Tin tức : PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC/

BÀN TAY NẶN BỘT - 'Cuộc phiêu lưu đẹp' trong trường học Việt

Năm học 2013-2014, phương pháp dạy học “Bàn tay nặn bột” chính thức chuyển từ thí điểm sang dạy đại trà trên cả nước. Song “cuộc phiêu lưu đẹp đẽ” trong trường học Việt Nam mới chỉ đang bắt đầu.

Bạn có ngạc nhiên?

“Khi trẻ tiểu học trả lời bố mẹ: “Ồ, con vừa đi đo bán kính, chu vi trái đất về ấy mà; hay con vừa quan sát hiện tượng Sao Kim đi qua Mặt trời thôi!” – Viện sĩ Pierre LENA Viện Hàn lâm KH Pháp và Tổ chức bàn tay nặn bột bắt đầu bài thuyết trình về phương pháp dạy học Bàn tay nặn bột (BTNB).

Viện sĩ cho rằng: “Tất cả thí nghiệm trên trẻ đều có thể làm được với những vật dụng đơn giản và hướng dẫn của giáo viên (GV). Đừng để vẻ đẹp và kiến thức khoa học chỉ giới hạn trong một vài cá nhân. Hãy biến nó thành cuộc phiêu lưu kỳ thú, đẹp đẽ. Đừng bao giờ dạy trẻ khi chưa kích thích sự tò mò, ham khám phá của trẻ”.

Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển tâm đắc: “BTNB là một phương pháp dạy học tích cực, hơn thế nữa là chiến lược giáo dục khoa học”

Nhận thấy lợi ích cho cả cô và trò trong quá trình giảng dạy các bộ môn khoa học tự nhiên, bộ đã quyết định triển khai thử nghiệm trên diện rộng ở chục tỉnh từ 2011 và chính thức triển khai đại trà ở cấp tiểu học và THCS từ 2013-2014.

BTNB là phương pháp dạy học khoa học dựa trên cơ sở của sự tìm tòi - nghiên cứu, áp dụng cho việc dạy học các môn khoa học tự nhiên.

Dưới sự giúp đỡ của GV, chính học sinh tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra để từ đó hình thành kiến thức cho mình.

10 nguyên tắc cơ bản khi áp dụng “Bàn tay nặn bột” trong giảng dạy của giáo viên

Thứ nhất: Học sinh quan sát sự vật, hiện tượng trong thực tế gần gũi với các em để các em dễ cảm nhận, dễ thực nghiệm trên chúng.

Thứ hai: Trong quá trình tự thực nghiệm, học sinh đưa ra ý kiến, nêu thắc mắc, kết luận riêng và thảo luận trong tập thể (nhóm, cả lớp) từ đó rút ra kiến thức khoa học.

Thứ ba: Giáo viên chỉ thực hiện vai trò đề xuất, tổ chức các thực nghiệm cho học sinh theo một tiến trình sư phạm chặt chẽ. Giáo viên không làm sẵn cho học sinh.

Thứ tư: Áp dụng phương pháp này cần một thời lượng tối thiểu là 2 giờ/tuần trong nhiều tuần liền cho một đề tài. Tính liên tục của các hoạt động và những phương pháp giáo dục được bảo đảm suốt trong thời gian học tập.

Thứ năm: Mỗi học sinh có quyển vở thực hành riêng do chính các em ghi chép theo ngôn từ và cách thức của riêng mình.

Thứ sáu: Mục đích chính của phương pháp này là học sinh tiếp nhận được các khái niệm khoa học và kĩ thuật thực hành. Song song đó là củng cố ngôn ngữ viết và nói của các em.

Thứ bảy: Phụ huynh học sinh và tất cả mọi người xung quanh cần được khuyến khích hỗ trợ những điều mà học sinh, lớp học cần để thực nghiệm.

Thứ tám: Các đối tác khoa học (trường ĐH, CĐ, trường nghề, viện nghiên cứu…) ở địa phương cần giúp các hoạt động của lớp theo khả năng của mình.

Thứ chín: Ngành giáo dục, trường sư phạm giúp giáo viên các kinh nghiệm và phương pháp giảng dạy.

Thứ mười: Giáo viên cần chủ động tự học, tự tìm hiểu tài liệu, kiến thức liên quan; trao đổi với đồng nghiệp, các nhà khoa học… để nâng cao kiến thức. Giáo viên là người chịu trách nhiệm giáo dục và đề xuất những hoạt động của lớp mình phụ trách.

Văn Chung

Xem thêm...

Thăm dò ý kiến

Bạn biết cổng thông tin Demo qua đâu?

Qua báo đài
Qua bạn bè
Qua Internet
Khác

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang online: 1

Hôm nay: 4

Tổng lượng truy cập: 226173