Tin tức : Khuyến học - Gương sáng/

BÀI DỰ THI VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN: GIỚI THIỆU VỀ LÀNG NGHỀ SỪNG ĐÔ HAI

BÀI DỰ THI

VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN:

NGỮ VĂN- GDCD- LỊCH SỬ- ĐỊA LÍ- HÓA HỌC- SINH HỌC

ĐỂ GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG, VẤN ĐỀ THỰC TIỄN

BÀI: GIỚI THIỆU VỀ LÀNG NGHỀ SỪNG ĐÔ HAI

I. Tình huống cần giải quyết là:                                                                     

    Trong chương trình tổ chức Lễ phong tặng danh hiệu “ Nghệ nhân Nhân dân- Nghệ nhân Ưu tú” trong lĩnh vực nghề thủ công mỹ nghệ và Triển lãm- Hội chợ hàng thủ công mỹ nghệ năm 2016 tại Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long- Hà Nội từ ngày 26 đến ngày 29 tháng 8 năm 2016, làng nghề Sừng  Đô Hai huyện Bình Lục tỉnh Hà Nam có nhiệm vụ giới thiệu về làng nghề của địa phương xã An Lão, các em là những người được sinh ra từ làng nghề. Bằng kiến thức liên môn và bằng kiến thức thực tế của mình em hãy hoàn thành nhiệm vụ của đoàn giao cho.

II. Mục tiêu giải quyết tình huống:

Thông qua giải quyết tình huống, bài giới thiệu nhằm mục đích tuyên truyền để mọi người về dự hiểu, trân trọng, sử dụng các sản phẩm mỹ nghệ Sừng từ làng nghề để sản phẩm có sức lan toả trong cộng đồng và thế giới góp phần phát triển kinh tế Làng nghề nói riêng và kinh tế địa phương nói chung. Đồng thời giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy truyền thống làng nghề, ý thức bảo vệ môi trường.

III.Tổng quan về các nghiên cứu liên quan đến việc giải quyết tình huống:

Cần phối  kết họp các nghệ nhân, nhân dân với cán bộ địa phương xã An Lão, Phòng văn hóa huyện Bình Lục, phòng công thương huyện Bình Lục, Khuyến công tỉnh Hà Nam.

       - Lịch sử hình thành làng nghề mỹ nghệ sừng Đô Hai

       - Nguyên liệu, dụng cụ, kĩ thuật,các loại hình sản phẩm của làng nghề

       - Giữ gìn và phát huy truyền thống làng nghề

       - Bảo vệ môi trường làng nghề

IV. Giải pháp giải quyết tình huống:

   Vận dụng các kiến thức liên môn:

   - Ngữ văn – sử dụng từ ngữ, phương thức biểu đạt phù hợp cho bài viết.

   - Lịch sử - nghề thủ công truyền thống ở địa phương

   - Địa lí – vị trí đị lí, địa hình làng xã An Lão

   - Giáo dục công dân- ý thức của con người trong việc giữ gìn, bảo tồn giá trị

của các sản phẩm từ sừng, ý thức gìn giữ vệ sinh môi trường. Bài học về giữ gìn truyền thống làng nghề.

   - Côn nghệ: Tận dụng mùn sừng vào việc trồng chọt.

   - Hóa học: Khí thải và bảo vệ sức khỏe, môi trường, tránh ô nhiễm.

V. Thuyết minh tiến trình giải quyết tình huống:

- Viết các ý chính à Tìm hiểu àTrao đổi à Viết thành bài

- Tư liệu sử dụng:

          + Sách địa phương

          + Nguồn tư liệu từ Khuyến công tỉnh Hà Nam, Bộ công thương.

          + Nguồn tư liệu về lịch sử làng nghề, tư liệu của các nghệ nhân, trao đổi với các nghệ nhân, những người thợ tài hoa….

          + Sự hiểu biết của bản thân do đã được tiếp cân từ nhỏ và làm nghề cung gia đình

          + Kiến thức môn học phù hợp với tình huống thực tiễn

          + Ứng dụng công nghệ thông tin: Các bài viết trên các trang điện tử

          + Các bài viết trên các báo Hà Nam, báo tuổi trẻ, báo Bộ công thương…

Tổng hợp các kiến thức nêu trên để viết thành bài giới thiệu.

1. Đặc điểm địa lí, địa hình xã An Lão

a. Đặc điểm địa lí, địa hình xã An Lão huyện Bình Lục tỉnh Hà Nam

Có diện tích 11,9 km², dân số năm 1999 là 12430 người, mật độ dân số đạt 1.044 người/km², phía Đông giáp xã Vụ Bản huyện Ý Yên, phía Bắc giáp xã Tiêu Động huyện Bình Lục, phía Nam giáp xã Yên Lợi huyện Ý Yên tỉnh Nam Định, phía Tây giáp xã Yên Trung huyện Ý Yên tỉnh Nam Định.

Với địa lý như vậy, làng nghề Đô Hai ở trung tâm xã giáp với quốc lộ 37B có được những điều kiện thuận lợi để vận chuyển nguyên liệu từ các tỉnh phía Bắc ( Hà Nội về), từ phía Đông Nam từ Hải Phòng về, từ miền Nam ra, đông thời đưa sản phẩm đi các nơi trên mọi miền Tổ Quốc cũng như bàn bè năm châu trên thế giới.

b. Con người làng nghề Đô Hai

Từ thành phố Phủ Lý, theo đường quốc lộ 21A đi Nam Định đến trung tâm thương mại Thị trấn Bình Mỹ rẽ tay phải qua đường tàu theo quốc lộ 37B đúng 6 km là đến cổng làng Đô Hai.

Nơi đây vẫn vẫn giữ được nét đẹp của một làng quê bình dị với hình ảnh, cây đa, giếng nước, sân đình

 

Không giống như các làng khác Đô Hai vẫn giữ được nghề thủ công truyền thống: Nghề mỹ nghệ Sừng,đến thăm làng nghề Đô Hai bạn có thể bắt gặp ngay từ cổng làng những người thợ đang cưa, đục,cạt ….hoàn thiện những sản phẩm. Có khi chỉ những cái cưa nhỏ xíu, những cái đục nhỏ gọn hay mấy lá chuối khô, mấy tờ giấy giáp họ có thể vừa đục, vừa đánh giấy nhám vừa trò chuyện dưới bóng cây rợp mát quanh làng….mặc dù vậy với bàn tay khéo léo, óc thẩm mỹ, trí tưởng tượng họ đã cho ra đời những sản phẩm độc nhất vô nhị bởi với họ lòng yêu nghề , sự cần cù,khéo léo, niềm đam mê không gì so sánh được.

2. Lịc sử hình thành làng nghề.

Nói đến làng Đô Hai xã An Lão là nói đến một làng nghề sừng mỹ nghệ truyền thống đã trải qua hàng trăm năm được cụ Nguyễn Văn Tuấn đưa nghề về

và truyền dạy cho con cháu trong làng, cụ đã được nhân dân suy tôn là Ông tổ làng nghề.

 

Qua nhiều thế hệ, nghề sừng mỹ nghệ cứ thế tồn tại, phát triển và dần dần đã trở thành làng nghề. Nghề sừng mỹ nghệ sử dụng nguyên liệu bằng sừng trâu, bò và được các nghệ nhân, thợ giỏi nghiên cứu làm ra hàng trăm sản phẩm khác nhau phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân trong và ngoài nước: doi ngựa, cặp tóc, gối đầu, các con vật, tượng, các tích cổ..., đều là những sản phẩm đẹp và rất có giá trị. Sau hoà bình lặp lại, từ năm 1955 đến 1957 những người thợ làng nghề đã tổ chức thành 3 tổ sản xuất với 100 lao động chính, 50 lao động phụ, sau đó thành lập HTX tiểu thủ công nghiệp Thanh Sơn và sản xuất ngày càng phát triển, từ năm 1958 đến 1990 làng nghề đã làm gia công nhiều sản phẩm chất lượng cao cho các công ty mỹ nghệ với số lượng lớn; các sản phẩm được cải tiến, ngày càng đa dạng hoá về mẫu mã và chất lượng. Sau năm 1990 các hộ sản xuất trong làng thành lập các tổ nhóm để sản xuất tự cung tự cấp nguyên vật liệu, tự tìm kiếm thị trường cho sản phẩm.

Các công cụ sản xuất được đầu tư, cải tiến như máy cưa, khoan, máy đánh bóng, máy bào... được đưa vào sử dụng; những thợ kỹ thuật đã không ngừng học hỏi, cải tiến mẫu mã, hàng loạt sản phẩm mới đa dạng và phong phú được khách hàng trong và ngoài nước ưa chuộng, ký hợp đồng tiêu thụ.Cùng với kết quả đạt được trên lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực xã hội cũng luôn được quan tâm. Làng nghề luôn chấp hành chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, các quy định của địa phương. Năm 2002 làng nghề đã được công nhận làng văn hoá, đã được UBND tỉnh hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng làng nghề. Năm 2004 làng được UBND tỉnh Hà Nam cấp bằng công nhận làng nghề sừng truyền thống Đô Hai và công nhận 2 nghệ nhân, 4 thợ giỏi nghề sừng vì có công lao đóng góp cho sự phát triển làng nghề.

Cũng bắt đầu từ khi chế tác ra các mẫu hàng mang tính thẩm mỹ cao, làng sừng Đô Hai được nhiều khách trong tỉnh Hà Nam và các tỉnh lân cận như Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình… đặt hàng khá nhiều. Nhất là trong các dịp cuối năm, những người muốn có món quà Tết độc đáo tặng bạn bè, người thân đều tìm đến làng sừng Đô Hai đặt riêng cho mình một vài sản phẩm.

Thời gian này làng có khoảng 260 đến 380 mẫu hàng mang giá trị thẩm mĩ cao như: rồng phượng đôi, anh hùng Tư Ngộ, lược, 12 con giáp... hàng xuất khẩu sang các nước như Liên Xô và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản…

3. Nguyên liệu, dụng cụ, kĩ thuật, các loại hình sản phẩm

a. Nguyên liệu: Gồm sừng, móng trâu bò, trải qua thời gian các nghệ nhân đã sử dụng xương động vật phối kết hợp với các vật liệu gỗ quý, trai biển để tạo ra những sản phẩm đẹp, phong phú.

b.Dụng cụ: Cưa, đục, đèn khò, máy cưa, máy lọng, khuôn, máy ép thủy lực, máy cán sừng, máy khoan, máy cạt, máy chà, máy vuốt…

c.Kĩ thuật:các cung đoạn chính làm ra sản phẩm mỹ nghệ sừng

Đến thăm các xưởng sản xuất nhỏ trong các hộ gia đình ở Đô Hai mới thấy công đoạn chế tác sừng cũng lắm công phu. Sừng, móng tươi được thu mua từ các nơi về, phơi khoảng một tuần cho khô. 


Lúc mua sừng về phải ngâm với nước từ 12 đến 14 tiếng, sau đó cắt thành ống

 

 

Trước khi chế tác thành đồ mỹ nghệ, nguyên liệu thô phải luộc trong dầu sôi cho mềm rồi đưa vào máy ép thủy lực, cán thành những miếng sừng mỏng. 

 
Hình ảnh các người thợ đang luộc, vợt,ép sừng
Ngày trước, khi chưa có máy ép, những người thợ phải dùng vồ gỗ nặng vài chục cân đập cho phẳng, vừa tốn sức, năng suất lại thấp.

Công đoạn luộc, ép sừng rất độc hại. Người thợ phải trực tiếp ngồi bên nồi dầu sôi bỏng rát mặt, mùi dầu cộng với mùi hôi của móng trâu, bò nồng nặc. 

Muốn có nguyên liệu ưng ý, phụ thuộc vào kinh nghiệm của từng người thợ. Tùy theo từng chiếc sừng mà hơ, ép, pha, cắt cho phù hợp. Sừng trâu non uốn khỏi tay lại cong vênh ngay.
 
Hình ảnh các người thợ lọc, pha sừng

Bác Nguyễn Văn Đệ, một thợ lâu năm bảo, để có được một chiếc lược sừng, phải trải qua ít nhất 30 công đoạn, từ luộc, ép đến giéo thành khuôn, cắt răng, chà lát, đánh bóng.
 
Hình ảnh các người thợ cưa, cạt sừng

Kinh nghiệm làm lược, nếu làm thớ ngang, lược dễ gãy, làm thớ dọc thì lược sẽ bền đẹp. Lược màu trắng, làm từ sừng trâu trắng có giá hơn lược đen. Lược làm từ sừng cũng có giá trị hơn lược làm từ móng. Nhưng phải là người làng Đô Hai mới phân biệt được đâu là chất sừng từ móng, đâu là chất sừng thuộc cặp sừng.
 
 

Hình ảnh các người thợ chà nhám, vuốt bóng sừng

Đưa ra một miếng nguyên liệu phôi thành phẩm, Bác Nguyễn Văn Đệ chỉ cho tôi xem rồi giải thích: "Khi ép ra, phần có màu trắng là đế móng, phần trên móng có màu đen. Những chiếc lược sừng làm từ móng thường có hai màu là vì vậy."

d.Các loại hình sản phẩm làm ra từ Sừng

 

 

 

 

 

 

 

Những chiếc nhẫn, vòng tay tinh xảo được làm từ sừng bò của người dân làng Đô Hai.

 

 

Từ những chiếc sừng bò, người dân làng nghề Thụy Ứng làm ra tác phẩm “Song Long” độc đáo.

Từ những chiếc sừng bò, người dân làng nghề Đô Hai làm ra tác phẩm “Song Long” độc đáo.

 

 

Vòng đeo tay từ chất liệu sừng.

Vòng đeo tay từ chất liệu sừng.

 

 

Các vật dụng dùng trong bữa ăn hàng ngày được làm ra từ sừng bò.

 

 

Những chiếc lược sừng chạm trổ hình rồng tinh xảo và khéo léo.

 

 

Sản phẩm sừng mỹ nghệ có tên “Song mã” được sản xuất tại làng nghề Thụy Ứng.

Sản phẩm sừng mỹ nghệ có tên “Song mã” được sản xuất tại làng nghề Đô Hai

 

 

Trâm cài tóc được chế tác tỉ mỉ và tinh xảo.

 

 

Những chiếc matsa và  cờ tướng được chế tác bằng sừng tại làng nghề Đô Hai

 

 

4. Giữ gìn và phát huy truyền thống làng nghề

Có thể nói, trong hàng mấy chục năm của thập kỷ 50, 60, 70 của thế kỷ 20, những sản phẩm sừng của Đô Hai đã trở thành một món hàng được nhiều nơi ưa chuộng. Những sản phẩm sừng đen, chiếc lược bí sừng màu ngà vàng đã trở thành vật dụng không thể thiếu cho hầu hết người dân ở các tỉnh miền Bắc.Tuy nhiên, tới khi những chiếc lược nhựa giá rẻ hơn lại được làm với hình dáng và màu sắc phong phú ra đời, đã khiến cho những chiếc lược sừng An Lão lao đao, không còn chỗ đứng. Sản phẩm sừng nổi tiếng một thời của làng An Lão không còn được ưa chuộng và làng nghề đứng trước nguy cơ bị mai một.

Với mong muốn không để một nghề cổ như vậy thất truyền, bắt đầu từ năm 2000, nhiều người thợ làng Đô Hai đã quyết tâm giữ gìn, khôi phục lại tổ nghề, họ vừa nghiên cứu thị trường tìm lối ra cho những chiếc lược truyền thống, vừa mày mò cải tiến cách làm cũng như mẫu mã để có những chiếc lược đẹp hơn với giá cả phải chăng.Nhờ quyết tâm, nỗ lực giữ nghề cộng với việc kinh tế trong và ngoài nước ngày càng phát triển, hàng nghìn tác phẩm sừng trước đây làm ra chưa bán được thì nay đã có cơ hội tiêu thụ, các cửa hàng, đại lý tìm đến tận làng nghề để đặt mua hàng với số lượng lớn. Tiếng máy mài, máy cắt sừng, máy khoan… kêu vang khắp làng, xe ôtô ra vào làng lấy và trả hàng thường xuyên.

Do nắm bắt được tâm lý của người tiêu dùng, nên các sản phẩm của làng nghề làm ra đến đâu đều được tiêu thụ hết đến đấy. Đã có thời điểm, hàng lược sừng khan hiếm trên thị trường do làng nghề sản xuất không đủ để cung cấp cho thị trường. Những chiếc lược sừng của Đô Hai từ thời đó đã trở thành một món hàng được nhiều nơi ưa chuộng khắp từ Bắc vào Nam, vươn ra nước ngoài tới các nước Đông Nam Á và Đông Âu.

Hiện nay, để đáp ứng thị hiếu của người sử dụng, làng nghề An Lão còn cho ra đời nhiều sản phẩm thủ công, mỹ nghệ đa dạng về chủng loại, phong phú về mẫu mã, có giá trị kinh tế cao, như: thìa, muôi, bát, các loại tranh, ảnh nghệ thuật làm bằng chất liệu sừng… Nhiều sản phẩm được chế tác thủ công cực kỳ tinh xảo, đòi hỏi đầu tư thời gian và tâm sức rất lớn như tác phẩm: long phượng kỳ duyên, song hổ tranh đấu, bức tranh lục bình… được khắp nơi trong nước ưa chuộng và xuất khẩu sang các nước, trở thành sản phẩm thủ công mỹ nghệ vô cùng độc đáo của Việt Nam.

Để hiện đại hoá trong mọi khâu, người thợ Đô Hai đã áp dụng sản xuất theo dây chuyền công nghiệp như: dùng máy cưa để cắt sừng; dùng máy thủy lực ép các đoạn sừng và móng sừng thành phôi (những bản đã được ép phẳng); dùng cưa để tách phôi; dùng khuôn mẫu các loại lược để cắt bằng máy; dùng mô-tơ chuốt bóng sản phẩm… Nhiều cơ sở sản xuất của làng hiện nay đã cử người đi học đồ hoạ, học tin học… đến nay đội ngũ thợ có nghề tốt nghiệp cao đẳng, đại học phục vụ trong làng nghề đã lên tới vài trăm người. Đây là lớp kế cận vững chắc của làng nghề, bởi trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì việc nâng cao trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn cho người làng nghề là rất cần thiết.

Không thể biết đã có bao nhiêu sản phẩm của làng Đô Hai đã được xuất ra nước ngoài, nhưng người dân làng Đô Hai ngày một tự hào, bởi một làng nghề đã từng đứng bên bờ vực thất truyền thì nay đang hồi sinh trở lại với một sức sống mãnh liệt. Mặc cho thời gian cứ trôi, nghề chế tác sừng trâu, bò vẫn được nhiều thế hệ trong làng lưu truyền từ đời này sang đời khác. Ở mỗi lớp thợ đều có tính kế thừa và sáng tạo, để các sản phẩm của làng nghề vừa lưu giữ được nét truyền thống, vừa đáp ứng được nhu cầu thị trường.

Bất cứ ai về Đô Hai cũng nhận thấy, nghề chế tác sừng chẳng những đã sống lại, mà ngày một phát triển cùng với sự đi lên của đất nước, bởi chính những người thợ ở đây đã tiếp lửa cho làng nghề luôn cháy và làm chúng thăng hoa hơn những năm qua.

 

 

VI. Ý nghĩa của việc giải quyết tình huống:

- Việc kết hợp các kiến thức liên môn Ngữ văn, Lịch Sử, Địa lý, Hóa học và Giáo dục công dân rât quan trọng, giúp cho chúng em được mối liên quan kiến thức giữa các bộ môn. Từ đó chủ động tìm hiểu khám phá kiến thức.

- Tạo cho chúng em thấy hứng thú hơn trong học tập, ý thức hơn việc học đi đôi với hành; rèn các kỹ năng hợp tác làm việc nhóm, trao đổi, thảo luận với những con người thực, việc thực…để giải quyết những tình huống thực tế trong cuộc sống.

- Qua hoạt động này chúng em thấy việc học tập đồng đều các môn học có vai trò rất quan trọng đối với mỗi học sinh không chỉ học văn hóa trong nhà trường mà cả trong cuộc sống hôm nay và mai sau.

- Qua nội dung tìm hiểu, chúng em thấy tự hào về quê hương An Lão anh hùng đã có một làng nghề truyền thống độc nhất là làng nghề sừng Đô Hai- một trong 2 làng nghề sừng trên cả nước có được thương hiệu. Chúng em thấy mình và mọi người cần có có ý thức  hơn nữa trong việc góp phần bảo vệ gìn giữ, tôn vinh những giá trị truyền thống của làng nghề, ý thức bảo vệ môi trường của địa phương cũng như của đất nước.

 

Qua bài thi này, chúng em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo nhà trường đã giúp các em vận dụng tốt các kiến thức liên môn để xử lý tốt tình huống trên, đặc biệt là thầy Mai Đức Huy- Hiệu trưởng giúp chúng em được dự Chương trình tổ chức Lễ phong tặng danh hiệu “ Nghệ nhân Nhân dân- Nghệ nhân Ưu tú” trong lĩnh vực nghề thủ công mỹ nghệ và Triển lãm- Hội chợ hàng thủ công mỹ nghệ năm 2016 tại Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long- Hà Nội.

Chúng em xin chân thành cám ơn !

                                  .................................. HẾT........................................

                                       An Lão, ngày 01 tháng 12 năm 2016

 

Nhóm thực hiện

 

 

Lê Hồng Ngọ

 

 

 

 

 

 

Lê Hồng Sơn

                                             

 

Trường THCS An Lão

Xem thêm...

Thăm dò ý kiến

Bạn biết cổng thông tin Demo qua đâu?

Qua báo đài
Qua bạn bè
Qua Internet
Khác

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang online: 1

Hôm nay: 13

Tổng lượng truy cập: 178480