Tin tức/(Trường THCS An Ninh)/Tin tức - Sự kiện/
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

                                            SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

 

            MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ

           GIỜ DẠY VĂN BẢN TRONG MÔN NGỮ VĂN 

        A . PHẦN MỞ ĐẦU

I. Cơ sở lí luận:    

     Ngữ văn là môn học nghệ thuật, đặc biệt là phần văn học ( văn bản ) .Văn học dùng chất liệu hiện thực kết hợp nghệ thuật ngôn từ để phản ánh hiện thực, thể hiện tư tưởng tình cảm của tác giả .Vì vậy dạy văn học là khai thác nghệ thuật ngôn từ để làm rõ nội dung hiện thực và tư tưởng tình cảm của tác giả .

     Từ đó, dạy văn học người  giáo viên phải giúp học sinh thấy được cái hay, cái đẹp về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm , qua đó cảm nhận được điều nhà văn muốn gửi đến người đọc .Mặc khác thông qua việc học  những tiết văn  học, giáo viên cần rèn luyện cho học sinh kĩ năng tự khám phá, cảm thụ một tác phẩm văn học, giúp các em có khả năng giao tiếp đạt hiệu quả.

     Một tiết dạy  văn học thành công hay không có thể được đánh giá ở nhiều cấp độ. Cụ thể là :

     - Không đạt yêu cầu: Khai thác nội dung, nghệ thuật thiếu chính xác, sử dụng phương pháp chưa phù hợp

     - Đạt yêu cầu: Khai thác đầy đủ nội dung, nghệ thuật , sử dụng phương pháp phù hợp  với môn học ,thực hiện linh hoạt các khâu lên lớp , phân phối thời gian cho các khâu hợp lí. Tổ chức cho học sinh học tập tích cực .có chú ý giáo dục cho HS

     - Khá: Tiêu chuẩn như đạt yêu cầu , nhưng bài dạy phải có cảm xúc , học sinh bước đầu cảm nhận , học tập được cái hay cái đẹp của tác phẩm .

     - Giỏi: Như tiêu chuẩn khá , HS xúc động và cảm nhận được cái hay cái đẹp của tác phẩm , đồng cảm với tác giả (cảm nhận được những điều mà nhà văn gữi vào tác phẩm), học tập được những đặc sắc về nghệ thuật của tác phẩm.

II . Cơ sở thực tiễn

      Thực trạng đáng lo ngại là học sinh bây giờ không còn thích học văn. Thực trạng này lâu nay đã được báo động . Ai đã trực tiếp dạy và chấm bài làm văn của học sinh trong những năm gần đây mới thấy cần thiết phải có những thay đổi về phương pháp dạy văn và học văn hiện nay. Qua công tác giảng dạy cũng như chấm trả các bài kiểm tra Ngữ văn, tôi nhận thấy có rất nhiều những biểu hiện thể hiện tâm lý chán học văn của học sinh , cụ thể là:

- Học  sinh thờ ơ với Văn: Những năm gần đây, nhiều người quan tâm đến công tác giáo dục không khỏi lo ngại trước một thực trạng, đó là tâm lý thờ ơ với việc học văn ở các trường phổ thông. Điều đáng buồn nhất cho các giáo viên dạy văn là nhiều học sinh có năng khiếu văn cũng không có nhiều hứng thú học văn ngay ở trên lớp cũng như không muốn tham gia đội tuyển văn. Các em  dành thời gian học các môn khác nhiều hơn. 

     - Khả năng trình bày: Khi HS tạo lập một văn bản giáo viên có thể dễ dàng nhận ra những lỗi sai cơ bản của học sinh như: dùng từ sai, viết câu sai, viết chính tả sai, bố cục và lời văn hết sức lủng củng, thiếu logic. Đặc biệt có những bài văn diễn đạt ngô nghê, tối nghĩa, lủng củng ...

      Trong nhà trường hiện nay, nhiều giáo viên dạy văn học còn chưa thật sự chú ý đến đặc trưng của bộ môn, chỉ chú ý cung cấp  đủ nội dung bài học theo một trình tự  cứng nhắc khô khan, máy  móc, thiếu cảm hứng , thiếu sự đồng cảm với nhà văn. Từ đó học sinh chán học môn văn. Có thể nói tác phẩm văn học là một món ăn tinh thần. Giáo viên là người chế biến, phục vụ. Học sinh là thực khách .Khách có ăn ngon hay không - tâm hồn người thưởng thức có lâng lâng , rung động, say sưa,  ngây ngất hay không  - là do ở người chế biến phục vụ .Cùng là một tác phẩm văn học nếu GV biết cách khai thác ,hướng dẫn ,diễn giảng đúng chỗ, đúng lúc thì HS sẽ rung động, khắc sâu ,yêu thích và nhớ mãi . Vậy GV phải làm gì để dạy một tiết văn học đạt hiệu quả và có thể xem là khá ?

B. PHẦN NỘI DUNG

I . Những sáng kiến và việc làm cụ thể

        Để có được một tiết giảng văn hay, hấp dẫn được học sinh, trong quá trình soạn giảng, giáo viên cần lên kế hoạch soạn giảng cụ thể cho từng phần, từng mục. Cần có các dự thảo về phương pháp, biện pháp dạy học. Vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học, xác định và phân loại đối tượng học sinh phù hợp với từng hoạt động học tập. Luôn có ý thức khơi gợi hứng thú học tập ở học sinh. Phải nắm rõ quan điểm dạy học tích hợp, xác định rõ vai trò của giáo viên và học sinh trong giờ học. Giáo viên đóng vài trò chủ đạo tổ chức hướng dẫn học sinh tiếp thu kiến thức bằng các phương pháp dạy học cụ thể. Học sinh đóng vai trò tích cực, chủ động lĩnh hội tri thức trên cơ sở hướng dẫn của giáo viên. Muốn giải quyết tốt các vấn đề này, theo tôi trong quá trình soạn giảng một tiết Ngữ văn cần thực hiện tốt các yêu cầu sau:

 

1. Chuẩn bị :

1.1 . Chuẩn bị chung :

- Đọc kĩ mục tiêu cần đạt của tiết dạy, bán sát định hướng của chuẩn kiến thức kỹ năng.

- Chuẩn bị phương pháp, phương tiện dạy học phù hợp.

- Chuẩn bị của thầy và trò .

a/ Về văn bản :

     Chú ý hoàn cảnh ra đời, thể loại, nội dung, nghệ thuật của một tác phẩm văn học: ( Tác phẩm phản ánh hiện thực gì ? Tư tưởng tình cảm gì của nhà văn ?  Điều nhà văn muốn gởi đến bạn đọc là gì ? Cái hay ,cái làm nên sự rung động của tác phẩm là ở chổ nào  ?  Để truyền đạt những thông tin của tác phẩm, cần chú ý tổ chức học sinh hoạt động như thế nào ?. . .

b/ Về tác giả :

     + Chú ý cuộc đời , tư tưởng , tình cảm , quan  điểm  sống của tác giả .

     + Ví dụ : Hiểu rõ những điều ấy về tác giả Thanh Hải giáo viên mới có thể rung động và cảm nhận được cái hay cái đẹp của nội  dung và nghệ thuật của bài thơ “Muà xuân nho nhỏ”  của ông .

- Về hoàn cảnh lịch sử : Chú ý lịch sử giai đoạn nào ? Tình hình xã hội lúc đó ra sao ?. Hoàn cảnh lịch sử lúc đó có ảnh hưởng gì đến việc ra đời và nội dung được phản ánh trong tác phẩm ?

1.2. Chuẩn bị cụ thể : Soạn giáo án  cần chú ý :

* Mục tiêu bài học : Đọc kĩ mục tiêu bài học, xác định lượng kiến thức cần thiết cung cấp cho học sinh trong một tiết học. Xác định đâu là nội  dung trọng tâm cần phải khắc sâu cho học sinh.

* Chuẩn bị phương pháp phương tiện  dạy phù hợp :

     Thông thường trong một tiết học  văn giáo viên sử dụng kết hợp nhiều phương pháp như : Đọc diễn cảm, đàm thoại vấn đáp, dụng cụ trực quan, nêu và giải quyết vấn đề, diễn giảng, thuyết trình dưới các hình thức hoạt động cá thể, hoạt động nhóm, vừa hoạt động  cá thể vừa hoạt động nhóm …tuy nhiên  dù giáo viên sử dụng phương pháp ,phương tiện , hình thức dạy học nào thì vấn đề học sinh hoạt động để tự phát hiện tìm ra tri thức cũng là vấn đề được đặt lên hàng đầu quyết định kết quả tiết dạy .

* Chuẩn bị của thầy và trò: Thầy : Đọc kĩ tác phẩm : Tác phẩm tự sự hay trữ tình

a .  Dạy tác phẩm tự sự cần chú ý :

+  Cốt truyện: Kể chuyện gì ? Thông qua cốt truyện tác giả muốn phản ánh hiện thực gì ? Muốn nói lên tư tưởng tình cảm gì của mình? 

+ Nhân vật : Hệ thống nhân vật của tác phẩm.  Nhân vật chính là ai ? Nhân vật chính diện . Nhân vật phản diện . Nhân vật có ngoại hình, cử chỉ, hành động, lời nói , nội tâm như thế nào ? Thông qua ngoại hình, hành động, nội tâm … của nhân vật => nhân vật có tính cách gì ? Qua nhân vật tác giả muốn gởi đến chúng ta thông điệp gì ? Nghệ thuật xây dựng nhân vật của tác giả có gì độc đáo ? Điều gì ở sự việc  ,nhân vật làm ta rung động ?

+ Tình huống : Tình huống cơ bản của truyện là tình huống nào ?  Qua tình huống ấy nhân vật bộc lộ tính cách gì ? Từ  đó tác giả muốn gửi gắm điều gì ? Nghệ thuật tạo tình huống của nhà văn có gì đặc sắc, độc đáo trong việc góp phần xây dựng tính cách nhân vật , thể hiện ý nghĩa của truyện? . ..

     * Lưu ý: Một nhân vật văn học thành công bao giờ cũng mang một tính cách, số phân riêng. Muốn phân tích nhân vật tức là phân tích đặc điểm tính cách và nội tâm  của nhân vật chúng ta cần căn cứ vào những chi tiết có liên quan đến nhân vật trong tác phẩm để tìm hiểu suy luận rồi khái quát nên các đặc điểm của nhân vật. Trong các tác phẩm tự sự, những chi tiết có giá trị góp phần thể hiện đặc điểm nhân vật gồm: lai lịch, ngoại hình, ngôn ngữ, hành vi (cử chỉ, hành động) của nhân vật. Cụ thể là: 

 - Lai lịch của nhân vật: Đây là phương tiện đầu tiên góp phần chi phối đặc điểm tính cách và cuộc đời nhân vật. Lai lịch có quan hệ khá trực tiếp và quan trong với đường đờì của một người cũng như mục đầu tiên trong bản “ sơ yếu li lịch” ta thường khai là thành phần xuất thân và hoàn cảnh gia đình.

     Ví dụ: Lai lịch của Mã Giám Sinh được Nguyễn Du giới thiệu ngắn gọn qua hai câu thơ:

Hỏi tên rằng: Mã Giám Sinh.

Hỏi quê rằng: Huyện Lâm Thanh cũng gần.

-  Ngoại hình của nhân vật. Tục ngữ Việt nam có câu: “ Xem mặt mà bắt hình rong” trong văn học, miêu tả ngoại hình chính là một biện pháp để nhà văn hé mở tính cách nhân vật. Một nhà văn có tài thường chỉ qua một số nét phác hoạ chấm phá có thể giúp người đọc hình dung ra diện mạo, tư thế cùng bản chất của nhân vật nào đó.

  Ví dụ: Trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố, chị Dậu được miêu tả có khuôn mặt trái xoan với cái nhanh nhẩu của đôi mắt sắc ngọt, cái xinh xắn của cặp môi đỏ tươi, cái min màng của nước da đen giòn. Khuôn mặt ấy khiến người đọc hình dung về chị Dậu - một người khoẻ khoắn thông minh đảm đang tháo vát. Với nhà thơ Nguyễn Du để làm nổi bật vẻ đẹp của Thuý Kiều, ông tập trung đặc tả qua hai câu thơ: Làn thu thuỷ, nét xuân sơn- Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh. Bút pháp ước lệ đã gúp người đọc hình dung ra vẻ đẹp tuyệt sắc giai nhân của nàng Kiều. Vẻ đẹp của nàng làm hoa phải ghen, liễu phải hờn. Thông qua cách miêu tả đó Nguyễn Du như muốn dự cảm về cuộc đời long đong lận đận của Kiều.

-  Ngôn ngữ của nhân vật: Ngôn ngữ của nhân vật trong tác phẩm văn học được cá thể hoá cao độ, nghĩa là mang đậm dấu ấn của một cá nhân. Thông thường, mỗi con người thường theo tính khí mà có khẩu khí. Con người làm sao thì lời ăn tiếng nói làm vậy. Vì thế khi phân tích nhân vật ta cần đặc biệt chú ý phân tích ngôn ngữ của nhân vật.

     Ví dụ: Trong văn bản Làng, nhà văn Kim Lân đã để nhân vật ông Hai bộc lộ bản chất, tính cách của mình qua ngôn ngữ đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm: Ông hay khoe làng, đó là niềm tự hào sâu sắc về làng quê. Cái làng đó với người nông dân có một ý nghĩa cực kì quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần. Ông căm thù lũ việt gian bán nước mà rít lên: Không biết chúng bay ăn miếng cơm hay ăn miếng gì vào mồm mà lại làm cái giống việt gian bán nước để nhục nhã thế này! Rồi ông vui mừng khi tin về làng Dầu được cải chính. 

-  Nội tâm của nhân vật: Nội tâm là thế giới bên trong của nhân vật gồm cảm giác, cảm xúc tình cảm, tâm lí, suy nghĩ… của con người. Thế giới nội tâm của con người rất sâu kín, phong phú, phức tạp. Ngòi bút của nhà văn có khả năng miêu tả được những ngõ ngách xâu kín của nội tâm con người từ những điều thuộc phạm vi ý thức đến những điều trong cõi tiềm thức, vô thức. Qua đó ta có thể xét đoán được tính cách nhân vật.

     Ví dụ: Miêu tả nỗi nhớ gia đình, người thân của Kiều khi nàng bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, Nguyễn Du đã viết: Xót người tựa cửa hôm mai - Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ. Người đọc có thể nhận ra được nỗi đau đớn xót xa của Kiều khi nghĩ về cha mẹ. Kiều thương cho cha mẹ đã già yếu mà vẫn ngày đêm tựa cửa ngóng trông tin nàng, thương cha mẹ già yếu mà không người chăm sóc đỡ đần. Để làm nổi bật tâm trạng đau đớn, thất vọng của anh Sáu khi bé Thu không nhận anh là cha, nhà văn Nguyễn Quang Sáng miêu tả qua các biểu hiện như: Còn anh, anh đứng sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trông thật đáng thương và hai tay buông xuống như bị gãy... rồi chi tiết: Có lẽ vì khổ tâm vì khổ tâm đến nỗi anh không khóc được, nên anh phải cười vậy thôi...

-  Cử chỉ hành động của nhân vật: Đây là chi tiết quan trong nhất trong việc tìm hiểu phân tích tính cách nhân vật. Con người trong cuộc đời cũng như nhân vật trong tác phẩm, trước hết là con người hoạt động, hành động. Trong môi trường tự nhiên và xã hội, trong quan hệ với người khác, với công việc, con người phải hành động. Hành động của con người được thể hiện qua việc làm, hành vi. Nhân vật trong tác phẩm cũng vây, con người thế nào sẽ có hành vi thế ấy.

     Ví dụ: Chỉ cần qua cách “ ghế trên ngồi tót sỗ sàng” nhân vật Mã Giám Sinh đã để lại chân tướng của một con người thiếu văn hoá, mất lịch sự và bộ dạng lưu manh giả danh trí thức của y.

b . Dạy tác phẩm trữ tình  ( thơ ca ) : Chú ý tình cảm , tâm trạng gì ? Của ai ? Tình  cảm tâm trạng ấy được  bộc lộ như thế nào trực tiếp hay gián tiếp ?

                   + Bộc lộ trực tiếp : Là dùng từ ngữ diễn tả những ý nghĩ tình cảm cảm xúc của mình .Khi dạy GVcần chú ý đó là tình cảm gì ? Của ai ? Tình cảm ấy được tập trung biểu hiện qua những từ ngữ nào ? Hoàn cảnh , điều kiện để phát sinh tình cảm ấy ? Điều gì trong tác  phẩm làm người nghe đồng cảm và rung động ? Qua tình cảm ấy nhà thơ muốn gửi đến người nghe điều gì ?

 

Ví dụ : Dạy bài ca dao :

“ Chiều chiều ra đướng ngõ sau

                                     Trông về quê mẹ ruột đau chín chìều”

     Bài ca dao diễn tả nổi nhớ quê, nhớ mẹ một cách trực tiếp . Tình cảm ấy được thể hiện qua những từ ngữ cụ thể như: “trông” “ quê mẹ” “ ruột đau”  . .. tình cảm nhớ  thương ấy là của  một cô gái đặt trong hoàn cảnh xa quê  . .. đặt trong thời gian chiều chiều và không gian ngõ sau . Cái hay của bài ca dao là ở cách tạo thời gian và không gian nghệ thuật. Cách sử dụng từ Trông . Cách nói ẩn dụ để diễn tả mức độ nỗi nhớ ruột đau chín chiều .

  Đặc biệt là ở sức gợi hình  của bài ca dao: Đọc bài ca dao người đọc như hình                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                             dung được  hình ảnh một cô gái tội nghiệp, đáng thương, đang đứng sau nhà dưới bóng chiều tà mãi  nhìn về một phương trời xa xăm , với nét mặt u buồn  .. .  Tình cảm của cô gái xa nhà đó có thể  là tiếng lòng của nhà thơ   .Nhưng điều quan trọng hơn nhà thơ muốn gởi đến chúng ta là tấm lòng ,là sự đồng cảm với tất cả những người con vì một lí do nào đó phải xa cha mẹ . Tấm lòng của tác giả đáng để ta trân trọng. Vì thế nếu dạy bài ca dao trên GV chỉ chú ý nội dung , khai thác nội dung một cách máy móc .( bài ca dao  nói lên tình cảm gì ? Tình cảm ấy của ai ? Từ chiều chiều gợi cho em suy nghĩ gì ? Tại sao tác giả lại cho cô gái đứng ở ngõ sau ?   .. . rồi GV nhận xét chốt ý và cho HS ghi : Bài ca dao là nỗi nhớ , là lời của cô gái lấy chồng xa nói với mẹ, quê mẹ.

                   + Bộc lộ gián tiếp : Là mượn cảnh vật hay một đối tượng nào đó để bày tỏ tình cảm cảm xúc của mình . Vậy tác giả mượn cảnh gì ? Đối tượng gì ?  Sự việc gì ? Cảnh , đối tượng sự việc  ấy như thế nào về thời gian ,không gian ,đường nét ,màu sắc ,âm thanh ,mùi vị ..? Tác phẩm có gì đắc sắc về nội dung và nghệ thuật ? Chỗ nào trong tác phẩm là người nghe rung động.  .. Nói tóm lại GV khai thác nội  dung ,nghệ thuật ở  chỗ là từ yếu tố cảnh vật , sự việc ta tìm ra cảm xúc tình cảm của chủ thể ,rồi từ đó tìm ra thông điệp , điều nhà văn muốn nói .

        Để khi dạy ta truyền cho HS những rung động , từ đó giúp cho các em cảm thấy hứng thú , yêu thích học môn văn hơn .

- Trò: Bắt buộc phải đọc và thuộc ( nếu là thơ ) chuẩn bị bài trước theo hệ thống câu hỏi hướng dẫn tìm hiểu văn bản ở sách giáo khoa ( Giáo viên nên lưu ý những nội dung  học sinh cần chú ý khai thác kĩ )

 

2 .Tiến trình tổ chức các hoạt động dạy học :

     Ngoài những vấn đề đã chuẩn bị như đã nói trên để một tiết dạy đạt được loại khá GV cần chú ý một số vấn đề sau :

          1/ Giới thiệu bài : Với mục đích thu hút sự chú ý của học sinh  ngay từ đầu bằng cách đăït ra mục tiêu cho bài học . Thông thường giáo viên ít chú ý giới thiệu bài hoặc khi giới thiệu chưa dám mạnh dạn nêu lên mục tiêu bài học cho học sinh định hướng trước. Điều này cũng giống như một học sinh làm bài văn không có phần mở bài . Như thế học sinh khó định hướng được trong tiết học này mình sẽ tiếp thu được đơn vị  kiến thức nào .

       Ví dụ giới thiệu cho bài học Viếng lăng Bác : Hôm nay chúng ta sẽ học bài thơ “Viếng Lăng Bác”. Qua tiết học này các em sẽ biết đươc tâm trạng cảm xúc của một người lần đầu tiên được viếng lăng Báccũng như tình cảm của nhân dân đối với Bác , các em sẽ học tập được cách xây dựng hình ảnh thơ theo cách ẩn dụ ,cách thể hiện giọng điệu trong bài thơ sao cho phù hợp với nội dung bài thơ .

          2 / Trong tiết học cần tạo sự thích thú cho học sinh

- Sử dụng các dụng cụ trực quan ( bảng phụ ,tranh ,ảnh ,…)

 -  Tổ chức cho HS hoạt động học tập dưới nhiều hình thức mới lạ hấp dẫn :

+ Hoạt động độc lập : Khi cấn đề đơn giảng một cá thể có thể tự giải quyết .

+ Hoạt động nhóm : Khi vấn đề phức tạp một cá thể không thể tự giải quyết cần chú ý khi hoạt động nhóm giáo viên cần nêu yêu cầu cụ thể là gì ? Làm như thế nào ? Khi học sinh hoạt động nhóm mỗi HS cần phải ghi chép lại những điều nhóm hoạt động , phát hiện ,phân tích kết luận .Nếu HS chỉ nhóm lại nói chuyện chung chung không ghi chép thì việc hoạt động nhóm sẽ phản tác dụng .

+ Hoạt động kết hợp vừa cá thể vừa nhóm : Gv nêu vấn đề về nội dung hoặc nghệ thuật của tác phẩm yêu cầu HS khám phá , phân tích rút ra kết lụân đó yêu cầu HS hoạt động ( ai có khả năng tư duy độc lập thì hoạt động cá thể , ai thích hoạt động nhóm thì hoạt động theo nhóm – nhóm có thể là hai bàn kế bên , có thể ba , bốn HS nếu các em thích và thấy thoải mái .

+ Tổ chức hoạt động thi đua, tranh luận  giữa các nhóm , các cá nhân , giữa nam và nữ … về một vấn đề trong tác phẩm .

+ Khen ngợi học sinh về những gì học sinh đã  phát hiện trình bày ( đừng bao giờ chê học sinh dù khi các em không biết tí gì , phải giữ thể diện cho học sinh)

+ Hãy cười với học sinh : Nụ cười sẽ xua tan mọi mệt nhọc , sựø cách trở giữa giáo viên và học sinh, tạo tâm thế thoải mái , tránh cảm giác căng thẳng  cho các em)

+ Liên hệ bài giảng vào thực tế cuộc sống của HS : Tình cảm yêu mến, tự hào, đau xót, căm thù  trước hiện thực cuộc sống, liên hệ thực tế nói, viết, tạo lập văn bản của các em …

       3/ Xây dựng nội dung bài học ngắn gọn theo trình tự hợp lí :

     Chỉ trình bày những kiến thức cơ bản một cách đơn giản và rõ ràng nhất , dể hiểu nhất . Không nên tham lam trình bày quá dài dòng như thế HS sẽ ngán ngại học , học khó thuộc và dẫn đến chán học .

     4/ Phần dặn dò cần cụ thể , nêu những công việc cụ thể để HS thực hiện ở nhà nhằm giúp các em học tập tốt  hơn ở trên lớp .

* Lưu ý: Trong quá trình dạy học văn không có một phương pháp nào được coi là độc tôn. Vì vậy Gv phải vận dung linh hoạt các phương pháp dạy học cho phù hợp với từng tiết, từng bài cụ thể. Phải nắm chắc quan điểm tích hợp trong việc dạy học văn. Phải đảm bảo có tích hợp dọc, ngang...

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

III . Thực hành thông qua một tiết dạy cụ thể

                              TIẾT 117 - VĂN BẢN: VIẾNG LĂNG BÁC

                                                                        Viễn Phương

A. Mục tiêu cần đạt: Qua tiết học HS cần :

     1. Kiến thức:

- Học sinh cảm nhận được niềm xúc động thiêng liêng, chân thành sâu lắng của một nhà thơ ở Miền Nam được đến viếng lăng Bác sau ngày giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước.

- Thấy được những đặc điểm nghệ thuật của bài thơ: giọng thơ trang trọng thành kính rất phù hợp với không khí thiêng liêng ở lăng Bác, hình ảnh thơ taw thực và những hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng rất sáng tạo.

     2. Kỹ năng: Rèn luyện cho học sinh kỹ năng đọc, cảm nhận thơ 8 chữ, kỹ năng liên tưởng và phát hiện cái hay của các biện pháp tu từ được Viễn Phương sử dụng trong văn bản.        

     3. Thái độ: Giáo dục học sinh lòng yêu mến, kính trọng và biết ơn công lao của Bác đối với đất nước, với dân tộc.

B. Chuẩn bị :               Thầy: Nghiên cứu SGK, Sách hướng dẫn, Soạn giáo án

                                     Trò: SGK, Soạn bài ở nhà,

C. Tiến trình lên lớp

1.  Ổn định tổ chức

2. Kiểm tra bài cũ:  ? Đọc thuộc lòng bài thơ "Mùa xuân nho nhỏ" ? Nêu cảm nghĩ của em về cái hay, cái đẹp của 6 câu thơ đầu của bài thơ

3. Bài mới:

Hoạt động của thầy và trò

Nội dung cần đạt

 

? Nêu những hiểu biết của em về tác giả Viễn Phương.

- Hs: Trình bày, Gv tổ chức cho lớp nhận xét bổ sung và chốt kiến thức

? Bài thơ Viếng lăng Bác ra đời trong hoàn cảnh nào?

- Hs: Sáng tác năm 1976, khi lăng chủ tịch HCM vừa khánh thành. Đây là lần đầu tiên VP ra thăm Bác.

 

 

 

* Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc: Giọng thơ tâm tình, tha thiết và sâu lắng, chú ý đọc đúng nhịp. Học sinh đọc - Giáo viên nhận xét.

? Bài thơ này được viết theo thể thơ nào, em đã học những bài thơ nào sáng tác giống thể thơ này.

- Hs: Thể thơ: 8 chữ.

 ? Căn cứ vào nội dung bài thơ, em có thể chia bài thơ làm mấy phần, nêu ý chính của từng phần.

- Khổ thơ đầu: Tâm trạng nhà thơ trước cảnh trí ngoài lăng Bác

- Khổ thơ 2 - 3: Cảm xúc của nhà thơ khi vào trong lăng Bác

- Khổ thơ cuối: Cảm xúc của nhà thơ khi rời lăng Bác.

? Em có nhận xét gì về trình tự miêu tả của Viễn phương trong bài thơ này?

- Hs: Bài thơ được miêu tả theo trình tự không gian và thời gian của chuyến viếng thăm.

 

 

? Học sinh đọc khổ thơ 1 và cho biết lần đầu tiên ra thăm lăng Bác được tác giả giới thiệu qua câu thơ nào?

- Con ở Miền Nam ra thăm lăng Bác.

? Cách xưng con của nhà thơ thể hiện tình cảm của nhà thơ với Bác như thế nào? Tại sao nhà thơ không xưng là cháu mà xưng "Con" ?

 - Từ "con" thân thương vốn là cách xưng hô của người dân Nam Bộ, mang chất giọng ngọt ngào của người dân Nam Bộ, thể hiện thái độ thành kính, gợi cảm xúc mãnh liệt. ở nơi xa xôi cách trở những người con ở chiến trường MN trở về thăm Bác chứ không phải viếng bác.

Giáo viên khái quát ...?

 

 

Tại sao tác giả dùng từ "thăm" chứ không dùng từ  "viếng" ? ở đây, tác giả sử dụng nghệ thuật gì?

- Từ thăm ® dùng lối nói giảm nói tránh: kìm nén đau thương, khẳng định Bác còn sống mãi.

? Khi tới lăng Bác, ấn tượng đầu tiên của tác giả về lăng bác là hình ảnh gì?

- Hàng tre xanh xanh Việt Nam …

? Nhận xét về nghệ thuật miêu tả hàng tre của tác giả? Tả thực đan xen yếu tố tượng trưng.

- Hàng tre: xanh xanh, thẳng hàng (tả thực)

- Xanh xanh Việt Nam (tượng trưng) ® cho dân tộc Việt Nam anh dũng, kiên cường.

- Bão táp mưa sa (tượng trưng ® cho khó khăn gian lao vất vả)

? Qua đó, em thấy câu thơ này có sức diễn tả điều gì?

- Vẻ đẹp thanh cao và sức sống bền bỉ, mãnh liệt của cây tre Việt Nam cũng như con người Việt Nam.

? Trong thơ ca Việt Nam, hình ảnh cây tre mang ý nghĩa ẩn dụ nào? ý nghĩa của từ ngữ đó?

Ôi ® Thán từ. Bộc lộ trực tiếp cảm xúc thương mến, tự hào với đất nước, với dân tộc.

         Gv khái quát : Hình ảnh  hàng tre tượng trưng cho vẻ đẹp thanh cao và sức sống bền bỉ, mãnh liệt của con người, dân tộc Việt Nam.

 

? Đọc khổ thơ thứ hai và cho biết có những mặt trời nào xuất hiện trong lời thơ ? Mặt trời nào có ý nghĩa tả thực, mặt trời nào mang ý nghĩa tượng trưng?

Mặt trời  trên lăng ® Mặt trời của vũ trụ.

- Mặt trời trong lăng ® Mặt trời của con người (ví với Bác) - ẩn dụ.

- Con người Bác với những biểu hiện sáng chói về tư tưởng yêu nước và lòng nhân ái mênh mông có sức toả sáng mãi mãi.

? Từ "ngày ngày" ở câu thơ thứ nhất được lặp lại ở câu thơ thứ ba có  dụng ý gì? Cùng dòng người vào lăng viếng Bác, tác giả cảm nhận được điều gì?

- Ngày ngày mặt trời: Thời gian theo dòng liên tục

- Ngày ngày dòng người; đi trong không gian đặc biệt thương nhớ.

* Bằng điệp từ "ngày ngày" nhà thơ thể hiện sự thực cảm động diễn ra thường xuyên liên tục những dòng người người nặng trĩu nhớ thương lặng lẽ nối nhau vào lăng viếng Bác.

? Hình ảnh kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân thể hiện sáng tạo gì của nhà thơ?

? Nhận xét nhịp điệu của khổ thơ này? Tác dụng của nhịp thơ này như thế nào (góp phần biểu lộ cảm xúc gì).

 

 

 

 

? Học sinh đọc khổ 3:

? Khi vào trong lăng Bác, nhà thơ quan sát và có cảm nhận gì về Bác?  

  Bác nằm trong lăng giấc ngủ bình yên

  Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền

? Giấc ngủ bình yên là cách nói như thế nào? Nói giảm nói tránh.

? Em hiểu  giấc ngủ bình yên là giấc ngủ như thế nào?

- Giấc ngủ thanh bình và vĩnh hằng của một con người đã cống hiến trọn vẹn cuộc đời cho cuộc sống của đất nước, nhân dân. Giấc ngủ của Bác bình yên trong thương nhớ, ơn nghĩa của mọi người.

? Không thể có vầng trăng có thật ở trong lăng nhưng vì sao tác giả vẫn hình dung giấc ngủ của Bác giữa một vầng trăng sáng dịu hiền? Vầng trăng sáng dịu hiền ® tác giả sử dụng nghệ thuật gì trong cách nói ấy?

- Hs: Sử dụng nghệ thuật ẩn dụ.

? Việc sử dụng hình ảnh đó có ý nghĩa như thế nào?

- Hs: Không thể có vầng trăng ở trong lăng nhưng tác giả vẫn hình dung như thế để khẳng định cuộc đời Bác rực sáng như mặt trời nhưng cuộc đời của Bác cách sống của Bác, tâm hồn Bác hiền hậu thanh cao như ánh trăng.

? Những hình ảnh ấy được sáng tạo bằng trí tưởng tượng hay còn bằng điều gì khác nữa?

- Bằng trí tưởng tượng, bằng thấu hiểu và yêu quý những vẻ đẹp trong nhân cách Hồ Chí Minh.

? Câu thơ tiếp theo xuất hiện hình ảnh ẩn dụ? Đó là hình ảnh nào? ý nghĩa của hình ảnh này?

- Trời xanh là mãi mãi. Trời xanh ® ẩn dụ là biểu tượng bất diệt của Bác Hồ. Người dã ra đi nhưng lí tưởng và sự nghiệp của Người vẫn còn mãi mãi.

 

? Nhận xét về các hình ảnh ẩn dụ sử dụng trong khổ thơ .

? Từ nào trong lời thơ "Mà sao nghe nhói ở trong tim" có sức biểu cảm trực tiếp ? - Từ "Nhói"

? Cảm  nhận của em về lời thơ này qua lời biểu cảm trực tiếp đó?

- Nhói là đau đột ngột, quặn thắt.

- Nghe nhói ở trong tim là nỗi đau tinh thần.

? Nhận xét cách sử dụng cụm từ "vẫn biết, mà sao" ?

- Sử dụng như một sự đối lập, khắc sâu thực tại cảm xúc xót xa đau đớn mất mát trước sự ra đi của Người.

 

? Đọc khổ thơ kết của bài thơ và cho biết khi trở lại MN tác giả bộc lộ cảm xúc ntn ?

- Thương trào nước mắt ® Nhớ thương nghẹn ngào trào dâng.

? Cùng với cảm xúc đó người con đã nguyện ước điều gì?

- Muốn làm : chim hót ; đoá hoa ; cây tre.

? Nhận xét nhịp thơ, cách sử dụng từ ngữ ở đoạn thơ này? Tác dụng bộc lộ tình cảm gì?

? Hình ảnh thể hiện ước nguyện của nhà thơ có ý nghĩa như thế nào? tại sao nhà thơ muốn hoá thân thành chim, đoá hoa, cây tre? Lời tâm nguyện đó thể hiện tình cảm gì?

 HS phát biểu cảm nhận ...

? Nhận xét ước nguyện của tác giả ở câu thơ cuối bài ?

        Gv: Tác giả muốn hoá thân vào thiên nhiên xứ sở quanh lăng Bác để được gần Bác, dâng lên Bác niềm tôn kính. Lời tâm nguyện chân thành tha thiết, thể hiện cảm xúc lưu luyến không muốn rời xa.

 

 

? Khái quát những thành công về nghệ thuật được Viễn Phương thể hiện qua văn bản Viếng Lăng Bác?

- Hs: Khái quát , Gv  nhận xét bổ sung và chốt kiến thức.

? Qua bài thơ tác giả muốn nói với người đọc điều gì?

- Thể hiện tình cảm tác giả đối với bác kính yêu

- Ca ngợi công lao to lớn, sự vĩ đại của Bac đối với con người VN, dân tộc VN.

 

 

? Đọc diễn cảm bài thơ?

 

I . Giới thiệu tác giả , văn bản

1.  Tác giả:

2. Văn bản :

- Tháng 4 - 1976 sau khi thống nhất đất nước, lăng chủ tịch Hồ Chí Minh vừa khánh thành . Viễn Phương từ  Miền Nam ra thăm miền Bác và vào lăng viếng Bác.

-  In trong tập "Như mây mùa xuân"

II . Đọc, tìm hiểu chung

1. Đọc văn bản

 

2. Tìm hiểu chú thích

 

 

3. Thể thơ: 8 chữ

 

 

4 . Bố cục của bài thơ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

II. Đọc và tìm hiểu văn bản

1. Cảm xúc của VP khi đứng trước lăng Bác ( khổ thơ đầu )

         

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- Câu thơ đầu :  như một lời tâm sự, từ ngữ dung dị, tự nhiên, cách xưng hô thân mật gần gũi, giọng điệu cảm xúc như người con về thăm cha.

 

 

 

 

 

 

- Ba câu sau : Hình ảnh hàng tre nổi bật và gây ấn tượng về cảnh quan bên lăng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

H/ả hàng tre tượng trưng cho vẻ đẹp thanh cao và sức sống bền bỉ, mãnh liệt của con người, dân tộc Việt Nam

2. Cảm xúc của nhà thơ trước dòng người vào lăng viếng Bác.

 ( khổ 2 )

- Hai câu đầu

+ “Mặt trời ở câu 1: Tả thực

        (Mặt trời của vũ trụ.

+ “Mặt trời ở câu 2 : ẩn dụ về Bác

-> Nêu bật sự vĩ đại cao cả và ngợi ca công lao to lớn của Bác đối với dân tộc , thể hiện lòng biết ơn Bác .

- Hai câu cuối

+ Điệp từ “ngày ngày” -> nỗi tiếc thương vô hạn , lặng lẽ cùng dòng người vào lăng viếng Bác

 

 

+ Hình ảnh ẩn dụ : “tràng hoa” , “79 mùa xuân” -> Tấm lòng thành kính , biết ơn dâng lên Bác . 

 

 

- Nhịp thơ trầm lắng, âm điệu kéo dài -> diễn tả dòng người vô tận, diễn tả cảm xúc sâu nặng nhớ thương của đồng bào Miền Nam với Bác.

3. Cảm xúc của nhà thơ khi vào trong lăng Bác ( khổ 3 )

 

- Bác đang trong giấc ngủ thanh bình và vĩnh hằng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- Hình ảnh ẩn dụ vầng trăng : tâm hồn cao đẹp , sáng trong của Bác ; gợi liên tưởng những vần thơ tràn đầy ánh trăng của Người .

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- H/ả ẩn dụ "trời xanh" tượng trưng cho sự bất diệt của Bác Hồ.

 

 

 

 

-> Các hình ảnh ẩn dụ độc đáo dặc sắc giàu ý nghĩa biểu đạt.

 

 

 

 -Nỗi đau xót tột cùng khi Bác không còn -> Bộc lộ trực tiếp .

=> Tấm lòng thành kính thiêng liêng .

 

 

 

 

4. Cảm xúc của VP  khi rời lăng Bác ( khổ 4 )

 

 

- Xúc động , bâng khuâng, lưu luyến không muốn rời xa Bác.

 

 

 

 

 

 

 

 

- Điệp ngữ muốn làm

=> nhấn mạnh ước nguyện thiết tha được hoá thân vào thiên nhiên xứ sở để được gần Bác .

 

- Kết thúc bài thơ lời tâm nguyện chân thành : nguyện trung thành với lí tưởng của Bác

III. Tổng kết- Ghi ghớ

 

 

1. Nghệ thuật

- So sánh tả  thực, ẩn dụ tượng trưng, từ ngữ chọn lọc, giọng điệu bài thơ tha thiết trang nghiêm

2. Nội dung

- Thể hiện tình cảm tác giả đối với bác kính yêu

- Bài thơ là một nén hương thơm mà Viễn Phương dâng lên Bác Hồ kính yêu

IV. Luyện tập

- Đọc diễn cảm bài thơ ( Có thể hát )

- Bài tập vận dung: Viết 1 đoạn thể hiện cảm nghĩ về 1 đoạn thơ mà em thích

       

        4. Củng cố:  Giáo viên hệ thống lại nội dung bài học , nhấn mạnh cảm xúc của nhà thơ, nghệ thuật sử dụng hình ảnh trong bài thơ..

        5. Hướng dẫn về nhà: Về nhà học thuộc lòng  bài thơ, cảm nhận khổ thơ

1, 2, soạn bài tiếp theo .

           

III. Kết quả

        Qua thời gian thực hiện chuyên đề nhận thấy đa số các em yêu thích học môn văn, nắm được nội dung, nghệ thuật của tác phẩm, bước đầu các em có kĩ năng tự khai thác, phân tích giá trị của một tác phẩm cụ thể .

* Hạn chế : đối với những lớp có học sinh yếu kém không có  khả năng viết chữ, diễn đạt thì việc chuẩn bị trước cũng như bàn luận , hoạt động nhóm của các em rất hạn chế nên GV khó có thể dạy được một tiết văn đạt loại khá tuy nhiên các em vẫn thích hoạt động .

 

     C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ:

 

      Muốn thực hiện được một tiết dạy văn khá , tốt người GV cần phải nắm vững đặc trưng của bộ môn, phải chuẩn bị chu đáo từ mục tiêu bài học đến phương tiện, phương pháp dạy học, các hình thức hoạt động, chuẩn bị của thầy và trò, Một số biên pháp thu hút sự chú ý , tạo sự thoải mái , tự nhiên trong hoạt động dạy và học. Dù cho HS có yếu kém nhưng nếu chúng ta thực hiện bằng cả trái tìm thì chắc chắn rằng HS cũng có tiến bộ so với cách truyền đạt thụ động.

           Trên đây là một số kinh nghiêm rút ra trong thực tế quá trình giảng dạy. Tuy nhiên những kinh nghiệm này mới chỉ dừng lại ở quan điểm cá nhân. Tôi rất mong có sự gúp đỡ, đóng góp ý kiến của các thầy, các cô chỉ đạo chuyên môn để việc dạy học văn mỗi ngày một lôi cuốn, hấp dẫn và đạt hiệu quả hơn. Hy vọng rằng trong những năm học tới phòng giáo dục sẽ có nhiều hoạt động thiết thực để chúng tôi tiếp tục được học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của mình .

Tác giả: thcsanninh

Thi nghi thức Đội THCS An Ninh
MÚA VÌ MỘT BIỂN ĐÔNG - LIÊN ĐỘI THCS AN NINH
MÚA NƯỚC NON HỮU TÌNH - LIÊN ĐỘI THCS AN NINH
  • Ba công khai
  • Thông báo