tin tức-sự kiện

SƠ KẾT 3 NĂM THỰC HIỆN MÔ HÌNH VNEN

Thực hiện sự chỉ đạo của Phòng GD&ĐT Thành phố Phủ Lý, chiều ngày 24/4/2017 trường Tiểu học Châu Sơn đã tổ chức Hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện mô hình trường học mới Việt Nam. Dưới đây là toàn văn bản báo cáo sơ kết:

BÁO CÁO SƠ KẾT

BA NĂM TRIỂN KHAI MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI VIỆT NAM

Thực hiện công văn số 179/PDĐT- TH của phòng GD&ĐT thành phố Phủ về việc sơ kết một năm triển khai và thực hiện giảng dạy theo Mô hình trường học mới Việt Nam năm học 2016-2017;

Căn cứ tình hình triển khai, thực hiện dạy học theo mô hình VNEN tại trường năm học 2016-2017, Trường Tiểu học Châu Sơn thành phố Phủ Lý xin báo cáo đánh giá kết quả, tổng kết kinh nghiệm việc triển khai và thực hiện dạy học theo mô hình VNEN như sau:

I. Đặc điểm, tình hình nhà trường:

- Năm học 2016-2017, tổng số học sinh toàn trường là 631 em với quy mô 19 lớp. 100% các khối lớp học 10 buổi/ tuần. Trong đó, học sinh khối 2 là 142/4 lớp; học sinh khối 3 là 118/4 lớp; học sinh khối 4 là 1 được học theo chương trình VNEN .

- Mỗi lớp học có 1 phòng học độc lập với đầy đủ trang thiết bị, cơ sở vật chất cần thiết: Bàn ghế, điện thắp sáng, quạt mát, tủ sách, giá sách, không gian lớp học được bố trí theo tinh thần của VNEN.

- Các lớp học khối 2,3,4 được tổ chức theo mô hình Hội đồng tự quản và các hoạt động của các Ban.

- Các em học sinh có đầy đủ tài liệu học tập, được rèn luyện các kỹ năng cần thiết trong học tập, giao tiếp, rèn thói quen trong các hoạt động tự quản.

- Các đồng chí giáo viên giảng dạy lớp 2, 3,4 đều có trình độ trên chuẩn, được bồi dưỡng, học tập giảng dạy theo mô hình, được trang bị đủ tài liệu giảng dạy, các loại sách tham khảo, hướng dẫn của chương trình.

II. Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện:

Qua ba năm triển khai và thực hiện theo mô hình trường học mới, thực sự chúng tôi gặp không ít khó khăn nhưng đã vượt qua và phát huy hiệu quả tích cực, nâng cao kết quả dạy - học trong nhà trường.

Những năm đầu triển khai, để thay đổi được cách học, cách dạy truyền thống, chúng tôi gặp không ít khó khăn: BGH, GV khối 2,3 được đi dự giờ học tập kinh nghiệm thực tế tại trường TH Thanh Lưu, Thanh Liêm - trường trực tiếp được thụ hưởng dự án VNEN sau đó về thực hiện dạy theo VNEN. Vì vậy, giáo viên chưa có kinh nghiệm, học sinh chưa quen với phương pháp học mới, cơ sở vật chất lại không phù hợp nên thời gian đầu, ban giám hiệu nhà thường xuyên tiếp nhận những ý kiến từ phía giáo viên, từ phía cha mẹ học sinh lời kêu ca phàn nàn: “Học sinh nhỏ như vậy làm sao điều khiển hoạt động nhóm được?”; “ Học như thế này không hiệu quả”; “ Giáo viên phải đi nhiều nhóm hướng dẫn nên không đủ thời gian cho 1 tiết học để hoàn thành nội dung bài”...Nhiều phụ huynh băn khoăn không biết mô hình này có phù hợp với lứa tuổi của các em học sinh tiểu học không? Các em có tiếp thu được kiến thức đầy đủ và hiệu quả hơn cách dạy và học truyền thống của Việt Nam không? Học sinh lớp 2 đọc chưa thông, viết chưa thạo làm sao đã tự đọc văn bản để tìm hiểu nội dung bài được, học nhóm như thế nàynhững em học sinh nhận thức chậm, chỉ tạo cơ hội cho các em nói chuyệnnhiều....

Giải tỏa những thắc mắc của giáo viên, lo âu của các bậc phụ huynh và tâm lý của các em học sinh khi mới tiếp cận mô hình VNEN, ban giám hiệu nhà trường đã tham mưu với Đảng ủy, chính quyền địa phương, phối hợp với ban đại diện cha mẹ học sinh mở hội nghị họp toàn thể cán bộ giáo viên, phụ huynh toàn trường tuyên truyền vềcái hay, cái đẹp, tính ưu việt của VNEN và cho họ biết đây là mô hình nhà trường tiên tiến, hiện đại, phù hợp với mục tiêu phát triển và đặc điểm của giáo dục nước ta,đồng thời đưa vào nghị quyết chỉ đạo yêu cầu giáo viên toàn trường phải tham gia thực hiện. Để khắc phục những khó khăn ban đầu, nhà trường Tu sửa dần cơ sở vật chất cho phù hợp với lớp học VNEN, tổ chức nhiều chuyên đề dạy học theo mô hình VNEN, dự giờ trao đổi rút kinh nghiệm ở tại trường, cụm trường giúp giáo viên và học sinh nắm được cách thức tổ chức lớp học, phương pháp dạy - học, cách đánh giá HS, cách làm, cách sử dụng các công cụ hỗ trợ, các góc họctập và đồ dùng dạy học…

1.Thuận lợi:

- Nhà trường luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của Sở GD&ĐT, phòng GD

&ĐT Phủ Lý.

- Ban giám hiệu, các đồng chí giáo viên nhiệt tình, có trách nhiệm, có ý thức học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn.

- Cở sở vật chất của nhà trường đáp ứng đủ yêu cầu dạy- học.
- Sách giáo viên và học sinh có sự thống nhất về mặt nội dung trên cùng một bộ, giảm thiểu áp lực về nội dung, số lượng bài cũng như lượng sách vở/môn học.
- Học sinh nắm được kiến thức ngay tại lớp theo yêu cầu đạt chuẩn kiến thức và kỹ năng mà Bộ GD&ĐT ban hành. Học sinh không phải làm thêm bài tập về nhà giúp các em có thời gian quây quần, trò chuyện bên người thân sau một ngày làm việc và hoàn thành hoạt động ứng dụng sau mỗi bài.

2. Khó khăn:


- Sĩ số lớp học khối lớp 3 đông ( 146 HS /4 lớp = 36,5 HS/ lớp) khó khăn trong việc kê bàn ghế ngồi theo nhóm và tổ chức các hoạt động học tập cũng như quản lý học sinh.
- Thiết bị và phương tiện dạy chưa đáp ứng nhu cầu dạy học: Đồ dùng phần lớn là do GV tự làm, không có đồ dùng trang bị hay sự hỗ trợ về tài chính cho GV trong việc làm đồ dùng. Các loại sách tham khảo trợ giúp cho giáo viên rất hạn chế. Giá tiền SGK cho HS quá cao với các loại sách không phải là chương trình VNEN.

- Bàn ghế thiết kế theo tiêu chuẩn hiện nay chưa phù hợp với hình thức dạy học VNEN làm cho HS rất khó ngồi học tập và thảo luận nhóm nhất là khi chuyển từ hoạt động học nhóm sang hoạt động toàn lớp.

- Các em học sinh lớp 2 còn nhỏ nên giáo viên rất vất vả trong việc tổ chức lớp học và hướng dẫn các em kỹ năng tổ chức, điều hành các hoạt động.

- Giáo viên giảng dạy lâu năm theo phương pháp truyền thống nên việc đổi mới phương pháp chưa dễ thay đổi được ngay, cần phải có thời gian.

-Việc giảng dạy theo nhóm, theo trình độ học sinh đòi hỏi giáo viên phải có sự bao quát lớp và quản lý sâu sát chặt chẽ cũng là một khó khăn.

III. Quá trình triển khai:

1. Về công tác chỉ đạo :

- Nhà trường đã triển khai kịp thời những văn bản chỉ đạo của cấp trên về phương pháp tổ chức dạy học, đánh giá học sinh theo chuẩn kiến thức, kỹ năng mà Bộ GD&ĐT đã ban hành.

- Nhà trường thực hiện nghiêm túc sự chỉ đạo của Sở GD&ĐT, phòng GD&ĐT thành phố về chương trình VNEN: Thực hiện theo 5 bước giảng dạy và 10 bước học tập của học sinh, điều chỉnh nội dung, hình thức học tập phù hợp với đặc điểm tình hình học sinh/lớp, thực hiện đánh giá, xếp loại học sinh theo đuungs quy định.

- Tổ chức sinh hoạt tổ, khối chuyên môn 4 lần/tháng theo hướng “Nghiên cứu bài học” nhằm trao đổi thống nhất về nội dung chương trình, phương pháp tổ chức, chia sẻ những kinh nghiệm hay... (như: điều chỉnh lô gô, câu lệnh, ngữ liệu ...) cho phù hợp với thực tế, đồng thời phân tích để mọi giáo viên hiểu hết dụng ý của tài liệu và nắm chắc nội dung đề xuất những tình huống trong giờ dạy từ đó có định hường đúng đắn, linh hoạt, sáng tạo trong khi tổ chức các hoạt động học tập, GD, hướng dẫn phù hợp với từng đối tượng học sinh của lớp và đặc điểm của tiết học.

- Ban giám hiệu thường xuyên dự giờ, thăm lớp rút kinh nghiệm việc giảng dạy và tổ chức lớp học VNEN.

- Tổ chức hội thảo toàn trường: Giới thiệu mô hình VNEN, dự giờ, rút kinh nghiệm, học tập phương pháp giảng dạy.

- Làm tốt công tác tuyên truyền đối với phụ huynh học sinh qua họp phụ huynh học sinh đầu năm học, gặp gỡ trực tiếp, trao đổi qua điện thoại để phụ huynh hiểu, ủng hộ và phối hợp trong việc giáo dục học sinh.

2. Về hoạt động dạy và học của giáo viên, học sinh:

- Giáo viên thực hiện nghiêm túc quy chế chuyên môn, nôi dung, chương trình giảng dạy.

- Tham gia đầy đủ các hoạt động chuyên môn của tổ khối cũng như của nhà trường, cụm chuyên môn như thao giảng, dự giờ để học hỏi lẫn nhau và tích luỹ kinh nghiệm trong dạy - học theo mô hình trường học VNEN.

- Làm tốt công tác tổ chức lớp học theo mô hình trường học mới. Thường xuyên sử dụng các công cụ hỗ trợ học tập (Bảng thi đua, hộp thư vui, hộp thư cá nhân ...) vào quá trình học tập nhằm gây hứng thú học tập cho HS và tạo không khí lớp học thoải mái, nâng cao chất lượng dạy học.

- Linh hoạt chủ động trong việc điều chỉnh cho phù hợp tùy theo đối tượng học sinh của từng lớp; thực hiện ghi chép nhật kí cụ thể ở mỗi bài dạy để điều chỉnh, rút kinh nghiệm khi gặp những vướng mắc về nội dung, hình thức tổ chức các hoạt động theo tài liệu. Có sổ theo dõi, nhận xét kết quả học tập của học sinh qua từng bài, từng thời điểm cụ thể.

- Chuẩn bị chu đáo ĐDDH: Phiếu bài tập, hình ảnh, đồ dùng trực quan...; dự kiến tình huống trả lời, đáp án các câu hỏi, bài tập...

- Thực hiện nghiêm túc việc đánh giá, xếp lọai học sinh theo thông tư 22/2016.

- Các em học sinh được trang bị đồ dùng học tập và Tài liệu hướng dẫn dạy học tương đối đầy đủ.

- Được tương tác với các bạn trong nhóm; được tự đánh giá quá trình học tập của bản thân. Khẳng định được vai trò của mình trong điều hành các bạn trong nhóm học tập; trong các hoạt động của lớp.

IV. Kết quả đạt được:

- Qua hai năm triển khai thực hiện Dự án Mô hình trường học mới, giáo viên và các em học sinh đã tiếp cận, làm quen với phương pháp, các thức tổ chức dạy - học của chương trình và đạt được hiệu quả cao

- Các lớp triển khai VNEN đã có sự đổi mới, không khí học tập, các mối quan hệ hợp tác trong và ngoài nhà trường bước đầu được cải thiện, hướng về người học, hướng về phát triển năng lực đối với học sinh.

- Giáo viên giảng dạy theo mô hình VNEN đã hạn chế được sự giảng giải, thuyết trình, tập trung vào việc tổ chức, quan sát, định hướng, hỗ trợ, thúc đẩy, quá trình học tập của học sinh.

- Học sinh cơ bản đã thay đổi được thói quen học tập, các em đã làm quen với cách học theo nhóm, dưới sự điều hànhcủa nhóm trưởng, hỗ trợ của giáo viên, học sinh được rèn luyện nhiều hơn về kỹ năng nghe, nói; kỹ năng đánh giá và tự đánh giá; kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp trong cách hoạt động học theo nhóm.

- Tạo được sự đồng thuận của phụ huynh học sinh và cộng đồng cũng như sự ủng hộ và tích cực tham gia hỗ trợ cho nhà trường, giáo viên và học sinh thông qua các hoạt động cụ thể như tạo không gian lớp học( góc địa phương, cộng đồng),cùng tham gia các hoạt động làm vệ sinh lớp học với học sinh …

*Kết quả kiểm tra định kì môn Tiếng việt và Toán

1. Cuối năm học 2014 – 2015:

Khối

2

HS

Tiếng Việt ( Điểm)

Toán ( Điểm)

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

2013-2014

106

0

0

0

0

2

1

27

33

39

4

0

0

0

0

2

3

30

19

48

11

2014-2015

121

0

0

0

0

1

7

17

34

57

5

0

0

0

0

1

16

17

18

36

16

2. Kết quả kiểm tra cuối năm học 2015 – 2016:

Khối

HS

Tiếng Việt ( Điểm)

Toán ( Điểm)

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

Khối

2

Khối

3

121

0

0

0

0

3. Kết quả kiểm tra kì I năm học 2016 – 2017:

Khối

HS

Tiếng Việt ( Điểm)

Toán ( Điểm)

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

2

142

2

5

7

35

60

33

1

1

5

10

21

61

43

3

118

1

3

5

16

31

44

18

1

3

2

5

16

37

54

V. Đề xuất, kiến nghị:

- Đề nghị Phòng GD&ĐT sớm có kế hoạch bồi dưỡng, tổ chức cho giáo viên học tập chuyên môn trong hè để làm quen và nghiên cứu nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy các khối dạy theo mô hình VNEN mới.

- Đề nghị Sở GD&ĐT sớm có tài liệu dạy - học, tài liệu tham khảo cho giáo viên và học sinh ngay từ cuối năm học trước để thuận lợi cho nhà trường, giáo viên và phụ huynh học sinh.

- Đề nghị Bộ giáo dục: đổi mới đồng bộ và sớm có tài liệu hướng dẫn học các môn Đạo đức, Thủ công (Kĩ thuật), Mĩ thuật, Thể dục, Âm nhạc vì hiện nay các môn này vẫn dạy theo chương trình và SGK cũ, giáo viên rất vất vả để thiết kế các logo hướng dẫn HS.

Với trường chúng tôi, kiến nghị Bộ giáo dục nghiên cứu chỉ nên chỉ tổ chức học sinh từ lớp 3 trở lên học theo chương trình VNEN vì theo đề nghị của phụ huynh cũng như qua thực tế 3 năm đã triển khai, chúng tôi thấy học sinh lớp 2 đọc chưa thật thông, viết chưa thạo mà để các em tự đọc, hiểu một văn bản mới và tự ghi lại kiến thức đã rút ra sau hoạt động nhóm trong 1 tiết học khoảng 35 phút vớí rất nhiều em thực sự khó khăn. Việc hướng dẫn, bồi dưỡng một nhóm trưởng để có thể điều khiển nhóm hoạt động để đạt mục tiêu từng bài rất vất vả cho giáo viên cũng như học sinh vì hầu hết kiến thức ở đầu cấp là mới đối với các em, nếu giáo viên không gặp gỡ học sinh để định hướng trước cho các em ở mỗi bài học thì các em không có khả năng điều khiển tốt hoạt động nhóm được.

Nên tách rõ từng phân môn trong từng tiết học như: Tập đọc, Chính tả, Kể chuyện, Tập làm văn, Luyện từ và câu, Tập viết. Như vậy HS mới nắm vững kiến thức, cách học một cách có hệ thống và có sự liên hệ logic, dễ so sánh giữa kiến thức mới và kiến thức cũ như cách đọc đúng, đọc hay một văn bản, biết viết một đoạn văn, bài văn theo từng chủ đề , biết kể lại một câu chuyện rõ ràng… Trong chương trình môn Tiếng Việt các lớp mô hình VNEN hiện nay có nhiều tiết vừa đọc hiểu vừa luyện từ và câu vừa tập viết… rất khó đạt mục tiểu đề ra trong thời gian khoảng 35 phút.

Tác giả: THCS

Xem thêm