tin tức-sự kiện

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM DẠY MÔN TỰ NHIÊN&XÃ HỘI LỚP 3

PHẦN I: LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

A- LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Dự án VNEN là dự án có nội dung về sư phạm nhằm xây dựng và nhân rộng một kiểu mô hình nhà trường tiên tiến, hiện đại, phù hợp với mục tiêu phát triển và đặc điểm của giáo dục Việt Nam. Trường tiểu học được chọn để triển khai mô hình “Trường học mới”. Đây là mô hình khá mới mẻ, thay đổi hoàn toàn phương pháp giảng dạy truyền thống “Cô giảng trò nghe” mà vẫn giữ nguyên được nội dung của sách giáo khoa và chuẩn kiến thức do Bộ Giáo dục & Đào tạo quy định.

Nội dung chương trình Tự nhiên và xã hội 3 được lựa chọn rất thiết thực, gần gũi với học sinh, giúp các em dễ dàng thích ứng với cuộc sống xung quanh. Kiến thức trong mỗi chủ đề đều được tích hợp nội dung giáo dục sức khỏe một cách nhuần nhuyễn; đi từ sức khỏe cá nhân trong chủ đề Con người và sức khỏe đến sức khỏe cộng đồng trong chủ đề Xã hội và sức khỏe môi trường trong chủ đề Tự nhiên.

Với quan điểm “Lấy học sinh làm trung tâm”, “Trò chủ động - Thầy chủ đạo”; Đặc biệt là dạy theo chương trình mô hình trường học mới đã đáp ứng được quan điểm trên.

Chính vì lý do trên mà tôi đã quyết tâm tìm tòi, học hỏi và viết ra những kinh nghiệm của mình với mong muốn được đóng góp thêm một vài biện pháp giúp nâng cao hiệu quả dạy học. Điều đó được thể hiện qua đề tài:“Một số biện pháp dạy học môn Tự nhiên xã hội lớp 3 theo mô hình VNEN”.

B. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

- Tìm hiểu thực trạng dạy và học theo mô hình mới với môn Tự nhiên và xã hội lớp 3 để tìm ra biện pháp giảng dạy phù hợp.

- Đề xuất một số biện pháp có hiệu quả giảng dạy ở môn Tự nhiên và xã hội lớp 3.

C. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.

- Nội dung dạy học môn Tự nhiên và xã hội lớp 3 theo mô hình vnen.

- Phương pháp dạy và học theo mô hình mới với môn Tự nhiên và xã hội lớp 3.

D. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1. Phương pháp nghiên cứu lý luận.

2. Phương pháp quan sát và đàm thoại.

3. Phương pháp điều tra:

4.Phương pháp thử nghiệm.

PHẦN II: NỘI DUNG

A.CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

I. Cơ sở lí luận

1. Vị trí và tầm quan trọng của môn học:

Trong những năm gần đây, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học được tất cả các trường trong cả nước quan tâm. Các phương pháp dạy học mới dựa trên cơ sở phát huy mặt tích cực của các phương pháp dạy học truyền thống để nâng cao chất lượng dạy học, nâng cao hiệu quả của giáo dục đào tạo.

Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển cho biết: “VNEN đảm bảo cho học sinh được rèn luyện một cách toàn diện, không chỉ học kiến thức mà cả kỹ năng sống, năng lực tự quản bản thân, tự quản tập thể của mình”.

Trong mô hình VNEN, điểm nổi bật của mô hình chủ yếu ở cách tổ chức lớp học, quản lý lớp học là do hội đồng tự quản học sinh và các nhóm trưởng trong lớp thực hiện. Đây là biện pháp giúp học sinh tự học, tự quản, tự làm chủ quá trình học tập. Giáo viên gần như thoát ly khỏi bảng đen, phấn trắng, chủ động tổ chức các hoạt động cho học sinh theo nhóm.

Để chuyển tải được nội dung của từng tiết, từng bài học đến với mỗi học sinh cũng là việc giúp học sinh tiếp cận tốt những nội dung môn Tự nhiên và xã hội dẫn dắt học sinh mở rộng vốn hiểu biết từ bản thân đến gia đình, trường học; từ cuộc sống xung quanh đến thiên nhiên rộng lớn. Tạo cơ hội cho tất cả cả các đối tượng học sinh trong lớp đều tích cực tham gia vào việc xây dựng bài. Những quan điểm trên cho thấy việc dạy Tự nhiên và xã hội theo mô hình mới là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong các nhà trường tiểu học.

Những hình ảnh trong sách giáo khoa đóng vai trò kép, vừa làm nhiệm vụ cung cấp thông tin, vừa làm nhiệm vụ cung cấp hoạt động học tập trong đó bao gồm cả những kí hiệu chỉ dẫn các hoạt động học tập cho học sinh và cách tổ chức dạy học cho giáo viên qua các lôgô. Lôgô 1 em bé ý chỉ hoạt động cá nhân; Lôgô 2 em bé ý chỉ hoạt động nhóm đôi; Lôgô 3 em bé ý chỉ hoạt động nhóm lớn; Lôgô cô giáo và các em nhỏ ý chỉ hoạt động chung cả lớp; Lôgô 1người lớn và 1em bé ý chỉ hoạt động với cộng đồng.

2.Người giáo viên phải hiểu đổi mới phương pháp dạy học theo mô hình VNEN là như thế nào?

Phương pháp dạy học theo mô hình VNEN là phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm vừa là giá đỡ, vừa là trụ cột chi phối các hoạt động sư phạm trong nhà trường VNEN. Tổ chức lớp học không chỉ phù hợp với phương pháp của VNEN mà còn tạo ra môi trường sư phạm thân thiện, dân chủ, hợp tác giữa các thành viên trong trường và với cộng đồng. Mô hình VNEN sẽ tạo điều kiện cho giáo viên và học sinh phát huy tốt nhất các năng lực cá nhân và giá trị đích thực của các em.

Kiểu cấu trúc bài học được khuyến khích sử dụng trong mô hình VNEN, đó là tổ chức dạy học thông qua trải nghiệm, gồm 5 bước như sau:

1. Tạo hứng thú cho học sinh:

- Yêu cầu kích thích sự tò mò, chờ đợi, khơi dạy hứng thú cho học sinh về chủ đề sẽ học, học sinh cảm thấy vấn đề giáo viên nêu gần gũi quen thuộc.

- Cách làm: giáo viên đặt câu hỏi, câu đố vui, kể chuyện, đặt một tình huống hoặc tổ chức trò chơi...

2. Tổ chức cho học sinh trải nghiệm:

- Huy động vốn hiểu biết, kinh nghiệm sẵn có của học sinh để chuẩn bị bài học mới.

- Tổ chức các hình thức trải nghiệm thú vị, gần gũi với học sinh, nếu là bài toán có lời văn thì giả thiết phải đơn giản, dễ hiểu.

3. Phân tích khám phá – rút ra kiến thức mới.

- Dùng các câu hỏi gợi mở, phân tích, đánh giá giúp học sinh thực hiện qua các hình thức thảo luận cặp đôi, nhóm 4- 6 em, cá nhân hay cả lớp…

4. Thực hành - củng cố bài học:

- Giáo viên quan sát học sinh làm, phát hiện học sinh khó khăn ở bước nào giúp đỡ nhấn mạnh lại kiến thức hoặc cách thực hiện ở bước đó. Tiếp tục giao các bài với mức độ khó dần phù hợp với khả năng học sinh.

5. Ứng dụng:

- Biết vận dụng từng phần, từng đơn vị kiến thức của nội dung bài học vào thực tế cuộc sống hằng ngày.

Để làm tốt 5 bước này, đòi hỏi bản thân người giáo viên phải tự thiết kế, đạo diễn các hoạt động học tập để giúp học sinh tự phát hiện kiến thức, phân tích kiến thức và sử dụng kiến thức.

II. Cơ sở thực tiễn

Trong thực tế giảng dạy theo mô hình trường học mới ở tiết Tự nhiên và xã hội lớp 3 nói riêng; dạy Tự nhiên và xã hội lớp 2, 3 nói chung còn gặp nhiều vấn đề khó khăn. Tôi đã trực tiếp ra đề khảo sát chất lượng học sinh khi học về chủ đề mà các em đã học.

* Đối tượng điều tra:

Là những học sinh của hai lớp 3A và 3B năm học 2016 - 2017 của trường tiểu học A Châu Giang.

* Nội dung kiểm tra:Sau khi học sinh học xong nội dung các bài học ở phần xã hội, tôi tiến hành khảo sát chất lượng với nội dung liên quan đến chủ đề đã học.

Đề bài:

Câu 1: Trả lời câu hỏi:

a) Trường chúng ta thường tổ chức những hoạt động nào?

b) Em đã làm những công việc cụ thể nào khi đó?

c) Hoạt động nào làm em nhớ nhất?

d) Chúng em cần làm gì khi tham gia để các hoạt động đạt kết quả tốt?

Câu 2: Kể tên một số nghề mà em biết? các nghề đó mang lại lợi ích gì cho bạn và cho mọi người?

Câu 3: Nêu đặc điểm của làng quê? Nêu đặc điểm của đô thị?

*Kết quả khảo sát chất lượng như sau

Lớp

Sĩ số

Hoàn thành tốt

Hoàn thành

Chưa hoàn thành

SL

%

SL

%

SL

%

3A

31

14

45,2

17

54,8

0

0

3B

29

10

34,5

19

65,5

0

0

Qua kết quả kiểm tra tôi nhận thấy chất lượng hai lớp tương đối đồng đều vì khi làm về các câu hỏi trong đề bài cô cho có liên quan đến những bài đã học, học sinh lớp VNEN gặp phải những vấn đề sau:

Các em học sinh có năng lực, hoàn cảnh khác nhau nên có thể được chấp nhận tiến độ hoàn thành bài học khác nhau. Học sinh có năng lực khác nhau có thể hoàn thành bài học trước hoặc sau. Cũng bởi học sinh ở vùng nông thôn lại ít giao tiếp, trong khi giáo viên cũng ít có thời gian kèm từng học sinh yếu. Học sinh hoàn thành trước thì có thể chuyển sang các bài học mới hoặc giáo viên đặt các yêu cầu cao hơn để các em phát huy năng lực cá nhân.

Khả năng tự học của học sinh chưa cao vì điều kiện để các em chưa tự tìm hiểu kiến thức trong sách và qua bài học, tài liệu.

Tuy nhiên, vẫn còn một số đối tượng học sinh vì chưa lĩnh hội được kiến thức của bài học một cách đầy đủ, nên kết quả bài làm còn hạn chế.

Bên cạnh đó, cũng nhìn thấy sự tiến bộ rõ rệt đối với học sinh được học theo mô hình mới đó là các em mạnh dạn và tự tin hơn trong học tập, học sinh học tập hăng hái, tích cực, kiến thức của bài học sẽ được học sinh nhớ lâu và khắc sâu hơn.

Nhìn chung học sinh học tập chưa tích cực, hứng thú chủ động trong việc lĩnh hội tri thức, chưa hứng thú với môn Tự nhiên và Xã hội cũng bởi vì nhiều nguyên nhân.

* Nguyên nhân dẫn đến những sai lầm trên là:

+Từ phía giáo viên:

Trong những năm vừa qua, hầu hết giáo viên vẫn còn bị ảnh hưởng dạy theo chương trình cũ.

Trong thực tế một tiết học Tự nhiên và xã hội, sự thay đổi lớn của mô hình này là sắp xếp bàn ghế theo nhóm (4-6 em/nhóm). Nội dung làm việc của từng nhóm không giống nhau, giáo viên không hướng dẫn chung mà làm việc với từng học sinh hoặc từng nhóm một. Việc đánh giá học sinh cũng đổi mới theo tiêu chuẩn VNEN, đó là bằng nhận xét, đánh giá vì sự tiến bộ của học sinh; coi trọng việc động viên, khuyến khích học sinh.

Mặc dù phương pháp dạy học mới có nhiều ưu điểm, nhưng để triển khai đại trà vẫn còn nhiều khó khăn, trong đó phải kể đến việc số lượng học sinh trung bình trong một lớp học hiện nay quá đông và trình độ học sinh không đồng đều. Bên cạnh đó, sự chênh lệch về điều kiện nhân lực, cơ sở vật chất giữa các vùng miền khác nhau cũng là rào cản cho việc áp dụng phổ biến phương pháp mới.

Việc dạy học theo hướng dẫn trong sách quá rập khuôn. Giáo viên rập khuôn từ việc ghi bảng, trình bày đến tổ chức các hoạt động trong lớp, học sinh thì có thao tác giống nhau. Như thế là không ổn. Việc thực hiện như thế rất hình thức, khuôn mẫu. Phương pháp này tuy tránh quá tải nhưng không phát huy khả năng sáng tạo của giáo viên. Giáo viên và học sinh chỉ chăm chăm dựa vào sách mà thiếu tính chủ động sáng tạo”.

+ Từ phía học sinh:

Phụ huynh học sinh hầu hết đời sống kinh tế còn khó khăn nên chưa có điều kiện để giúp đỡ con em về phương pháp học tập. Việc chuẩn bị bài của học sinh chưa chu đáo, tình trạng học sinh không nắm được yêu cầu, nội dung bài học nên dẫn đến việc các em chưa yêu thích tiết học.

+ Từ phía nhà trường:

Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị của nhà trường còn nhiều hạn chế, tranh ảnh, đồ dùng phục vụ cho tiết học còn ít, chưa đảm bảo được yêu cầu giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh.

B- ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC:

1.Nắm chắc cấu trúc của tài liệu mônTự nhiên và xã hội:

a, Cấu trúc của chương trình:

Tài liệu hướng dẫn học Tự nhiên và xã hội là một thành phần cơ bản của chương trình VNEN. Tài liệu có những đặc điểm chính sau:

- Bảo đảm chuẩn kiến thức - kĩ năng của chương trình môn Tự nhiên và xã hội hiện hành.Không thay đổi về cấu trúc, nội dungcủa mỗi bài họcsong có thay đổi trong việc sắp xếp nội dung của mỗi bài học theo hướng tích hợp cao hơn nên mỗi bài thường được dạy từ 2 hoặc 3 tiết còn bài ôn tập có thời lượng 1 tiết.

- Tài liệu có tính tương tác cao:

*Đối với giáo viên:Tài liệu tạo thuận lợi trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học trên lớp vì tài liệu bao gồm cả phương pháp và hình thức tổ chức dạy học.
* Đối với học sinh: Tài liệu có tính tương tác cao thuận lợi cho việc học cá nhân và nhóm. Tài liệu bao gồm một chuỗi các hoạt động được thiết kế chú ý đến quy trình để đưa ra các chỉ dẫn từng bước nhằm giúp học sinh tự học phù hợp với đặc điểm và trình độ của từng đối tượng.

*Đối với phụ huynh học sinh: Tài liệu có chú trọng đến các hoạt động học tập được thực hiện ở nhà của học sinh, tạo điều kiện thuận lợi cho cha mẹ học sinh và cộng đồng tham gia vào quá trình học tập của các em thông qua việc hướng dẫn, giúp đỡ học sinh học tập, bổ sung các kiến thức, kỹ năng cần thiết đáp ứng yêu cầu học tập của học sinh.

- Tài liệu có “tính mở” giáo viên được chủ động thay đổi, nâng cao trình độ học sinh trên chuẩn phù hợp với điều kiện vùng miền.

b, Cấu trúc của một bàiTự nhiên và xã hội(Sách thử nghiệm) như sau:

- Tên bài.
- Mục tiêu bài học.
- Các hoạt động học tập:

A. Hoạt động cơ bản: Học sinh trải nghiệm, tìm tòi, khám phá, phát hiện kiến thức mới.

B. Hoạt động thực hành:
- Thực hành thí nghiệm.
- Làm bài tập.
- Đóng vai, trò chơi.

C. Hoạt động ứng dụng: Học sinh được chia sẻ với xã hội, với cộng đồng.

2. Đổi mới phương pháp dạy của giáo viên:

Tuy giáo viên không soạn bài nhưng phải nghiên cứu thật kỹ tài liệu để đổi mới phương pháp dạy học và tại sao chúng ta lại phải nghiên cứu kỹ tài liệu là vì:
+ Bản chất của tài liệu là một bản thiết kế “3 trong 1” dùng cho học sinh và dùng cho cả giáo viên trong trường Tiểu học thực hiện theo mô hình trường học mới VNEN. Với học sinh, đây là tài liệu hướng dẫn các em tự học để đạt mục tiêu của từng bài, tiến tới đạt mục tiêu của năm học. Với giáo viên, đây là một bản thiết kế để giáo viên dựa vào đó biết cách tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh, biết cách kiểm tra, biết cách đánh giá kết quả học tập của học sinh, biết tự kiểm soát việc dạy học của chính mình.

+ Giáo viên phải nghiên cứu kĩ bài để lường trước những tình huống phát sinh nhằm giúp các em tìm tòi, khám phá bài học.

+ Thông qua tài liệu, căn cứ vào trình độ học sinh của lớp mình, căn cứ vào điều kiện đồ dùng dạy học, lớp học và độ khó của từng yêu cầu bài tập. Giáo viên chủ động thay thế, bổ sung hoặc điều chỉnh số lượng bài tập, thay đổi câu hỏi sao cho ngắn gọn, đơn giản hơn. Muốn làm được điều đó, giáo viên phải nắm được trình độ cụ thể của học sinh, hiểu được các yêu cầu, chỉ dẫn hoạt động của tài liệu để kịp thời có những thay đổi điều chỉnh phù hợp.

+ Bản thân giáo viên phải tăng cường học hỏi kinh nghiệm ở đồng nghiệp. Khi xem bài chuẩn bị dạy, thấy có những kiến thức hoặc tranh ảnh nào chưa chắc chắn đúng cần trao đổi ngay với đồng nghiệp, gặp điều gì còn lúng túng thì mạnh dạn trao đổi với tổ chuyên môn.

Để dạy học theo mô hình VNEN đạt hiệu quả thì giáo viên phải phối kết hợp chặt chẽ với phụ huynh cùng tham gia vào hoạt động giáo dục của nhà trường như: trang trí lớp theo tinh thần VNEN, trong mỗi hoạt động dạy đều có phần dành cho học sinh học tại cộng đồng, đó là những hoạt động học sinh học hỏi ông bà, người thân trong gia đình, những người sống cùng thôn xóm để vận dụng những kiến thức, kỹ năng đã học ở trường vào cuộc sống của chính các em.

Ngoài ra, bản thân mỗi giáo viên phải cóquyển sổ dự kiến kế hoạch dạy họcghi lại những thành công hoặc những khó khăn vướng mắc khi thực hiện các bước dạy học trên lớp.

-GVtự học, tự bồi dưỡng, tự chủ, linh hoạttrong phương pháp dạy học. Tích cực tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn, các hoạt động chuyên đề của tổ của trường để học tập về đổi mới phương pháp dạy học theo tinh thần VNEN.

-Trong sinh hoạt tổ chuyên môn kịp thời đưa ra những khó khăn, vướng mắc như: biện pháp để học sinh học nhóm tốt, biện pháp để giúp em nhóm trưởng có thể điều khiển tốt các hoạt động học tập của nhóm, hoặc biện pháp về đổi mới phương pháp dạy học của một hoạt động nào đó ở một bài dạy cụ thể…..trong tổ sẽ cùng nhau thảo luận để tìm ra cách giải quyết tốt nhất.

-Thường xuyên tự học hỏi qua sách báo, thông tin đại chúng, qua đồng nghiệp thông qua các tiết học tốt, chuyên đề, thao giảng, tự tìm kiếm những thông tin trên mạng nhằm nâng cao tay nghề, tìm ra phương pháp giảng dạy cho phù hợp với đối tượng học sinh.

- Khi dạy học giáo viên phải biết vận dụng các hình thức dạy học một cách linh hoạt.

* Sau mỗi lần hoạt động nhóm lớn, giáo viên cho học sinh hoạt động tập thể, trình bày trên bảng để cả lớp nghe, nhận xét và rút ra kiến thức đúng để khắc sâu kiến thức.

Ví dụ:Bài 11 "Cuộc sống xung quanh em” (Tài liệu Tự nhiên và xã hội Lớp 3 - trang 65).

+ Câu 1- trang 65 và 66: Quan sát và trả lời

Mục tiêu: Giúp học sinh kể được tên một số nghề nghiệpchính và hoạt động sinh sống của người dân nơi gia đình em ở.

- Như vậy sau khi tổ chức cho các em thảo luận theo nhóm VNEN. Giáo viên mời đại diện học sinh lên bảng trình bày: Chỉ và nói với bạn những gì em thấy trong hình. Sau đó giáo viên mời lớp nhận xét, nêu lại ý đúng đó và giáo viên kết luận đó chính là những đặc điểm cơ bản của làng quê và đô thị.

+ Câu 3 cũng thực hiện tương tự.

Tuy nhiên ở câu hỏi số 3 có một ý hỏi “ Chỉ trên hình, nêu được sự khác nhau về: quang cảnh, phương tiện giao thông, hoạt động sống của người dân trong hình 2 và 3". Đây là dạng câu hỏi nâng cao nhằm mục đích phát huy trí lực và tư duy sáng tạo của học sinh. Giáo viên nên tạo không khí thoải mái cho học sinh học, bằng cách có thể : giáo viên đố học sinh.

Ví dụ:Đố em biết các phương tiiện giao thông ở hình 2 và 3 có gì khác nhau ?

+ Học sinh : nhiều em trả lời mỗi em một ý.

- Em thấy ở hình 2 có nhiều ô tô, xe máy đi lại trên đường.

- Em thấy ở hình 3 có ít xe đi lại trên đường…….

+ Cho học sinh nêu trước: (nêu được hay không cũng tốt, sau đó giáo viên đưa hình ảnh ra để học sinh so sánh nêu những điểm khác nhau.)

3. Một số giải pháp giúp học sinh làm tốt vai trò của Hội đồng tự quản của lớp.

Trong quá trình thành lập hội đồng tự quản, giáo viên phải tạo cho học sinh có cơ hội đượctự tranh cửvào các vị trí chủ tịch và phó chủ tịch, đây là một trong những bước phát hiện học sinh mạnh dạn, dám nói trước đám đông. Sau khi việc đăng kí hoàn tất, các ứng cử viên nên trình bày các đề xuất có liên quan đến những hoạt động mà các em có thể sẽ thực hiện khi trúng cử. Những hứa hẹn này phải khả thi trong vòng 3 tháng thử nghiệm. Việc lựa chọn chủ tịch và phó chủ tịch là vô cùng quan trọng, đây chính là những người giúp giáo viên rất nhiều trong việc quản tất cả các hoạt động của lớp cũng như trong tiết học. Sau đó, hội đồng tự quản tự mời các thành viên tham gia vào các ban do hội đồng tự quản điều hành. Nhưng muốn làm được điều này, đầu năm học sau khi nhận danh sách lớp, giáo viên trao đổi ngay với giáo viên chủ nhiệm năm ngoái để tìm hiểu kỹ tình hình học tập của lớp mình như: số lượng học sinh giỏi, học sinh năng khiếu, học sinh nhanh nhẹn, mạnh dạn, nói to…Sau khi tìm hiểu xong, giáo viên phải đặt ra những tiêu chí để lớp lựa chọn các bạn trong ban hội đồng tự quản thật chính xác như:

+Phải nhanh nhẹn, năng nổ.
+Mạnh dạn, tự tin.
+Có năng khiếu.
+Có năng lực học tập tốt.

- Thành lập Hội đồng tự quản học sinh: Giáo viên chủ nhiệm lớp tập cho các thành viên biết công, biết việc của mình, biết cách điều hành và lãnh đạo công việc.

- Bồi dưỡng kĩ năng điều hành hoạt động nhóm cho các nhóm trưởng:

Vì nhóm trưởng là linh hồn của hoạt động là người hỗ trợ đầu tiên trong nhóm bởi vậy nên chọn bạn học tốt hơn các bạn khác trong nhóm.

- Giáo viên tranh thủ thời gian vào giờ ra chơi hay cuối mỗi buổi học tập hợp các nhóm trưởng lại họp triển khai công việc. Lúc này giáo viên đóng vai là một nhóm trưởng thực thụ còn các nhóm trưởng làm các bạn học sinh trong nhóm để hướng dẫn học sinh kĩ năng điều hành các hoạt động, kĩ năng đặt câu hỏi, trả lời, nhận xét tuyên dương.

- Xây dựng góc học tập môn Tự nhiên và xã hội: Để góc học Tự nhiên và xã hội trở nên phong phú, gây được niềm say mê đối với học sinh thì bản thân mỗi giáo viên phải là người hướng dẫn và cùng với học sinh trực tiếp tham gia vào việc tổ chức sắp xếp góc học Tự nhiên và xã hội cũng như các góc môn học khác.

* Phân công nhiệm vụ các thành viên trong ban hội đồng tự quản:

Sau khi đã thành lập được hội đồng tự quản, tôi đã tổ chức tập huấn cho hội đồng tự quản học hội đồng tự quản cần phải làm những việc như: Vào đầu và cuối mỗi tiết học hoặc khi có khách tới Chủ tịch hội đồng tự quản biết mời các bạn đứng lên chào. Vào mỗi tiết học, Chủ tịch hội đồng tự quản bước ra khỏi chỗ ngồi đứng trước lớp mời Ban văn nghệ lên sinh hoạt văn nghệ, sau đó mời Ban học tập lên phát tài liệu và đồ dùng học tập. Về lại chỗ ngồi học tập.

* Ban văn nghệ: Tổ chức cho các bạn hát, múa, chơi trò chơi vào đầu tiết học và cuối tiết học. Có thể lồng ghép chơi trò chơi để ôn lại kiến thức cũ.

Ví dụ:Sau khi học Bài 20: Lá cây có đặc điểm gì? (tài liệu TN&XH 3): Ban văn nghệ có thể tổ chức cho các bạn hát hoặc chơi trò chơiTìm từ nhanhvề các loài cây hoặc có thể chơi các trò chơi khác do các em sáng tạo hay nhờ sự tư vấn của phụ huynh.

Tôi luôn hướng dẫn và động viên các em trong ban văn nghệ vào những lúc rãnh rỗi, cùng tìm hiểu những bài hát, những trò chơi tập thể như: cái trống, đếm sao, cá bơi, giành ghế số 1, tôi là vua, tôi bảo…..vừa phù hợp với chủ điểm vừa tạo không khí vui vẻ, vừa tạo hứng thú cho học sinh trước khi vào tiết học, cũng như giải tỏa sự căng thẳng mệt mỏi của các em sau mỗi tiết học.

*Ban học tập: Có nhiệm vụ phát đồ dùng và mời các nhóm trưởng lên nhận tài liệu và đồ dùng học tập. Kiểm tra bài cũ, bài tập ứng dụng của các bạn, báo cáo với cô giáo vào đầu giờ. Trong tiết học ngoài nhiệm vụ học tập của mình phải quan sát bao quát lớp để cuối mỗi tiết học nhận xét đánh giá tình hình học tập của lớp.

Ngoài ra, tùy từng bài mà đặc biệt là ở hoạt động làm việc cả lớp, giáo viên có thể để ban học tập thay cô giáo kiểm tra lại kiến thức mà các nhóm vừa thảo luận xong. Muốn làm được tốt công việc đó, cuối mỗi buổi học, tôi thường mời ban học tập ở lại để giao nhiệm vụ trước cho các em.

Thông thường trong mỗi tiết học, tôi luôn tạo điều kiện cho các em trong ban học tập phát huy hết năng lực của mình bằng cách. Tôi hướng dẫn cho các em cứ tới hoạt động đó là ban học tập sẽ lên điều khiển lớp. Cụ thể: Đọc mục tiêu bài học, sửa bài tập…

*Ban lao động:Có nhiệm vụ theo dõi vệ sinh chung của cả lớp. Đầu mỗi buổi học phải phân công vệ sinh lần lượt cho các nhóm và kiểm tra nhóm nào chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa tốt. Cuối mỗi buổi học cũng phải kiểm tra lại xem nhóm nào thực hiện vệ sinh chưa để kịp thời nhắc nhở các bạn thực hiện tốt.

*Ban thể dục: Có nhiệm vụ theo dõi phần tập thể dục giữa giờ và các tiết học thể dục xem bạn nào thực hiện tốt, bạn nào thực hiện chưa tốt.

*Ban sức khỏe: Theo dõi về sức khỏe nếu trong lớp bạn nào có vấn đề về sức khỏe thì đưa bạn lên phòng y tế của trường hoặc chạy đi báo với cô y tế.

*Ban thư viện: Ra chơi cho các bạn mượn truyện đọc, thu truyện và sắp xếp tủ sách thư viện gọn gàng ngăn nắp.

*Ban ngoại giao:Có nhiệm vụ nếu lớp có khách đến thăm thì ra mời khách vào và biết giới thiệu về trường, lớp các góc học tập, cô giáo, các bạn…

- Sau mỗi buổi học, hội đồng tự quản ở lại về sau các bạn 5 phút để gặp giáo viên báo cáo những việc đã làm được những việc chưa làm được còn gặp khó khăn để giáo viên kịp thời tư vấn giúp đỡ và giao nhiệm vụ ngày mai cho các bạn.

* Phát huy vai trò của một nhóm trưởng:

Học theo mô hình VNEN, bàn ghế sẽ được sắp xếp cho học sinh ngồi đối diện nhau. HS tự thảo luận, tự tìm khúc mắc và tự đưa ra phương án giải quyết. Mỗi nhóm có 6 học sinh, ngồi quây tròn, mỗi bạn đều được đặt câu hỏi cho các bạn khác trả lời.

Và ưu điểm của phương pháp học nhóm được phát huy rất rõ nét trong học nhóm theo mô hình VNEN, tất cả học sinh trong nhóm đều được luân phiên nhau làm nhóm trưởng, hướng dẫn các bạn trong nhóm để điều hành các hoạt động do giáo viên yêu cầu và không có một bất cứ học sinh nào ngoài cuộc, không một học sinh nào ngồi chơi.

Tuy nhiên để tiết học dạy theo mô hình VNEN thành công hay không thì phụ thuộc rất nhiều vào các nhóm trưởng. Và công việc chính của nhóm trưởng đó là: Thay giáo viên điều hành các bạn hoạt động nhóm. Xác định được mục tiêu của hoạt động nhóm. Phân công nhiệm vụ cho công bằng giữa các thành viên trong nhóm.

Một điều quan trọng nữa đó là nhóm trưởng phải biết tự mình làm thế nào để huy động được sự tham gia của mọi thành viên vào giải quyết nhiệm vụ nhóm và phải tạo ra những tương tác đa chiều giữa các thành viên trong nhóm.
Hướng dẫn các bạn biết cách tìm kiếm hỗ trợ và giải quyết được một số khó khăn gặp phải. Biết quản lí và sử dụng thời gian hiệu quả, biết sử dụng và bảo quản tài liệu học tập. Biết tổ chức và quản lí công việc. Biết giơ thẻ khi đã hoàn thành công việc và biết giơ thẻ cứu trợ khi không tự giải quyết được công việc. Vậy làm thế nào để có các nhóm trưởng làm được điều này. Qua trải nghiệm, tôi đã tự rút ra được một số biện pháp như sau:

Cách 1:Vào cuối hoặc đầu mỗi buổi học giáo viên cần mời các nhóm trưởng ngồi lại tạo thành một nhóm và hướng dẫn các em cụ thể từng bước một.
Ví dụ: Sau khi đã ghi xong đề bài nhóm trưởng điều khiển các bạn đọc mục tiêu:
- Nhóm trưởng nói to đủ cho cả nhóm nghe (Mời các bạn đọc mục tiêu.Bạn nào đọc xong thì giơ tay lên)

-Nhóm trưởng nói:Mình mời bạn A đọc mục tiêu thứ nhất.

Mời bạn B đọc mục tiêu thứ hai….

(Sau khi các bạn trong nhóm mình đọc xong thì giơ thẻ hoàn thành lên đểgiáo viên biết đến kiểm tra).

Cách 2: Đối với những nhóm còn yếu, nhóm trưởng làm việc còn lúng túng. Vì vậy, người giáo viên phải là người “làm mẫu” và đóng vai trò là một nhóm trưởng chứ không phải vai trò là một người giáo viên.

Ví dụ:Bài 14: Bầu trời ban ngày và ban đêm”(tài liệu TN&XH lớp 3 -trang 85)

+ Nhóm trưởng (tức giáo viên làm mẫu) làm việc như sau:

Khi thực hành, với các nhóm có học sinh còn yếu nên vẫn còn lúng túng, giáo viên đứng làm mẫu cách tìm phương hướng để các em quan sát một lượt, sau đó mới để các em thực hành.

+ Sau khi các nhóm thực hành xong, nhóm trưởng điều khiến đặt câu hỏi và đố bạn trong nhóm trả lời, sau đómời bạn khác nhận xét và cuối cùng đi đến ý kiến thống nhất chung cả nhóm . Giơ thẻ hoàn thành báo để cô giáo kiểm tra. Hoặc trong các bài khác ngoài nội dung câu hỏi sách giáo khoa khi đã hoàn thành nhóm trưởng phải biết nêu thêm một số câu hỏi để kiểm tra xem các thành viên trong nhóm có nắm được kiến thức hay không.

Cách 3:Giáo viên chọn ra một số học sinh học giỏi, nhanh nhẹn trong học tập xếp cho các em này ngồi vào một nhóm để giáo viên huấn luyện khi học sinh đã biết việc và biết cách điều hành nhóm rồi thì chia các bạn này đến mỗi nhóm mỗi bạn làm nhóm trưởng các nhóm.

Cách 4:Hoặc có thể cho nhóm làm tốtlàm mẫuthảo luận một hoạt động nào đó và các nhóm còn lại chú ý để học tập theo. Giáo viên cũng không quên động viên, tuyên dương kịp thời các nhóm làm tốt.

- Một điều nữa cần phải lưu ý đó là vị trí đứng của giáo viên khi các nhóm thảo luận cũng hết sức quan trọng. Qua kinh nghiệm giảng dạy, tôi nhận thấy giáo viên nên đi xung quanh bốn bức tường của lớp vì vừa có thể bao quát các nhóm, vừa đánh giá đúng nhóm nào làm nhanh nhất, chậm nhất, nhóm nào giơ thẻ hoàn thành lên trước hay lên sau hay nhóm nào giơ thẻ cần cứu trợ, để từ đó giáo viên kịp thời đến kiểm tra hay giúp đỡ

4. Dự kiến kế hoạch lên lớp:

Để học sinh đạt được mục tiêu kiến thức – kĩ năng của bài thì bản thân mỗi giáo viên phải thật sự đầu tư vào chuyên môn. Giáo viên không phải soạn bài nhưng phải nghiên cứu kĩ bài, đọc trước xem cần điều chỉnh lôgô, nội dung nào? Có tình huống gì? Dự kiến tình huống xảy ra để chuẩn bị ghi vào sổ dự kiến kế hoạch dạy học và chuẩn bị các tình huống phát sinh. Đưa ra bài tập nâng cao không để học sinh ngồi chơi.

5. Cách thức tổ chức dạy học mônTự nhiên và xã hộitheo mô hình VNEN.
- Để thực hiện tốt một tiết dạy, bên cạnh việc tham khảo tài liệu hướng dẫn giảng dạy, giáo viên cần thường xuyên cập nhật những kiến thức, chuẩn bị bài, dự kiến các tình huống trong tiết dạy để xử lí tốt các tình huống đó.
-Tùy từng bài, tùy điều kiện của lớp, tùy trình độ của học sinh lớp mình mà giáo viên có thể thay thế hình thức dạy học, thay thế câu hỏi, thuật ngữ sao cho phù hợp giúp học sinh tham gia vào tiến trình phân tích, thảo luận một cách thuận lợi và hiệu quả.
Ví dụ:Bài 17: Thế giới thực vật và động vật quanh em (Tài liệu Tự nhiên và xã hội Lớp 3 - trang 3).
+ Thay vì học tập trong bốn bức tường quan sát tranh, ảnh trong tài liệu giáo viên có thể tổ chức cho học sinh ra sân trường quan sát trên cây thật bằng các giác quan:
+ Dùng mắt để quan sát kết hợp tay chỉ và nói đúng tên các bộ phận của cây hoa ( rễ, thân, lá, hoa).

+ Dùng mũi để nhận biết hương thơm.
+ Dùng tay để sờ thân xem cứng hay mềm, sờ lá xem trơn hay nhám…

Qua thực tế học sinh được tận mắt nhìn, sờ, ngửi giúp cho học sinh có hứng thú học tập hơn, nắm chắc kiến thức và nhớ kiến thức lâu hơn.
- Tăng cường tính chủ động nhận thức và khai thác vốn sống của học sinh:
Giáo viên lựa chọn những bài có vấn đề nhằm củng cố và phát huy trình độ vốn có của học sinh trong chương trình để lựa chọn phương pháp.

* Thông qua hoạt động đóng vai, trò chơi trong học tập để tạo hứng thú cho học sinh:
Trò chơi trong môn Tự nhiên và xã hội thường được sử dụng khởi động để giới thiệu bài, để thư giãn hay để truyền tải một kiến thức nào đó hoặc để kết thúc bài học.
Ví dụ: Bài 7: Làm gì để xương và cơ phát triển? - Tài liệu Tự nhiên & Xã hội 3.
- Phần khởi động tạo hứng thú để vào bài học giáo viên định hướng cho ban văn nghệ lên tổ chức trò chơi “ Tôi bảo”; bảo các bạn cười, khóc, nhăn nhó… Kết thúc trò chơi giáo viên đặt vấn đề dẫn dắt vào bài học.
- Để kiểm tra xem học sinh đã hiểu đúng nội dung bài học chưa thì cuối tiết học giáo viên có thể tổ chức cho học sinh chơi trò chơi :“Ai nhanhai đúng” theo hình thức nối tiếp nhau lên gắn các thẻ chữ giáo viên ghi sẵn các nhómăn, ngủvới những việc làm theo hai nhóm; nhóm có lợi cho sức khỏe, nhóm có hại cho sức khỏe.

- Vì đặc điểm hồn nhiên và hiếu động của trẻ nên việc tổ chức trò chơi học tập sẽ làm cho các em thấy vui mà học, học mà chơi, chơi mà học.
- Trong tiết học tăng cường phân loại đối tượng học sinh để nâng cao dần độ khó đối với học sinh trên chuẩn phù hợp với trình độ, năng lực của học sinh.
Trong lớp học chủ yếu là học sinhtự họctheo chỉ dẫn của Tài liệu hướng dẫn học, học theo nhóm, theo cặp, hoặc giáo viên làm việc trực tiếp với cá nhân, nhóm.

- Giáo viên không nhất thiết phải tổng kết, kết luận kiến thức ở cả lớp mà chỉ cần thực hiện nhận xét, kết luận ở nhóm. Chỉ khi một một dung kiến thức nào đó mà phần đông là học sinh không hiểu hoặc hiểu sai vấn đề thì giáo viên mời giảng giải trước lớp.

* Với lôgô ở trước mỗi hoạt động, học sinh có thể dễ dàng nhìn vào đó và lần lượt thực hiện các yêu cầu trong từng hoạt động. Thực tế khi giảng dạy, giáo viên lúng túng khi yêu cầu của lôgô tiếp theo là hoạt động cả lớp nhưng do nhịp độ học tập của học sinh chênh lệch nhau có nhóm làm nhanh có nhóm làm chậm giáo viên chưa biết xử lý thế nào? Với khó khăn trên, chúng tôi đã thống nhất đưa ra một số giải pháp sau:

1. Nhóm hoặc cá nhân làm xong giáo viên kiểm tra và có thể phân công các bạn đó đi đến giúp đỡ những bạn chưa hoàn thành xong.

2. Hoặc trong khi kiểm tra, giáo viên cảm thấy nhóm đó còn một hoặc hai học sinh chưa nắm kỹ kiến thức hay một nội dung nào đó thì giáo viên có thể yêu cầu nhóm kiểm tra và giúp đỡ bạn nội dung đó.

3. Giao thêm nhiệm vụ có nội dung tương đương với nhiệm vụ mà các em vừa làm xong hoặc giáo viên cho học sinh làm thêm bài tập.

6. Làm thế nào để giáo viên giám sát và hỗ trợ hoạt động học tập của cả lớp?
- Giáo viên có thể đứng xung quanh lớp quan sát về sắc thái, nét mặt, hành động, cử chỉ xem học sinh đã hiểu nhiệm vụ chưa? Có chú tâm vào thực hiện nhiệm vụ không? Có chăm chú thảo luận không? Thấy nét mặt biểu lộ hoài nghi, ngơ ngác tư thế không bình thường, người lắc lư bất ổn, đây là dấu hiệu cho thấy học sinh chưa thực sự hiểu nhiệm vụ. Giáo viên cần đến bên cạnh hỏi xem em đang gặp khó khăn gì?Cô hay bạn nào có thể giúp được em?

- Tận dụng nguồn lực hỗ trợ từ học sinh : Hội đồng tự quản, nhóm trưởng.

- Vậy làm sao để tránh học sinh trong nhóm ỷ lại nhóm trưởng? Giáo viên tách học sinh nhận thức chậm để hỗ trợ trực tiếp, giúp các em tự tin, sau khi đã đạt mặt bằng chung cùng với các bạn trong lớp thì cho về nhóm. Thay đổi học sinh trong các nhóm, không để nhóm cố định.

- Làm sao để giáo viên giám sát kiến thức của các em để đảm bảo học sinh hiểu đúng. Đặc biệt ở môn Tự nhiên vã xã hội là nghiên cứu về sự vật hiện tượng, môi trường xung quanh các em. Kinh nghiệm các em có nhưng để chính xác kiến thức của các em từ cuộc sống thành những kiến thức phù hợp với mục tiêu bài học (từ đó hình thành khái niệm đúng) là rất khó. Với vấn đề này chúng tôi giải quyết như sau:

- Giáo viên phải bao quát lớp, dùng học sinh giỏi để điều khiển nhóm. Giáo viên phải giám sát nguồn tài liệu, đồ dùng học tập hình thành kiến thức (tranh, bài đọc) phải chính xác.

- Giáo viên giám sát kiến thức: Nếu các em đã làm qua bài tập đó, giáo viên có thể hỏi 1-2 em kết quả bài tập đó. Nếu các em yếu nhất nhóm mà trả lời đúng là có thể yên tâm kiến thức các em chính xác.

- Làm thế nào để viên hỗ trợ một vài học sinh yếu trong các nhóm? giáo viên giám sát kiểm tra ở nhiều cấp độ: Cặp đôi giám sát, nhóm trưởng giám sát.
- Dùng học sinh để hỗ trợ học sinh khác. Giáo viên có nhiệm vụ huấn luyện, đào tạo học sinh có thói quen hỗ trợ, giúp đỡ các bạn; càng nhiều học sinh có thói quen hỗ trợ bạn càng tốt.

7. Đánh giá kết quả học tập của học sinh:

- Nội dung dạy học được thiết kế theo quy trình đảm bảo cho học sinh có khả năng tự học, chuyển quá trình dạy học thành quá trình tự học được hướng dẫn cho học sinh. Trong kiểm tra đánh giá, coi trọng cả đánh giá trong quá trình dạy học với việc đánh giá kết quả thực hiện học tập của học sinh theo tinh thần đánh giá vì sự tiến bộ của học trò. Chính việc kiểm tra trong quá trình dạy học đó giúp giáo viên phát hiện những nhân tố tích cực, những cố gắng, tiến bộ của học sinh để động viên, tạo hứng thú học tập; Đồng thời phát hiện những khó khăn mà học sinh có thể không vượt qua được để hướng dẫn các em khắc phục khó khăn.

- Các em học sinh có năng lực, hoàn cảnh khác nhau nên có thể được chấp nhận tiến độ hoàn thành bài học khác nhau. Những em hoàn thành trước thì có thể chuyển sang bài sau hay được giáo viên giao thêm nhiệm vụ để phát huy năng lực cá nhân cao hơn. Những em có khó khăn thì được giãn thời gian học tập một cách phù hợp. Đây là một đặc điểm rất nhân văn của mô hình này. Chính mô hình dạy học này tạo điều kiện để chúng ta đạt được mục tiêu dạy học cao nhất phù hợp với từng học sinh và cũng đảm bảo sự hỗ trợ, cộng tác giữa các em”.

8. Xây dựng tập thể lớp đoàn kết, hòa đồng trong giờ giải lao:

- Muốn xây dựng được mối đoàn kết giữa các bạn trong lớp với nhau, thì vai trò của hội đồng tự quản là hết sức quan trọng và rất cần thiết vì nó có thể thay giáo viên điều hành lớp tham gia tất cả các hoạt động trong nhà trường.Mặt khác giúp các em phát triển lòng khoan dung, sự tôn trọng, bình đẳng, tinh thần hợp tác và đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, đặc biệt là ban văn nghệ của lớp. Ban văn nghệ dưới sự hướng dẫn của giáo viên, vào giờ ra chơi ban văn nghệ tự tổ chức, tự khởi xướng ra các hoạt động, các trò chơi và tôi cũng cùng tham gia chơi với học sinh. Trước khi chơi, giáo viên thường đưa ra những giải thưởng thú vị, giải nhất có thể là gói bánh, gói kẹo, hộp phấn…. để kích thích tinh thần chơi của các em.

Ví dụ:Trò chơi “Kéo co” không chỉ đòi hỏi sức mạnh, sự khéo léo mà còn đòi hỏi tinh thần đoàn kết cao. Nếu như không có sự hợp tác - đoàn kết cao thì chắc chắn sẽ thua cuộc.

- Qua trò chơi, giáo viên vừa giúp ban văn nghệ thêm mạnh dạn, tự tin, rèn luyện thêm kỹ năng điều hành lớp vui chơi, văn nghệ, vừa giúp các em thể hiện sự đoàn kết, hợp tác, giúp đỡ nhau để cùng nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ. Thông qua những giờ giải trí thú vị ấy, học sinh càng thân thiết, quý mến nhau hơn và chắc chắn rằng các em sẽ sẵn sàng giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn trong học tập cũng như trong cuộc sống.

- Học sinh rất thích học theo mô hình này, các em trở nên mạnh dạn, tự tin, không còn nhút nhát rụt rè như trước nữa. Đặc biệt, học sinh yếu giảm hẳn đó là nhờ sự hợp tác, đoàn kết, giúp đỡ giữa học sinh với học sinh rất cao ở trong các nhóm và thể hiện rất rõ trong từng tiết học.

Áp dụng dạy học:

Qua một thời gian tìm tòi, nghiên cứu những biện pháp dạy và học môn Tự nhiên và xã hội lớp 3 có hiệu quả, tôi đã áp dụng một số biện pháp tổ chức dạy học phù hợp vào bài dạy:

Bài 21:Lá cây có đặc điểm gì?(TN-XH lớp 3 -trang 21)

Đối tượng là học sinh lớp 3A, trường Tiểu học A Châu Giang, năm học (2016-2017).

* Sau khi dạy thí nghiệm, kết quả rất khả quan cũng bởi: Trong khi tiến hành dạy bài này tôi đã sử dụng 5 bước dạy theo mô hình và vận dung linh hoạt các phương pháp nêu trên. Chẳng hạn:

Bước 1:Tạo hứng thú cho học sinh.

- Để giới thiệu bài hấp dẫn, tôi gợi ý để học sinh tìm ra những bài hát có liên quan đến bài học.

- Phát huy vai trò của Hội đồng tự quản, tôi mời Ban văn nghệ cho lớp hát bài: “Hoa lá mùa xuân” của tác giảHoàng Hà.Từ đó giáo viên dẫn dắt vào bài.

Bước 2:Tổ chức cho học sinh trải nghiệm.

- Trước khi vào Hoạt động cơ bản, tôi yêu cầu mỗi nhóm đem những loại cây mà cô đã dặn chuẩn bị từ tiết học trước bày lên bàn.

- Khi cho các nhóm làm việc với các mục của Hoạt động thực hành, giáo viên cần sử dụng bước tiếp theo.

Bước 3:Phân tích, khám phá, rút ra kiến thức mới.

Mục 1: Chúng em tìm hiểu về lá cây:

Vì lá thứ 2, 3 và 5( ảnh chụp trong SHDH) học sinh khó xác định là lá gì để viết kết quả quan sát vào phiếu học tập, giáo viên gợi ý cho học sinh quan sát những lá cây của nhóm mình sưu tầm, đem đến hoặc nhóm nào có ít loại lá, giáo viên cho nhóm đó quan sát vào góc thiên nhiên. Lúc này giáo viên phát huy vai trò của nhóm trưởng cho các bạn thảo luận và hoàn thành vào phiếu học tập.

Bước 4:(Tiết 2)

- Khi quan sát học sinh thực hiện phần Hoạt động thực hành. Với phần b) mục 2 có câu hỏi: Điều gì sẽ xảy ra nếu cây rau cải và cây rau muống sống ở nơi ít ánh sáng? Một số học sinh nhận thức chậm sẽ gặp khó khăn khi trả lời câu hỏi này, các em giơ thẻ cứu trợ, giáo viên giúp học sinh đó bằng cách nhấn mạnh lại kiến thức ở mục 8 phần hoạt động cơ bản để học sinh nhận thấy cây cần ánh sáng để quang hợp. Với học sinh tiếp thu nhanh giáo viên có thể dùng các câu hỏi gợi mở để mở rộng, nâng cao.

Bước 5:Ứng dụng:

- Với hai yêu cầu trong sách (trang 24), giáo viên có thể đưa ra thêm yêu cầu với học sinh tiếp thu nhanh: Tìm hiểu, trao đổi với bố mẹ về những loại lá cây có tác dụng cho sức khỏe con người.

Kết thúc tiết học dạy tôi cho học sinh làm một số câu hỏi trắc nghiệm:

Đánh dấu nhânXvào ô trống trước câu trả lời đúng:

Câu 1: Lá cây có những bộ phận nào?

“ cuống lá “ gân lá “ phiến lá “ cành lá

Câu 2: Các chức năng của lá cây?

“ sinh sản “ quang hợp “ thoát hơi nước “ hô hấp

Câu 3: Điều gì sẽ xảy ra nếu đem cây trồng ở nơi thiếu ánh sáng?

“ cây phát triển bình thường“ cây chết “ cây không phát triển

D.KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM:

Tác giả: GV: Lê Thị Kim Dung

Xem thêm



Văn nghệ chào mừng khai giảng năm học 2017 - 2018
Hội thi HĐNGLL