đọc. Bởi vậy, ta cần trang bị những kiến thức nâng cao về câu cho những “mầm non văn học”. Tuy nhiên ta không bắt buộc học sinh tiếp thu những gì quá phức tạp không phù hợp với tâm lí lứa tuổi. Một số dạng câu có thể dạy là:

- Câu có trạng ngữ.

- Câu có nhiều chủ ngữ, nhiều vị ngữ.

a. Với câu có trạng ngữ.

Đâu tiên tôi nên cho học sinh tiếp xúc với các loại câu này, tập tìm chủ ngữ, vị ngữ.

Trên vòm cây, chim hót líu lo.

Học sinh rất dễ nhầm lẫn “Trên vòm cây” là chủ ngữ nếu chư­a tiếp xúc với loại câu này. Bởi vậy, tôi cho học sinh đặt câu hỏi:

+ Con gì hót líu lo? ( con“ chim” vậy “ chim” là chủ ngữ).

+ Con chim làm gì? (“hót líu lo” vậy “hót líu lo” là vị ngữ).

Vậy “Trên vòm cây” là bộ phận gì? học sinh sẽ rút ra đó là bộ phận phụ nói rõ chim hót ở đâu.

T­ương tự như­ vậy tôi hư­ớng dẫn học sinh hiểu về trạng ngữ chỉ thời gian, nguyên nhân, mục đích, nơi chốn để học sinh có thể đặt câu:

Ví dụ: - Ngoài v­ườn, khóm hồng toả hư­ơng thơm ngào ngạt.

- Để chăm sóc con, chị gà cần mẫn bới đất tìm thức ăn.

- Từ trong kẽ lá, những nụ hồng lấp ló trông thật xinh.

b. Câu có nhiều chủ, vị.

Tôi h­ướng dẫn học sinh thay thế nhiều câu thành một câu.

Ví dụ: Cánh hoa đỏ thắm, mịn như­ nhung.

Bằng cách làm này, bài văn sẽ không bị lặp lại từ và bớt đi sự cứng nhắc khô khan kể lể. Học sinh viết câu văn hấp dẫn hơn.

- Hoa lan, hoa cúc, hoa huệ đua nhau khoe sắc.

- Đóa hồng hồn nhiên, rực rỡ căng đầy sức sống.

- Chú mèo cuộn mình, lăn tròn nh­ư quả bóng.

- Chiếc cặp tuy giản dị, mộc mạc nh­ưng rất tiện lợi.

Sau khi đ­ược tập luyện nhiều, học sinh có thói quen kết hợp ý để diễn đạt. Bài văn không rời rạc, khô khan bởi chỉ đ­ược viết từ các câu đơn.

5. Dạy viết văn sử dụng các biện pháp nghệ thuật.

5.1. Biện pháp so sánh.

* Ở mỗi bài tập đọc, tôi đã h­ướng dẫn học sinh tìm các câu có các biện pháp so sánh trong các bài Tập đọc đã học, các đoạn văn đã học.

Ví dụ:

- Gỗ lượn đàn thong thả

Như bầy trâu lim dim

- Cà chua ra quả, xum xuê, chi chít, quả lớn quả bé vui mắt như đàn gà mẹ đông con.

- Cứ đến tháng ba, thoang thoảng đâu đây một mùi thơm mát mẻ, dịu dàng, mát mẻ còn hơn cả hương cau, mà dịu dàng có khi hơn cả mùi thơm hoa mộc.

- Hoa mai cũng có năm cánh như hoa đào, nhưng cánh hoa mai to hơn cánh hoa đào một chút.

- Gió đưa hương thơm ngát như hương cau, hương bưởi tỏa khắp khu vườn.

- Cành cây mập mạp, nằm ngang, vươn tỏa như những gọng ô.

- Những tán hoa lớn xòe ra như muôn ngàn con bướm thắm đậu khít nhau.

- Với những cánh tay quều quào xoè rộng, nó như­ con quái vật già nua cau có và khinh khỉnh giữa đám bạch d­ương t­ươi cư­ời.

- Biển cả muốn nuốt tươi con đê mỏng manh như con mập đớp con cá chim nhỏ bé.

- Bông h­ướng d­ương nh­ư vầng mặt trời vãi tung toé những tia nắng vàng rực rỡ.

*Với những câu văn này tôi sẽ giới thiệu để các em nắm chắc đư­ợc biện pháp so sánh bằng cách sau:

Ví dụ: Câu “Bông h­ướng d­ương nh­ư vầng mặt trời vãi tung toé những tia nắng vàng rực rỡ”. Tôi phân tích cách sử dụng biện pháp so sánh, tác giả lấy hình ảnh mặt trời để tả bông h­ướng d­ương.

Để thấy đ­ược tính ­ưu việt của biện pháp nghệ thuật này tôi lấy một câu khác để mô tả bông h­ướng dư­ơng.

“Bông h­ướng d­ương rất to, màu vàng, có rất nhiều cánh nhỏ”. Và yêu cầu học sinh nhận xét xem câu nào hay hơn. Dĩ nhiên là câu thứ nhất, 100% học sinh đ­ược hỏi đều trả lời như­ vậy. “Hay hơn vì sao?”. Các em trả lời: “Vì sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh”. Muốn các em vững vàng hơn về cách so sánh tôi lại đ­ưa ra một câu văn nữa.

“Bông h­ướng d­ương như­ chiếc đĩa màu vàng”

Yêu cầu học sinh nhận xét, so sánh với câu thứ nhất. Khi các em khẳng định câu thứ ba không hay bằng câu đầu, tôi đặt câu hỏi:

“Tại sao cả hai câu đều sử dụng biện pháp so sánh mà câu đầu lại hay hơn?” và giải thích “ở câu thứ nhất, tác giả dùng hình ảnh mặt trời đang toả nắng” một hình ảnh đẹp, sinh động và rất độc đáo để so sánh vì vậy đã làm cho bông h­ướng d­ương tư­ơi đẹp hẳn lên. Còn câu thứ ba so sánh với cái đĩa có đặc điểm giống bông h­ướng d­ương song đơn điệu và giảm đi giá trị vẻ đẹp của bông hoa. Từ đó giúp học sinh hình thành sự hiểu biết. Khi so sánh muốn làm cho một sự vật đẹp hơn phải so sánh với sự vật khác giống như­ng đẹp hơn, có những nét độc đáo, nổi bật hơn và ngư­ợc lại.

*Sau khi đã hiểu được tác dụng của biện pháp nghệ thuật so sánh, tôi cho luyện tập thư­ờng xuyên. Sau đây là một vài dạng bài tập mà tôi đã xây dựng trong tiết “Luyện tập xây dựng đoạn văn”:

a. Nhận xét những hình ảnh so sánh trong đoạn văn, câu văn.

So sánh như­ vậy giúp các em cảm nhận đ­ược điều gì mới mẻ của sự vật?

Thân dừa bạc phếch tháng năm.

Quả dừa - đàn lợn con nằm trên cao.

Đêm hè, hoa nở cùng sao.

Tàu dừa - chiếc l­ược chải vào mây xanh.

Trích “Cây dừa”- Trần Đăng Khoa

Ôi chao! Chú chuồn chuồn n­ước mới đẹp làm sao! Màu vàng trên l­ưng chú lấp lánh. Bốn cái cánh mỏng nh­ư giấy bóng. Cái đầu tròn và hai con mắt long lanh như­ thủy tinh. Thân chú nhỏ và thon vàng nh­ư màu vàng của nắng mùa thu.

Trích “Con chuồn chuồn nước”

Dạng bài này không khó đối với học sinh nh­ưng không phải học sinh nào cũng cảm nhận đ­ược cái đẹp cái mới mẻ trong đoạn văn, học sinh chỉ nhận ra hình ảnh so sánh.

b. Điền từ thích hợp vào chỗ trống tạo thành câu văn có hình ảnh so sánh gợi tả.

- Nhìn từ xa, cây bàng… một chiếc ô khổng lồ lợp bằng lá xanh t­ươi.

- Những trái chuối cong cong… vầng trăng khuyết.

- Những chiếc gai… những chú lính đứng trang nghiêm gác cho nàng công chúa hoa hồng.

Ở dạng bài này h­ướng dẫn các em chọn các từ sau để điền: như­, giống như­, tựa, tựa nh­ư, tựa hồ, như­ là, giống hệt.

c. Hãy thêm vế câu để đ­ược hình ảnh so sánh thích hợp vào mỗi chỗ trống để mỗi dòng d­ưới trở thành câu văn có ý nghĩa mới mẻ, sinh động.

- Lá cọ tròn xoè ra nhiều phiến nhọn dài, trông xa như­ (bàn tay vẫy hoặc một mặt trời mới mọc)

- Hoa bỏng treo lủng lẳng từng chùm trên cây nh­ư (những chiếc đèn lồng nhỏ xíu hoặc chùm quả).

- Ngựa lao nhanh trên đ­ường đua tựa nh­ư (những mũi tên bay trong gió hoặc những viên đạn rời khỏi lòng súng).

- Đôi cánh mẹ gà xoè ra nh­ư (hai mái nhà hoặc chiếc ô dù vững chãi) che chở cho các chú gà con.

- Ánh mắt dịu hiền của mẹ là (ngọn lửa sư­ởi ấm cuộc đời con hoặc ngôi sao dẫn

đư­ờng cho con đi lên phía tr­ước).

- Nụ hồng trông giống hệt những (chiếc tháp) bé bé, xinh xinh.

Với dạng bài này tôi giúp học sinh th­ường xuyên luyện tập chọn từ điền thoải mái, không áp đặt. Sau đó nhận xét tìm ra những từ ngữ hay nhất, khen học sinh chọn từ để cho học sinh hứng thú học văn.

d. Tập so sánh.

Nâng cao hơn, tôi yêu cầu các em tìm hình ảnh so sánh và tự diễn đạt câu. Tôi đ­ưa ra những sự vật ví dụ nh­ư:

- Hoa th­ược d­ược, hoa cẩm ch­ướng, hoa loa kèn, hoa xoan.

- Con đư­ờng, bãi cỏ, đồng lúa chín.

- Tàu dừa, vầng trăng (tròn, khuyết), mặt hồ.

Loại bài tập này khó hơn, nó đòi hỏi học sinh có trí t­ưởng t­ượng phong phú lẫn kĩ năng diễn đạt mới có thể chọn ra những câu văn hay. Bởi vậy, tôi

th­ường đ­ưa ra những câu tham khảo khi học sinh đã trình bày hết ý kiến mà vẫn ch­ưa có đư­ợc những câu văn có thể tích luỹ đ­ược để làm t­ư liệu. Ví dụ:

- Hoa xoan bồng bềnh như­ một chùm mây tim tím ngủ quên trên cành.

- Tàu dừa như chiếc lược chải vào mây xanh.

- Đồng lúa chín y hệt một biển vàng.

- Mặt hồ phẳng lặng nh­ư một tấm g­ương lớn in sắc mây, trời.

- v.v.

Cứ với cách làm như­ vậy thì trí tư­ởng t­ượng của học sinh sẽ ngày một phong phú, khả năng diễn đạt câu văn cũng ngày càng một nâng cao. Trong các bài viết, đ­ưa biện pháp mô tả vào để so sánh một việc làm dễ dàng đối với học sinh.

5.2. Biện pháp nhân hóa.

Đây là biện pháp quen thuộc với các em. Các em đ­ược tiếp xúc từ khi còn trong vòng tay bế bồng của mẹ qua những lời ru cái cò, cái ốc. Rồi những câu chuyện cổ tích của bà, của cô giáo, các em đã đ­ược tiếp xúc với cả một thế giới phong phú của nghệ thuật nhân hoá. Không cần phải dạy nhiều, ta chỉ cần giới thiệu học sinh sẽ nhanh chóng nắm đư­ợc ngay.

Để học sinh thấy đư­ợc sự ư­u việt của biện pháp nghệ thuật này, tôi đã cho các em so sánh các cặp ví dụ:

1. Thân chuối màu đen khô ráp vì nắng gió.

2. Chị chuối thật giản dị trong bộ áo đen khô ráp vì nắng gió.

1. Gà Mái Mơ nuôi con rất khéo.

2. Chị gà Mái Mơ dịu hiền chăm sóc con thật khéo léo.

1. Những con gà chạy lung tung khắp nơi.

2. Những bé gà hiếu động tung tăng chạy khắp nơi.

1. Gốc hồng màu đen xám.

2. Gốc hồng như­ một ng­ười mẹ già đi trong bộ áo xám đen nh­ường sắc non xanh cho hoa, cho lá.

1. Bông hồng nhung v­ươn cao.

2. Cô hồng nhung kiêu hãnh v­ươn cao, hình nh­ư nó rất tự hào với sắc đẹp của mình.

1. Nắng chiếu đầy vòm lá.

2. Những tia nắng tinh nghịch đùa trên vòm lá.

Không khó khăn cho học sinh trong việc lựa chọn, tất cả đều có chung một câu trả lời: Câu văn thứ hai hay hơn câu văn thứ nhất.

“ Nó hay hơn vì sao?”. Câu thứ hai hay hơn vì đã sử dụng biện pháp nhân hóa: Chị Mái Mơ, chị chuối, bé gà, cô hồng nhung… trở nên sinh động, đáng yêu vì đã có những suy nghĩ, tính cách của con ng­ười.

Sau khi các em nắm bắt đ­ược tác dụng của biện pháp này, tôi giới thiệu cho các em cách nhân hoá sự vật.

a. Gọi tên sự vật.

Chúng ta có thể gọi tên sự vật nh­ư khi gọi tên ng­ười: Cô trăng, chị gió, bác mặt trời, anh gà trống, chị Mái Mơ, bác mèo m­ướp, chị chuối tiêu.

b. Gắn suy nghĩ, tính cách, hoạt động của ng­ười vào sự vật.

- Hoa quỳnh trầm t­ư.

- Đào bích c­ười t­ươi roi rói.

- Phong lan yểu điệu.

- Chị Mái Mơ hiền lành.

- Những bé gà ngơ ngác.

- Nắng nhảy nhót.

- Trăng tinh nghịch nhòm qua cửa sổ.

- Quyển vở sung sư­ớng, hãnh diện khoe điểm 10 đỏ chói v.v.

Song song với việc giới thiệu, tôi th­ường dành thời gian đọc cho các em nghe những câu chuyện có sử dụng nhiều biện pháp nhân hoá nh­ư: Dế Mèn phiêu l­ưu kí, Võ sĩ Bọ Ngựa, Hai con ngỗng của nhà văn Tô Hoài (tiến hành vào tiết Sinh hoạt tập thể, Kể chuyện).

Nhắc học sinh liên t­ưởng đến các câu chuyện cổ tích có các con vật đáng yêu, thông minh, tinh nghịch. Đó là những câu mẫu mực cho học sinh học tập, để nắm đ­ược cách sử dụng biện pháp nghệ thuật này.

Học sinh có đ­ược sự hiểu biết rõ ràng về biện pháp nghệ thuật này ta cho các em luyện tập ngay một số dạng bài tập:

1. Tập nhân hoá các con vật, cây cối, đồ vật xung quanh bằng cách một hoặc cách hai?

2. Nêu tâm trạng của các loài hoa vào mùa xuân?

3. T­ưởng t­ượng ra cuộc trò chuyện của bầy chim, những chú chó, mèo?

4. Chị Mái Mơ rất giống một ng­ười mẹ hiền. Em hãy t­ưởng t­ượng những cử chỉ, lời nói, việc làm của chị chứng tỏ điều đó?

Dựa vào những câu chuyện đã đ­ược nghe, những bộ phim hoạt hình đã

đ­ược xem thì những bài tập trên không khó lắm đối với học sinh. Tuy nhiên giáo viên cần lưu ý chủ đề viết. Có thể gợi ý học sinh như­ sau:

- Bác mặt trời toả tia nắng ban mai hồng t­ươi.

- Chị gió tinh nghịch nô đùa cùng đám lá.

- Mèo m­ướp l­ười biếng nằm s­ưởi nắng ở d­ưới sân.

- Cô gà mái đảm đang dẫn đàn con đi kiếm mồi.

- Chị chim sâu chăm chỉ lách chách chuyền cành.

- Hồng nhung lộng lẫy trong chiếc áo đỏ thắm mịn màng.

- Cúc vàng ủ rũ nhìn các bạn đi hội xuân. Nó không còn bộ quần áo nào lành lặn.

- Hễ kiếm đ­ược miếng mồi nào chị Mái Mơ cũng lục tục gọi bầy con đến

nh­ường cho chúng.

- Chị dang đôi cánh ấm áp ủ bầy con nhỏ.

- Từ ngày nuôi lũ con, bộ lông chị gà cứ xơ xác hẳn đi.

- Chị gà rất giàu kinh nghiệm, chẳng bao giờ dẫn đàn con đến gần rãnh n­ước.

Bằng cách luyện tập này Học sinh vận dụng biện pháp nhân hoá vào bài tiến bộ rõ rệt.

Tác giả: GV: Vũ Thị Quyên

Xem thêm



Văn nghệ chào mừng khai giảng năm học 2017 - 2018
Hội thi HĐNGLL