tin tức-sự kiện

LUẬT PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

HỘI ĐỒNG PHỐI HỢP CÔNG TÁC

PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH PHỦ

ĐẶC SAN

TUYÊN TRUYỀN PHÁP LUẬT

Số: 08 /2012

CHỦ ĐỀ

LUẬT PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

PHẦN I

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

I. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA CỦA PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

1. Khái niệm, đặc điểm của phổ biến, giáo dục pháp luật

1.1. Khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật

Phổ biến giáo dục pháp luật là một từ ghép giữa “phổ biến pháp luật” và “giáo dục pháp luật”.

Phổ biến pháp luật:

Theo từ điển Tiếng Việt (NXB Đà Nẵng năm 1997) hay Từ và ngữ Hán Việt (NXB Từ điển Bách Khoa - 2002) thì "Phổ biến là làm cho đông đảo mọi người biết đến một vấn đề, một tri thức bằng cách truyền đạt trực tiếp hay thông quan hình thức nào đó" hoặc làm cho mọi người đề biết đến".

Phổ biến pháp luật có đối tượng tác động rộng rãi, mang ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc, bởi trong lịch sử đã có lúc pháp luật được ban hành nhưng không được phổ biến công khai mà chỉ được coi là một công cụ để nhà nước dùng để trị dân. Bên cạnh đó phổ biến pháp luật còn mang tính tác nghiệp, truyền đạt nội dung pháp luật cho các đối tượng cụ thể. Ở những mức độ khác nhau, phổ biến pháp luật còn nhằm làm cho các đối tượng cụ thể hiểu thấu suốt các quy định của pháp luật để thực hiện pháp luật trên thực tế. Phổ biến pháp luật thường được thực hiện thông qua các hội nghị, các cuộc tập huấn...

Giáo dục pháp luật:

Theo Từ điển Từ và ngữ Hán – Việt "Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm bồi dưỡng cho con người những phẩm chất đạo đức và những tri thức cần thiết để người ta có khả năng tham gia mọi mặt của đời sống xã hội".

So với phổ biến thì giáo dục cũng nhằm nâng cao nhận thức, tình cảm song nội dung rộng hơn, phương thức tiến hành chặt chẽ hơn, đối tượng xác định hơn, mục đích lớn hơn. Xét dưới góc độ nhất định thì phổ biến chính là các phương thức giáo dục cụ thể.

Trong các tài liệu khoa học về pháp luật ở nước ta hiện nay, các tác giả đã khá thống nhất với khái niệm giáo dục pháp luật: Giáo dục pháp luật là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục một cách có hệ thống và thường xuyên nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm pháp lý và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của pháp luật hiện hành.

Tóm lại, Phổ biến giáo dục pháp luật (PBGDPL) hiểu theo nghĩa rộng là là công tác, lĩnh vực hoạt động, bao gồm tất cả các công đoạn phục vụ cho việc thực hiện PBGDPL (xây dựng chương trình, kế hoạch PBGDPL; triển khai chương trình, kế hoạch PBGDPL thông qua việc áp dụng các hình thức, biện pháp PBGDPL; hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết việc thực hiện chương trình, kế hoạch PBGDPL). Hiểu theo nghĩa hẹp là: truyền đạt tinh thần, nội dung pháp luật giúp cho đối tượng tác động hiểu và hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm, hành vi phù hợp với các đòi hỏi của các quy định pháp luật hiện hành.

1.2. Đặc điểm của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

- Phổ biến, giáo dục pháp luật là một bộ phận của công tác giáo dục trính trị, tư tưởng.

- Phổ biến, giáo dục pháp luật có mối liên hệ chặt chẽ với công tác xây dựng, thực hiện pháp luật.

- Phổ biến, giáo dục pháp luật được tổ chức thực hiện bởi những chủ thể xác định (Chính phủ, Các bộ, ngành Trung ương, UBNB các cấp).

- Phổ biến, giáo dục pháp luật nhằn truyền đạt thông tin, nội dung pháp luật giúp đối tượng được tác động có những hiểu biết nhất định về pháp luật góp phần nâng cao ý thức pháp luật cho đối tượng.

2. Mục đích, ý nghĩa của PBGDPL trong đời sống xã hội

Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật luôn có vị trí và vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa hiện nay, là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự điều phối, tổ chức thực hiện của các cơ quan nhà nước và các tổ chức, đoàn thể; là khâu then chốt, quan trọng để chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước thực sự đi vào cuộc sống xã hội, đi vào ý thức, hành động của từng chủ thể trong xã hội.

PBGDPL là cầu nối để chuyển tải pháp luật vào cuộc sống. Nói cách khác, quá trình đưa pháp luật vào cuộc sống được bắt đầu bằng hoạt động PBGDPL. Thực hiện pháp luật dù bằng hình thức nào - tuân thủ, thi hành (chấp hành) pháp luật, sử dụng (vận dụng) pháp luật hay áp dụng pháp luật.

Trước hết đều phải có hiểu biết pháp luật. Nếu không nhận thức đầy đủ vị trí quan trọng và không thực hiện tốt công tác PBGDPL thì dù công tác xây dựng pháp luật có làm tốt đến mấy cũng không đạt được hiệu quả thực thi pháp luật.

Pháp luật của Nhà nước không phải khi nào cũng được mọi người trong xã hội biết đến, tìm hiểu, đồng tình ủng hộ và thực hiện nghiêm chỉnh. Tuy rằng bản chất pháp luật của Nhà nước ta là tốt đẹp, nó phản ánh ý chí, nguyện vọng, mong muốn của đông đảo quần chúng nhân dân trong xã hội. Tuy nhiên, dù những quy định pháp luật có tốt đẹp nhưng không được nhân dân biết đến thì vẫn không đi vào cuộc sống.

PBGDPL chính là phương tiện truyền tải những thông tin, những yêu cầu, nội dung và các quy định pháp luật đến với người dân, giúp cho người dân hiểu biết, nắm bắt pháp luật kịp thời mà không mất quá nhiều thời gian, công sức cho việc tự tìm hiểu, tự học tập. Đó chính là phương tiện hỗ trợ tích cực để nâng cao hiểu biết pháp luật cho nhân dân.

Thứ hai là phải hình thành lòng tin vào pháp luật của đối tượng

Pháp luật chỉ có thể được mọi người thực hiện nghiêm chỉnh khi họ tin tưởng vào những quy định của pháp luật. Pháp luật được xây dựng là để bảo vệ quyền và lợi ích của nhân dân, đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng, đảm bảo công bằng và dân chủ xã hội. Khi nào người dân nhận thức đầy đủ được như vậy thì pháp luật không cần một biện pháp cưỡng chế nào mà mọi người vẫn tự giác thực hiện.

Tạo lập niềm tin vào pháp luật cho mỗi người và cả cộng đồng đòi hỏi sự kết hợp của nhiều yếu tố. Một trong các yếu tố đóng vai trò quan trọng là PBGDPL để mọi người hiểu biết về pháp luật, hiểu biết về quá trình thực hiện và áp dụng pháp luật. Pháp luật cũng như mọi hiện tượng khác trong xã hội bao giờ cũng có hai mặt, không phải lúc nào nó cũng thoả mãn hết, phản ánh được đầy đủ nguyện vọng, mong muốn của tất cả mọi người trong xã hội. Quá trình điều chỉnh pháp luật sẽ lấy lợi ích của đông đảo nhân dân trong xã hội làm tiêu chí, thước đo, do đó sẽ có một số ít không thoả mãn được. Chính các yếu tố hạn chế của các quy định pháp luật càng tạo nên sự cần thiết của công tác PBGDPL để mọi người hiểu đúng pháp luật, đồng tình ủng hộ pháp luật. Có như vậy mới hình thành lòng tin vào pháp luật của đông đảo nhân dân trong xã hội.

Thứ ba là nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật của đối tượng

Ý thức pháp luật của người dân được hình thành từ hai yếu tố đó là tri thức pháp luật và tình cảm pháp luật.

Tri thức pháp luật là sự hiểu biết pháp luật của các chủ thể có được qua việc học tập, tìm hiểu pháp luật, qua quá trình tích luỹ kiến thức của hoạt động thực tiễn và công tác. Tình cảm pháp luật chính là trạng thái tâm lý của các chủ thể khi thực hiện và áp dụng pháp luật, họ có thể đồng tình ủng hộ với những hành vi thực hiện đúng pháp luật, lên án các hành vi vi phạm pháp luật.

Ý thức tự giác chấp hành pháp luật của nhân dân chỉ có thể được nâng cao khi công tác PBGDPL cho nhân dân được tiến hành thường xuyên, kịp thời và có tính thuyết phục. PBGDPL không đơn thuần là phổ biến các văn bản pháp luật đang có hiệu lực mà còn lên án các hành vi vi phạm pháp luật, đồng tình ủng hộ các hành vi thực hiện đúng pháp luật, hình thành dư luận và tâm lý đồng tình ủng hộ với hành vi hợp pháp, lên án các hành vi vi phạm pháp luật.

PBGDPL nhằm hình thành, củng cố tình cảm tốt đẹp của con người với pháp luật, đồng thời ngày càng nâng cao sự hiểu biết của con người đối với các văn bản pháp luật và các hiện tượng pháp luật trong đời sống, từ đó nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật của nhân dân.

Thứ tư là PBGDPL góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý xã hội

Vai trò quan trọng này của công tác PBGDPL bắt nguồn từ chính vai trò và giá trị xã hội của pháp luật là phương tiện hàng đầu để quản lý nhà nước, quản lý xã hội. PBGDPL giúp cho mọi người có tri thức pháp lý, tình cảm pháp luật đúng đắn và hành vi hợp pháp, tạo tiền đề cho việc sử dụng quyền lực nhà nước, tăng cường pháp chế, phát huy dân chủ và quyền tự do của mỗi người.

PBGDPL đồng thời tạo ra khả năng đổi mới các quan hệ xã hội trong môi trường quản lý nhà nước bằng pháp luật, hình thành các điều kiện và nhân tố thuận lợi cho quá trình quản lý nhà nước, quản lý xã hội; tạo ra khả năng phát hiện và loại trừ những hiện tượng tiêu cực, chống đối pháp luật diễn ra trong quá trình quản lý.

II. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1. Quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Trong quá trình đổi mới, xuất phát từ vai trò, ý nghĩa quan trọng của công tác PBGDPL, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều biện pháp nhằm nâng cao hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân. Đặc biệt, trong những năm gần đây, công tác PBGDPL đã được thực hiện theo các chương trình, kế hoạch cụ thể được Chính phủ phê duyệt. Sau khi ban hành Chỉ thị số 02/1998 về tăng cường PBGDPL trong giai đoạn hiện nay và Quyết định số 03/1998/QĐ-TTg ngày 07/01/1998 về việc ban hành Kế hoạch triển khai công tác PBGDPL từ năm 1998 đến năm 2002 và thành lập Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL, công tác này đã đạt được những kết quả quan trọng. Tiếp nối Chương trình này, ngày 17/01/2003, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 13/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình PBGDPL từ năm 2003- 2007. Đây là những văn bản pháp luật có ý nghĩa quan trọng, khẳng định quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta trong việc đẩy mạnh công tác PBGDPL, làm chuyển biến nhận thức, từng bước nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân, góp phần tăng cường pháp chế XHCN, quản lý xã hội bằng pháp luật trong thời kỳ đổi mới.

Để tiếp tục đưa công tác PBGDPL lên một tầm cao mới, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, ngày 09 tháng 12 năm 2003, Ban Bí thư Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đã ban hành Chỉ thị số 32-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác PBGDPL, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân. Chỉ thị đã khẳng định PBGDPL là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục của các cơ quan Đảng, chính quyền, Nhà nước và cả hệ thống chính trị, đồng thời công tác PBGDPL là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng. Chỉ thị thể hiện sự đổi mới về nhận thức của Đảng ta đối với công tác PBGDPL. Để triển khai thực hiện Chỉ thị này, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 61/2007/NQ-CP ngày 07/12/2007 của Chính phủ về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW; Quyết định số 212/2004/QĐ-TTg ngày 16 tháng 12 năm 2004 phê duyệt Chương trình hành động quốc gia PBGDPL và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2010. Tiếp đó ngày 12/3/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 37/2008/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình PBGDPL từ năm 2008 đến năm 2012, trong đó có 04 đề án về PBGDPL tạo nguồn lực quan trọng cho công tác này. Thủ tướng Chính phủ còn ban hành Quyết định số 2160/QĐ-TTg ngày 26 tháng 11 năm 2010 phê duyệt Đề án tăng cường công tác PBGDPL nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho thanh thiếu niên giai đoạn 2011 – 2015; Quyết định số 409/QĐ-TTg ngày 09 tháng 4 năm 2012 ban hành Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 04-KL/TW ngày 19 tháng 4 năm 2011 của Ban BíthưTrung ương Đảng (khóa XI), trong đó có nhiều đề án về PBGDPL. Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Kết luận số 04-KL/TW ngày 19/4/2011 về kết quả thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW. Bên cạnh đó, các Bộ, ngành, đoàn thể ở trung ương và các địa phương đã ban hành nhiều Chương trình, kế hoạch PBGDPL. Ngoài ra, Bộ Tư pháp đã ban hành và liên tịch ban hành một số Thông tư, Thông tư liên tịch về lĩnh vực nêu trên, tạo cơ sở pháp lý cho việc tăng cường chất lượng, hiệu quả công tác PBGDPL.

Nhằm triển khai Chỉ thị số 32-CT/TW của Ban Bí thư, các Chương trình PBGDPL của Chính phủ, các bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân các cấp đã chủ động xây dựng kế hoạch PBGDPL dài hạn, hàng năm và kế hoạch triển khai công tác PBGDPL ở từng thời gian cụ thể, từng đợt cao điểm; ban hành và tổ chức triển khai nhiều Đề án về PBGDPL để tạo nguồn lực cho công tác này như: Đề án "Đổi mới công tác PBGDPL trong các học viện, nhà trường và đơn vị quân đội" (Bộ Quốc phòng); Đề án "Nâng cao nhận thức pháp luật cho đồng bào dân tộc miền núi Thanh Hoá" và Đề án "Nâng cao nhận thức pháp luật cho cán bộ, nhân dân các xã, phường ven biển" (tỉnh Thanh Hoá); Đề án "Đem luật về làng" (huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng); Đề án "Công tác PBGDPL trong cán bộ, công chức và nhân dân giai đoạn 2001-2005" (tỉnh Đắc Lắc)... Nhìn chung, các văn bản được ban hành để chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện công tác PBGDPL ngày càng thường xuyên và kịp thời hơn, đã chú trọng bám sát mục tiêu, yêu cầu, mục đích phổ biến, tuyên truyền pháp luật của Chương trình và gắn công tác PBGDPL với nhiệm vụ chính trị cụ thể của cơ quan, đơn vị, địa phương, đặc điểm của đối tượng và đặc thù của địa bàn. Đặc biệt từ khi có Chỉ thị số 32-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng thì nhiều cấp uỷ đảng đã ban hành Chỉ thị, Thông tri hoặc đưa nội dung PBGDPL vào Nghị quyết của Đảng để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác PBGDPL.

Đặc biệt, để tạo cơ sở pháp lý mạnh, đồng bộ, thống nhất cho công tác PBGDPL, góp phần nâng cao hiệu quả công tác này, ngày 20 tháng 6 năm 2012, Quốc hội đã thông qua Luật PBGDPL. Luật có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2013.

2. Xây dựng cơ chế phối hợp thông qua Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL các cấp

Công tác PBGDPL được triển khai rộng khắp thông qua hoạt động của Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL các cấp. Hoạt động theo mô hình này, lần đầu tiên, công tác PBGDPL đã huy động được sự tham gia đông đảo của các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể; phát huy được tính xã hội hoá, thu hút được nhiều nguồn lực trong xã hội tham gia. Sự tồn tại của Hội đồng cùng hiệu quả hoạt động của nó đã và đang được khẳng định.

Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL của Chính phủ ngày càng được kiện toàn, củng cố. Thành viên tham gia Hội đồng đã chủ động và tích cực hơn trong công tác phối hợp. Quy chế hoạt động của Hội đồng được xây dựng và sửa đổi, bổ sung đảm bảo phát huy hiệu quả hoạt động của Hội đồng. Trước đòi hỏi mới của công tác PBGDPL, nhiều Bộ, ngành ở Trung ương đã thành lập Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL. Hiện nay, 23 Bộ, ngành, đoàn thể ở trung ương đã có Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL, có Bộ đã thành lập Hội đồng phối hợp công tác ở các tổ chức, đơn vị của mình (Bộ Quốc phòng thành lập đến các quân khu, sư đoàn, tổng công ty…, Bộ Công an, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành lập đến các Tổng cục, Bộ Giáo dục và Đào tạo thành lập đến các trường). Hội đồng các cấp ở địa phương đã được củng cố, kiện toàn ở cả 3 cấp (tỉnh, huyện, xã) với 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, 98% quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và 87,92% xã, phường, thị trấn trong cả nước đã thành lập Hội đồng[1]. Đặc biệt, có một số doanh nghiệp đã thành lập Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL, đó là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Na Dương ở Lạng Sơn; huyện U Minh của tỉnh Cà Mau đã thành lập được 04 Hội đồng tại các công ty lâm nghiệp.

Nhìn chung, Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL các cấp thực hiện tốt nhiệm vụ tham mưu trong công tác PBGDPL; tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan thành viên để nâng cao hiệu quả công tác PBGDPL.

3. Nguồn lực cho công tác PBGDPL

3.1. Từng bước kiện toàn tổ chức và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác PBGDPL

3.1.1. Kiện toàn về tổ chức

Hơn 10 năm qua, việc xây dựng và kiện toàn tổ chức đã có một bước tiến đáng kể, đã hình thành, củng cố và phát triển được một hệ thống các cơ quan, tổ chức trực tiếp thực hiện công tác PBGDPL theo hướng hoạt động chuyên nghiệp hơn. Hiện nay, ở Trung ương, Bộ Tư pháp có Vụ PBGDPL; 21 Bộ, cơ quan ngang Bộ còn lại đã thành lập Vụ Pháp chế làm đầu mối tham mưu và tổ chức triển khai công tác PBGDPL, trong đó một số Vụ Pháp chế có Phòng PBGDPL như Bộ Công an, Bộ Công thương... Các cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan Trung ương của các tổ chức đoàn thể đã phân công một đơn vị làm đầu mối theo dõi công tác pháp chế. Các Cục, Vụ, Viện trực thuộc các Bộ, ngành cũng có cán bộ pháp chế thực hiện công tác PBGDPL tại đơn vị mình.

Điểm nổi bật trong kiện toàn tổ chức và củng cố nguồn nhân lực làm công tác PBGDPL tại địa phương là việc thành lập Phòng PBGDPL tại 63/63 Sở Tư pháp. Nhiều Sở, ban, ngành cấp tỉnh thành lập Phòng pháp chế hoặc bố trí cán bộ pháp chế thực hiện nhiệm vụ về xây dựng pháp luật, PBGDPL. Các đơn vị cấp huyện trong cả nước đã thành lập Phòng Tư pháp.

3.1.2. Nâng cao chất lượng đội ngũ, cán bộ làm công tác PBGDPL

Nhìn một cách tổng thể, những năm gần đây, lực lượng làm công tác PBGDPL đã và đang dần được củng cố, kiện toàn, đồng thời có sự phát triển mạnh về số lượng và chất lượng. Sau khi có Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, lãnh đạo các cấp, các ngành đã có sự quan tâm, chỉ đạo tăng cường năng lực của đội ngũ làm công tác PBGDPL, bằng nhiều hình thức đã chủ động đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cho đội ngũ này, coi đây là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định chất lượng, hiệu quả của công tác PBGDPL. Cơ quan thường trực Hội đồng phối hợp của Chính phủ định kỳ hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương rà soát, củng cố, kiện toàn tổ chức Hội đồng phối hợp các cấp và đội ngũ cán bộ thực hiện công tác PBGDPL. Thời gian qua, công tác củng cố, kiện toàn về tổ chức của Hội đồng phối hợp các cấp được các Bộ, ngành, đoàn thể và địa phương quan tâm thực hiện; thường xuyên đề xuất bổ sung, thay thế thành viên Hội đồng khi có thành viên Hội đồng đảm nhận công tác khác.

Nhằm nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ làm công tác PBGDPL, hàng năm, cơ quan thường trực Hội đồng phối hợp của Chính phủ tổ chức tập huấn kiến thức pháp luật, nghiệp vụ PBGDPL cho cán bộ pháp chế các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, báo cáo viên pháp luật trung ương, cán bộ pháp chế các doanh nghiệp nhà nước (2 lần/năm); cơ quan thường trực Hội đồng phối hợp các Bộ, ngành, đoàn thể trung ương và cơ quan thường trực Hội đồng phối hợp các cấp ở địa phương đã tổ chức tập huấn kiến thức pháp luật, nghiệp vụ PBGDPL cho cán bộ làm công tác PBGDPL và báo cáo viên pháp luật thuộc phạm vi quản lý. Trên cơ sở hướng dẫn của Hội đồng Chính phủ, Hội đồng các Bộ, ngành, địa phương đã tổ chức rà soát, củng cố, tổ chức bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ PBGDPL đội ngũ cán bộ thực hiện công tác PBGDPL ở Bộ, ngành, địa phương, đặc biệt là đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật.

Theo thống kê, cả nước hiện có 747 báo cáo viên pháp luật trung ương, 5,395 báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh và 13,019 báo cáo viên pháp luật cấp huyện[2]. Cùng với báo cáo viên pháp luật, với lực lượng gồm 77,264 người[3], trong thời gian vừa qua, tuyên truyền viên pháp luật có những đóng góp quan trọng trong việc nâng cao hiểu biết, ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân.

Hiện nay, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ đều bố trí cán bộ làm công tác PBGDPL. Ở địa phương, ngoài công chức tư pháp công tác tại các Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp làm công tác PBGDPL, nhiều sở, ban, ngành cấp tỉnh đã bố trí cán bộ pháp chế thực hiện các nhiệm vụ về xây dựng pháp luật, PBGDPL. Công chức tư pháp-hộ tịch và các công chức khác của xã, phường, thị trấn cũng là lực lượng đông đảo tham gia PBGDPL. Một số bộ, ban, ngành và địa phương đã huy động đội ngũ báo cáo viên tuyên huấn của Đảng, giáo viên các trường chính trị cấp tỉnh, Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện tham gia PBGDPL, đảm bảo tuyên truyền kịp thời đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng gắn với phổ biến pháp luật.

Các lực lượng nói trên đã phát huy được sức mạnh tổng hợp trong PBGDPL những năm gần đây, theo đúng tinh thần Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09 tháng 12 năm 2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác PBGDPL, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân, có đóng góp đáng kể cho công tác đưa pháp luật vào cuộc sống, tạo chuyển biến rõ nét trong việc nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của các thành viên trong xã hội.

3.2. Đầu tư kinh phí dành cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Trong thời gian gần đây, đặc biệt từ khi có Chỉ thị số 32 và các Chương trình, Đề án về PBGDPL của Chính phủ, việc đầu tư nguồn lực về bộ máy, cán bộ và kinh phí cho công tác PBGDPL được tăng cường. Triển khai Thông tư số 63/2005/TT-BTC ngày 05/8/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí bảo đảm cho công tác PBGDPL và nay là Thông tư số 73/2010/TTLT-BTC-BTP ngày ngày 14 tháng 5 năm 2010, các bộ, ngành, địa phương đều bố trí kinh phí cho công tác PBGDPL trong kế hoạch ngân sách hàng năm của mình. Việc ban hành Thông tư số 73/2010/TTLT-BTC-BTP đã bước đầu tạo điều kiện thuận lợi cho các bộ, ngành, địa phương chủ động trong việc bố trí ngân sách hàng năm cho công tác PBGDPL. 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và hầu hết các huyện đều phê duyệt kinh phí theo kế hoạch PBGDPL. Ngoài khoản ngân sách Nhà nước cấp cho hoạt động PBGDPL, có nơi còn nhận được hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân, dự án; huy động được sự đóng góp từ phía doanh nghiệp, cá nhân trong nước và nước ngoài.

4. Một số kết quả đạt được trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

4.1. Về đối tượng phổ biến, giáo dục pháp luật

Hơn 10 năm qua, công tác PBGDPL đã ngày càng phủ rộng đối tượng được PBGDPL, trong đó tập trung vào 05 nhóm đối tượng cần ưu tiên là nông dân, đồng bào dân tộc thiểu số, phụ nữ; cán bộ, công chức; thanh thiếu niên; người lao động, người quản lý; cán bộ công đoàn và lực lượng vũ trang nhân dân.

Mọi đối tượng thuộc các tầng lớp nhân dân thuộc nhiều vùng miền khác nhau đều được phổ biến các văn bản pháp luật phù hợp với đối tượng đó. Thông qua PBGDPL, cán bộ, nhân dân được tìm hiểu, học tập pháp luật thuận lợi, kịp thời hơn; nhận thức pháp luật của nhân dân có chuyển biến rõ nét. Ở nhiều địa phương, tình hình khiếu nại, tố cáo đông người, vượt cấp, sai pháp luật có chiều hướng giảm.

Việc giáo dục pháp luật được triển khai ở các cấp học, trình độ đào tạo; ở hầu hết các cơ sở giáo dục, đào tạo thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, giúp người học có kiến thức cơ bản về pháp luật, phù hợp với từng đối tượng học.

4.2. Nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật

Việc định hướng nội dung pháp luật cần phổ biến về cơ bản là phù hợp, đã bám sát các chủ trương, chính sách lớn của Đảng trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, chính trị và trật tự, an toàn xã hội, hội nhập kinh tế quốc tế và phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ chính trị của ngành, địa phương. Từ đó các cấp, các ngành đã tập trung vào những quy định pháp luật gắn liền với các chủ trương, chính sách nêu trên, lấy tiêu chí đặc điểm địa bàn và đối tượng làm cơ sở để xây dựng và triển khai kế hoạch PBGDPL, gắn công tác PBGDPL với thực tiễn chấp hành pháp luật. Tuỳ theo yêu cầu của từng giai đoạn cụ thể, căn cứ vào nhu cầu thực tế của cán bộ, nhân dân, trong thời gian qua, hàng ngàn văn bản pháp luật quan trọng, liên quan đến cuộc sống hàng ngày của các tầng lớp cán bộ, nhân dân và doanh nghiệp đã được phổ biến như các quy định pháp luật về dân sự, kinh tế (như Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Doanh nghiệp...); về quyền dân chủ của công dân (như Luật Khiếu nại, tố cáo, Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Nghị quyết số 388/2003 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra; các quy định pháp luật về dân chủ ở cơ sở...); về an ninh, trật tự (như Bộ luật Hình sự, Luật Giao thông đường bộ, Luật Biên giới quốc gia, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Biển Việt Nam, Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm...); về hội nhập kinh tế quốc tế (như Luật Đầu tư, Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, các quy định liên quan đến việc Việt Nam gia nhập WTO...); về văn hoá - xã hội (như Luật Giáo dục, Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em, Luật Khoa học và công nghệ, Luật Người cao tuổi, Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo...);

Căn cứ vào nhiệm vụ chính trị và tình hình cụ thể, các địa phương đã triển khai phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương, của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân địa phương phù hợp với nhu cầu từng đối tượng, địa bàn: các tỉnh biên giới tuyên truyền Luật Biên giới quốc gia; các tỉnh miền núi tập trung triển khai Luật Bảo vệ và phát triển rừng; các tỉnh có nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất quan tâm phổ biến pháp luật lao động; giải quyết tranh chấp lao động... Các văn bản pháp luật do chính quyền địa phương ban hành được quan tâm phổ biến nhiều hơn so với trước đây. Các địa phương đã chú ý đến việc phổ biến các nội dung pháp luật gắn với các sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa quan trọng của đất nước và địa phương (bầu cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, các lễ hội lớn, hội nghị quốc tế lớn diễn ra tại Việt Nam). Bên cạnh đó, việc lồng ghép nội dung pháp luật với quy ước, hương ước, luật tục tiến bộ cũng được nhiều địa phương coi trọng.

4.3. Kết quả hoạt động thông qua các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật

Việc PBGDPL cho cán bộ, nhân dân được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau. Để đảm bảo hiệu quả cao khi PBGDPL, các ngành, các cấp đều có sự lựa chọn các hình thức phù hợp với đối tượng, địa bàn nhất định. Các hình thức, biện pháp PBGDPL truyền thống tiếp tục được vận dụng sáng tạo bên cạnh các hình thức PBGDPL mới.

Phổ biến pháp luật trực tiếp được sử dụng như một hình thức phổ biến pháp luật quan trọng, gắn bó chặt chẽ với nhiều hình thức phổ biến khác và là một bộ phận không thể thiếu, không thể tách rời trong tổng thể các hình thức PBGDPL. Đây là hình thức chiếm ưu thế, đang được tất cả bộ, ngành, địa phương sử dụng thường xuyên thông qua việc học pháp luật, hội nghị, hội thảo, toạ đàm, các lớp tập huấn và một số hoạt động khác. Trong nhiều hội nghị, hội thảo, toạ đàm, lớp tập huấn đã tăng cường thảo luận, trao đổi, đối thoại để nắm bắt vướng mắc, nhu cầu của người nghe và giải đáp đúng những vấn đề mà họ cần. Bên cạnh đó, nhiều địa phương chú trọng nội dung tập huấn, thảo luận theo chuyên đề, lồng ghép phổ biến kiến thức pháp luật trong các buổi họp thôn, họp giao ban.

Việc PBGDPL thông qua các phương tiện thông tin đại chúng ngày càng được phát huy như một hình thức đang giữ nhiều ưu thế.

Nhận thức được lợi thế của hình thức này trong giai đoạn hiện nay là phổ cập, nhanh chóng, kịp thời, rộng khắp, hấp dẫn và có đông đảo bạn đọc, khán thính giả trong nước và nước ngoài, do đó, các bộ, ngành, địa phương đã tiếp tục duy trì và đẩy mạnh PBGDPL qua các kênh của Đài phát thanh và truyền hình Trung ương và địa phương. Các chuyên trang, chuyên mục trên các loại hình báo chí được củng cố và cải tiến, tăng về số lượng, cách trình bày hấp dẫn dưới nhiều hình thức (hỏi đáp, tình huống, tiểu phẩm, phóng sự, giới thiệu văn bản, nghiên cứu trao đổi ...) và nội dung có ý nghĩa, thiết thực. Một số địa phương đã xây dựng mới các chuyên mục mang tính đặc thù (chương trình thử nghiệm trên truyền hình bằng bốn thứ tiếng dân tộc của Bộ Tài nguyên và Môi trường; phát thanh song ngữ tiếng Kinh-Tày, Dao, Mông, Giáy, chuyên mục tiếng dân tộc của Đài phát thanh Lào Cai, Sơn La, Trà Vinh; ...). Việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật lưu động thông qua đội phát thanh, đội chiếu phim lưu động đã phát huy được hiệu quả đối với những vùng, miền có nhiều khó khăn, vùng sâu, vùng xa (An Giang). Chương trình "Gặp gỡ và đối thoại" (Cần Thơ), đi phân phát báo đến tận vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc (Hậu Giang), đội kịch lưu động (thành phố Hồ Chí Minh) đã phát huy tác dụng tốt. Hệ thống đài truyền thanh hầu hết các huyện, xã đều có chương trình, chuyên mục phát thanh pháp luật. Gần 100% xã, phường, thị trấn trong cả nước đã có hệ thống loa truyền thanh cơ sở, thời điểm phát sóng phù hợp với sinh hoạt của dân cư.

Tài liệu phổ biến pháp luật đã được biên soạn theo hướng phù hợp với nhu cầu của từng đối tượng, địa bàn, đáp ứng tính thời sự và yêu cầu phổ biến pháp luật trong từng giai đoạn. Tài liệu pháp luật được biên soạn, phát hành đa dạng hơn nhiều so với trước đây. Ngoài sách hỏi đáp, sách chuyên đề, sổ tay pháp luật, sách nghiệp vụ, tờ gấp, đề cương giới thiệu luật, sách song ngữ Việt-Anh, tiếng Việt-tiếng dân tộc còn có các loại tài liệu khác như băng tiếng, băng hình, trong đó thu băng các cuộc nói chuyện về pháp luật, xây dựng phóng sự, tiểu phẩm pháp luật, tình huống pháp luật, phim về đề tài pháp luật. Sáng kiến xây dựng đĩa CD, CD-ROM pháp luật để ứng dụng máy tính tra cứu pháp luật nhanh chóng, thuận tiện. Các tài liệu mang tính trực quan như pa-nô, áp-phích, tranh cổ động, khẩu hiệu, tờ tin ảnh, băng rôn về chủ đề pháp luật được sử dụng khá nhiều, phổ biến hơn cả là trong thời điểm diễn ra các sự kiện chính trị, kinh tế, văn hoá lớn.

Trong 06 tháng đầu năm 2012, các địa phương đã biên soạn và phát hành 17.503.498 bản tài liệu pháp luật các loại, trong đó một số địa phương biên soạn và phát hành nhiều tài liệu là: TP Hồ Chí Minh (5.153.038 bản), tỉnh Tiền Giang (3.806.955 bản), Thành phố Hải Phòng (1.477.119 bản), tỉnh Thái Bình (635.639 bản), Thành phố Hà Nội (594.000 bản)…[4]. Bên cạnh đó, nhiều địa phương còn phát hành tài liệu pháp luật song ngữ bằng tiếng Việt và tiếng dân tộc thiểu số phục vụ công tác phổ biến pháp luật cho đồng bào dân tộc như: Từ năm 1999 đến năm 2009, Kon Tum phát hành 600.000 tài liệu được dịch ra tiếng dân tộc thiểu số, Đăk Lăk: 231.386, Kiên Giang: 222.000…[5].

Các cuộc thi tìm hiểu pháp luật diễn ra sôi nổi và ngày càng được đổi mới về cách thức tổ chức. Trong các hình thức PBGDPL, thi tìm hiểu pháp luật là một trong những hình thức tuyên truyền, PBGDPL hấp dẫn, có hiệu quả cao. Chính vì vậy trong 10 năm qua, cả nước đã tổ chức được 54.000 cuộc thi và hội thi lớn nhỏ, hơn 176.000 cuộc giao lưu sinh hoạt văn hoá, văn nghệ có lồng ghép nội dung pháp luật. Cách thức tổ chức, hình thức thi đã có nhiều cải tiến. Ngoài thi viết truyền thống, có nơi tổ chức thi trắc nghiệm, thi vấn đáp, thi sân khấu hoá, hái hoa dân chủ, thi theo chủ đề có nội dung liên quan tới nghề nghiệp, công việc của đối tượng dự thi như “Hòa giải viên giỏi”, "Hộ tịch viên giỏi", "Tuyên truyền viên pháp luật giỏi", "Công chức Tư pháp-hộ tịch giỏi"...Việc tổ chức thi qua mạng, gửi tin nhắn điện thoại với chủ đề tìm hiểu pháp luật trở nên phổ biến hơn. Ngoài việc tổ chức các cuộc thi trên phạm vi toàn quốc tìm hiểu các quy định pháp luật liên quan trực tiếp đến đông đảo người dân (thi tìm hiểu Bộ luật hình sự năm 1999, Luật giao thông đường bộ, Luật cư trú...), nhiều bộ, ngành, địa phương chủ động tổ chức thi tìm hiểu các quy định pháp luật liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ của đơn vị mình, theo nhu cầu của từng nhóm đối tượng cụ thể. Các cuộc giao lưu văn hoá, văn nghệ lồng ghép nội dung thi pháp luật được tổ chức thường xuyên giúp cán bộ, nhân dân nắm bắt pháp luật thuận tiện, kịp thời.

Xây dựng, quản lý và khai thác tủ sách pháp luật, một hình thức phản ánh sự nỗ lực của các cấp ủy, chính quyền, cơ quan tư pháp, các ban ngành liên quan trong việc đưa pháp luật đến gần dân hơn.

Theo báo cáo của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đến hết tháng 12 năm 2011, 100% các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đều đã triển khai xây dựng tủ sách pháp luật. Hiện cả nước có 65.182 tủ sách pháp luật các loại, trong đó hầu hết các tỉnh, thành phố đã xây dựng tủ sách pháp luật ở 100% đơn vị cấp xã. Một số địa phương đã cố gắng nỗ lực thành lập số tủ sách pháp luật nhiều hơn số đơn vị cấp xã như các tỉnh, thành phố : An Giang, Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Ninh Bình, Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Cần Thơ...Tủ sách pháp luật, ngăn sách pháp luật, túi sách pháp luật được xây dựng ở xã, phường, thị trấn, được đặt ở điểm bưu điện văn hoá xã, thôn, làng, ở nhà văn hoá, ấp nhân dân, ở cơ quan, đơn vị, trường học, doanh nghiệp. Các cấp đã chủ động và sáng tạo, đa dạng hoá các biện pháp quản lý, khai thác, sử dụng tủ sách pháp luật. Một số địa phương đã thể hiện sự năng động trong việc lựa chọn mô hình xây dựng và địa điểm đặt tủ sách pháp luật với các hình thức Tủ sách pháp luật ở điểm bưu điện văn hóa xã, thư viện cấp xã (như các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Lâm Đồng...); Tủ sách pháp luật trong chùa của đồng bào dân tộc Khơme (Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang...); xây dựng mô hình tủ sách pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số (Lào Cai...); tủ sách pháp luật ở bản miền núi (Thanh Hóa...), Tủ sách pháp luật ở nhà văn hóa thôn (Bắc Ninh...), tủ sách pháp luật tại thôn, làng, tổ dân phố, cụm dân cư (Hà Nội, Bắc Kạn...) hoặc thực hiện mô hình túi sách lưu động, gùi sách pháp luật ở các xã vùng sâu, vùng xa (Quảng Ngãi, Quảng Bình...), giỏ pháp luật ở các khu công nghiệp (Bình Dương).

Nhìn chung trong thời gian qua tủ sách pháp luật cấp xã đã trở thành chỗ dựa, là công cụ để cán bộ, công chức tra cứu, tìm hiểu pháp luật, phục vụ công tác phổ biến pháp luật và các hoạt động điều hành, quản lý của hệ thống chính trị cơ sở, góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật của người dân.

Tăng cường PBGDPL thông qua tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, đẩy mạnh tư vấn, trợ giúp lưu động cho đồng bào dân tộc thiểu số, các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng sâu, vùng xa, hải đảo.

PBGDPL thực hiện lồng ghép qua các hoạt động trên là một cách thức hữu hiệu để thúc đẩy công tác PBGDPL phát triển, đa dạng hóa các kênh tuyên truyền pháp luật. Việc huy động các Trung tâm tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý tham gia PBGDPL là một trong những hình thức xã hội hóa công tác PBGDPL trong cộng đồng. Chỉ tính trong 05 năm (2003-2007), cả nước có 36.919 tổ chức tư vấn pháp luật, câu lạc bộ trợ giúp pháp lý, câu lạc bộ pháp luật đã thực hiện 114.565 cuộc tư vấn, trợ giúp. Tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý lưu động tiếp tục được tăng cường tại các địa bàn có điều kiện kinh tế khó khăn, vùng sâu, vùng xa, hải đảo, đồng bào dân tộc thiểu số.

Tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở tiếp tục được củng cố, kiện toàn. Tính đến tháng 12/2011, cả nước có 121.251 Tổ hòa giải với 628.530 hòa giải viên. Tính từ khi Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở năm 1998 có hiệu lực thi hành đến tháng 12/2011, tổng số vụ, việc nhận hòa giải là 4.358.662 (vụ), trong đó số vụ, việc hòa giải thành là 3.488.144 (vụ), đạt tỷ lệ 80,03%. Nhiều tỉnh, thành phố có tỷ lệ hòa giải thành cao trên 85 % như Lai Châu (85,5%), Phú Thọ (86,7%), Sơn La (86,8%), Quảng Ninh (86,9%), Hà Giang (87%), Hòa Bình (87,1%), Quảng Bình (88,3%), Đà Nẵng (88,57%), Lào Cai (89,7%), Thừa Thiên Huế (90,1%), Hà Nội (90,6%), Thái Bình (92,7%)[6]. Hòa giải ở cơ sở đã góp phần hạn chế vi phạm pháp luật, giảm thiểu số vụ, việc tranh chấp phải đưa lên cơ quan có thẩm quyền và Tòa án giải quyết; giữ gìn tình làng, nghĩa xóm, phát huy dân chủ ở cơ sở, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.

Đẩy mạnh phổ biến pháp luật qua hoạt động xét xử. Ngành Toà án đã tăng cường xét xử lưu động tại địa bàn xảy ra vụ án hoặc nơi người phạm tội cư trú. Có Toà án đã giao chỉ tiêu xét xử lưu động cho Toà án cấp dưới (Quảng Ninh, Phú Yên, Long An). Thực hiện Đề án thứ tư của Chương trình hành động quốc gia về PBGDPL từ năm 2005 đến năm 2010 (Chương trình 212) "Phát huy vai trò của cơ quan và cán bộ tư pháp trong PBGDPL, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn" (Bộ Tư pháp chủ trì), với tư cách là cơ quan phối hợp trong Đề án, Toà án nhân dân Tối cao đã hướng dẫn Toà án nhân dân địa phương tổ chức xét xử lưu động một số vụ án theo nội dung của Đề án đạt kết quả tốt. Tuy số lượng vụ án xét xử lưu động chưa nhiều nhưng đã phát huy tác dụng răn đe, giáo dục đối với người phạm tội và những người tham dự phiên toà.

Việc lồng ghép PBGDPL với việc xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước, các phong trào, lễ hội truyền thống tiếp tục được duy trì và đã có những nét mới. Các bộ, ngành, địa phương triển khai tuyên truyền, phổ biến pháp luật gắn với các phong trào ở từng địa bàn cụ thể như phong trào "bốn không": Thôn, làng không có người vi phạm pháp luật; không có khiếu kiện trái pháp luật, đông người, kéo dài; không có người vượt biên trái phép; không có người tham gia tổ chức phản động Fulro (Gia Lai); phong trào 3 không :"không tin, không theo, không nghe" (Lâm Đồng); áp dụng phương châm "nghe dân nói, nói dân nghe", "nghe phụ nữ nói, nói phụ nữ nghe, giúp phụ nữ hiểu" (Bình Thuận ); triển khai mô hình " điểm sáng vùng cao" (Nghệ An), lồng ghép phổ biến pháp luật trong các lễ hội truyền thống, văn hoá như "lễ hội ăn thề với rừng" (Gia Lai, Lào Cai), phổ biến pháp luật trên thuyền văn hoá (Cần Thơ), "lễ hội văn hoá miền biển" (Bình Định).

Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và các biện pháp khác trong PBGDPL đã được quan tâm chỉ đạo sát sao hơn. Các bộ, cơ quan ngang bộ đã kết nối mạng Internet, xây dựng Website, sử dụng mạng LAN trong PBGDPL: Trang thông tin PBGDPL riêng (Bộ Tư pháp); đưa văn bản pháp luật mới ban hành trên mạng thông tin điện tử bằng tiếng nước ngoài (Thông tấn xã Việt Nam); xây dựng phần mềm giao lưu trực tuyến (Bộ Tài nguyên và Môi trường); thông qua mạng misten trong nội bộ Quân đội (Bộ Quốc, phòng)... 100% UBND cấp tỉnh đã nối mạng tin học diện rộng của Chính phủ, mạng Internet; nhiều đơn vị cấp huyện, cấp xã đã ứng dụng Internet trong PBGDPL, xây dựng trang chuyên đề về PBGDPL (Sở Tư pháp Lạng Sơn, Bắc Ninh).

Các hình thức PBGDPL mới đã được một số địa phương triển khai như: ký cam kết không vi phạm pháp luật với đối tượng như học sinh, sinh viên, nhân dân ở tổ dân phố, khu dân cư, cụm dân cư, trường học. Việc xây dựng và triển khai các hoạt động PBGDPL của đội ngũ cán bộ nòng cốt ở cơ sở là hình thức cần phát huy trong thời gian tới. Bên cạnh đó, các hình thức như: "Ngày pháp luật" (đang được triển khai trong cả nước), "Phiên chợ pháp luật" (Hà Giang, Lào Cai), "Sân khấu nhà nông" ở Hà Tĩnh, Bắc Giang, Hải Dương…giải đáp pháp luật trực tuyến (Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã mang lại những hiệu quả thiết thực.

4.4. Về phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường

Trong thời gian qua, giáo dục pháp luật trong nhà trường luôn được đổi mới nội dung và phương pháp. Nội dung pháp luật được thực hiện qua chương trình môn học Đạo đức ở cấp tiểu học; môn học Giáo dục công dân ở cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông; môn học pháp luật, pháp luật đại cương, pháp luật chuyên ngành tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học; các môn học trong cơ sở giáo dục khác của hệ thống giáo dục quốc dân. Các cơ sở giáo dục mầm non đang thực hiện lồng ghép giáo dục một số nội dung pháp luật.

Bên cạnh đó, các nội dung pháp luật liên quan còn được tích hợp ở một số môn học khác như các môn: Tự nhiên xã hội, Giáo dục quốc phòng, an ninh ở phổ thông, các môn chuyên ngành ở giáo dục trung cấp chuyên nghiệp và giáo dục đại học. Nội dung, chương trình, sách giáo khoa môn học giáo dục công dân và nội dung, chương trình, giáo trình nhà nước và pháp luật đại cương được cải tiến phù hợp với yêu cầu và mục tiêu đào tạo. Nhiều địa phương đã phối hợp đưa chương trình giáo dục pháp luật về an toàn giao thông, phòng chống tội phạm hình sự, tệ nạn xã hội vào trường học. Phương pháp giáo dục pháp luật đổi mới theo hướng nâng cao tính tích cực, chủ động của sinh viên, học sinh trong học tập pháp luật. Bên cạnh đó, các trường học còn coi trọng lồng ghép PBGDPL trong giảng dạy các môn học, thông qua giáo dục ngoại khóa và các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp như: sinh hoạt công dân-học sinh, hoạt động giao lưu văn hoá, văn nghệ và các hình thức PBGDPL khác như tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho giáo viên, trên phương tiện thông tin đại chúng, tài liệu pháp luật, thi tìm hiểu pháp luật, tư vấn pháp luật...

4.5. Công tác kiểm tra hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Trong thời gian qua, việc thực hiện kiểm tra công tác PBGDPL của Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL các cấp, các bộ, ngành, đoàn thể ở Trung ương và địa phương được thực hiện đều đặn và thường xuyên hơn. Qua kiểm tra đã kịp thời hướng dẫn các Bộ, ngành, đoàn thể, địa phương khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong công tác PBGDPL, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chỉ đạo, hướng dẫn sát hợp với tình hình ở địa phương, đơn vị, cơ sở. Thông qua hoạt động kiểm tra đã phát hiện, hướng dẫn nhân rộng các mô hình, cách làm hay trong công tác PBGDPL. Hàng năm, Hội đồng của Chính phủ ban hành Kế hoạch kiểm tra, trong đó có hướng dẫn các Bộ, ngành, đoàn thể, địa phương tiến hành tự kiểm tra và thành lập các đoàn trực tiếp đi kiểm tra công tác PBGDPL tại một số bộ, ngành, địa phương. Từ năm 2005 đến 2012, Hội đồng phối hợp của Chính phủ đã tổ chức được 23 đoàn kiểm tra công tác PBGDPL tại nhiều Bộ, ngành, địa phương. Bên cạnh đó, hằng năm, Hội đồng phối hợp của các Bộ, ngành, địa phương cũng thường xuyên tiến hành kiểm tra tại đơn vị thuộc Bộ, ngành, địa phương mình.

5. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật vẫn còn một số tồn tại, hạn chế sau:

Công tác PBGDPL ở một số nơi chưa được quan tâm thực sự. Mặc dù Chỉ thị số 32-CT/TW đã xác định rõ công tác PBGDPL là bộ phận quan trọng của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là trách nhiệm của các ngành, các cấp nhưng đến nay việc chỉ đạo, lãnh đạo công tác này của cấp uỷ và chính quyền một số nơi chưa sát sao, chưa gắn kết chặt chẽ hoạt động chuyên môn với tuyên truyền, phổ biến pháp luật.

5.1. Những tồn tại, hạn chế trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

5.1.1.Về tổ chức và cán bộ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

+ Hoạt động PBGDPL trong thời gian qua ở một số bộ, ngành, địa phương vẫn còn mang tính thời sự, phong trào, chưa đi sâu phân tích, giải thích một cách cụ thể những nội dung chủ yếu người dân cần tìm hiểu, chưa xuất phát từ nhu cầu bức xúc của người dân, chưa mang tính giải đáp pháp luật từ những vụ việc thực tế.

Mặt khác, việc phổ biến hiện nay thường tập trung vào các bộ luật, luật, pháp lệnh, chưa chú trọng tuyên truyền các văn bản dưới luật. Đồng thời, một số địa phương chưa thực sự quan tâm phổ biến văn bản quy phạm pháp luật do địa phương ban hành.

+ Hình thức PBGDPL tuy có nhiều đổi mới song vẫn chưa theo kịp tình hình thực tiễn, nhất là cấp cơ sở. Một số nơi còn nặng về hình thức, chưa chú trọng tới hiệu quả. Một số địa phương còn thiếu linh hoạt trong lựa chọn hình thức, biện pháp PBGDPL phù hợp với trình độ của người được tuyên truyền và đặc thù của địa bàn. Các hình thức PBGDPL mới, có hiệu quả chậm được nhân rộng.

+ Nguồn nhân lực hiện có của công tác PBGDPL còn nhiều bất cập, chưa ngang tầm nhiệm vụ và đáp ứng được đòi hỏi mới của xã hội. Lực lượng làm công tác PBGDPL tuy đông về số lượng nhưng lại phân tán, số người chuyên trách không nhiều, mà chủ yếu là kiêm nhiệm; tính chuyên nghiệp trong PBGDPL của cán bộ, công chức chuyên trách làm công tác PBGDPL chưa cao.

+ Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL các cấp chưa thực sự tạo được bước đột phá, tạo cơ chế hữu hiệu để các cấp, các ngành có chương trình hoạt động cụ thể, biến nhận thức về tầm quan trọng của công tác này thành hoạt động thiết thực nhằm đẩy mạnh hơn nữa công tác PBGDPL. Hoạt động của Hội đồng chưa nhạy bén, chưa theo sát được yêu cầu, đòi hỏi của công tác PBGDPL trong từng thời kỳ. Trong hoạt động còn thiếu sự gắn kết chặt chẽ giữa các Ban và giữa các thành viên Hội đồng. Hội đồng của một số Bộ, ngành, địa phương hoạt động còn mang tính hình thức, chưa thực sự phát huy được vai trò phối hợp để thực hiện công tác PBGDPL. Trách nhiệm của từng ban, từng thành viên chưa được phát huy một cách đồng đều, một số thành viên còn thiếu tính tích cực, chủ động trong triển khai các hoạt động PBGDPL.

5.1.2. Về tổ chức thực hiện pháp luật

Một số cán bộ và nhân dân nhận thức pháp luật chưa đi đôi với hành động. Tình hình vi phạm pháp luật vẫn diễn biến phức tạp, trong đó có cả đảng viên, công chức.

5.1.3. Về nguồn lực đầu tư cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Cơ sở vật chất, phương tiện dành cho công tác PBGDPL chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, nhất là ở những địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. Không đồng đều trong bố trí kinh phí PBGDPL ở các bộ, ngành, địa phương.

5.2. Những nguyên nhân của các hạn chế trên

- Một trong những nguyên nhân cơ bản của những khó khăn, hạn chế hiện nay của công tác PBGDPL là do trước đây thể chế của công tác này chưa hoàn thiện. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về PBGDPL còn tản mạn, chưa đồng bộ, chưa có văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao như luật hay nghị quyết của Quốc hội nên việc triển khai PBGDPL gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là trong việc xác định và phân công trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương. Chính vì vậy, Quốc hội khóa XIII mới ban hành Luật PBGDPL tại kỳ họp thứ ba.

- Nhận thức của một số cấp uỷ Đảng, bộ, ngành, địa phương về công tác PBGDPL chưa thực sự đầy đủ và chưa tương xứng với vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác này, do vậy đã cho rằng đây là nhiệm vụ của riêng cơ quan Tư pháp.

- Công tác tham mưu cho cơ quan tư pháp và cơ quan chuyên môn của cấp ủy, chính quyền nhiều khi chưa chủ động, chưa thường xuyên, kịp thời. Việc kiện toàn tổ chức làm công tác PBGDPL và cơ chế phối hợp để giáo dục pháp luật chậm được đổi mới.

- Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL các cấp hoạt động theo cơ chế phối hợp, các thành viên làm việc kiêm nhiệm nên không thể dành nhiều thời gian đầu tư cho công tác PBGDPL. Phần lớn thành viên tham gia Hội đồng phối hợp các cấp giữ vị trí lãnh đạo ở bộ, ngành, địa phương phải đảm trách nhiều công việc nên sự chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, hướng dẫn và phối hợp chưa thật đều.

- Đội ngũ cán bộ làm công tác PBGDPL cả nước tuy số lượng đông nhưng trình độ không đồng đều. Chất lượng của đội ngũ cán bộ làm công tác PBGDPL còn thấp, nhất là cán bộ ở cơ sở. Thiếu một cơ chế đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch lâu dài nguồn nhân lực cho công tác PBGDPL. Một số Bộ, ngành, địa phương chưa thực sự quan tâm tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ PBGDPL cho đội ngũ này.

- Việc ban hành quá nhiều văn bản pháp luật cũng như các chương trình, kế hoạch của nhà nước cần triển khai, thực hiện cùng một thời điểm, trong khi điều kiện nhân lực, vật lực có hạn. Hệ thống pháp luật nước ta chưa đồng bộ, tính khả thi thấp, chậm đi vào cuộc sống, chất lượng các văn bản luật chưa cao, số lượng các văn bản pháp luật của nhà nước ban hành ngày càng nhiều, lại thường xuyên sửa đổi, bổ sung...do vậy đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc triển khai công tác PBGDPL.

- Một số người lợi dụng kẽ hở của luật pháp để trục lợi cá nhân. Bên cạnh đó, việc xử lý một số vụ việc vi phạm pháp luật, đặc biệt là một số vụ việc liên quan đến cán bộ, đảng viên không nghiêm minh, thiếu chính xác đã ảnh hưởng không nhỏ đến niềm tin của nhân dân đối với pháp luật.

- Cơ sở vật chất, phương tiện làm việc dành cho công tác PBGDPL chưa đáp ứng được yêu cầu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa hoặc những địa bàn khó khăn. Chế độ, chính sách cho báo cáo viên, tuyên truyền viên còn thiếu, chưa thực sự khuyến khích và phát huy được tiềm năng của đội ngũ làm công tác PBGDPL. Do chưa có cơ sở pháp lý rõ ràng và đủ mạnh nên địa phương nào quan tâm đến công tác PBGDPL thì dự trù hoặc cấp kinh phí phù hợp cho công tác này và ngược lại.

PHẦN II

GIỚI THIỆU LUẬT PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

I. SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG LUẬT PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

Công tác PBGDPL là khâu đầu tiên của quá trình thi hành pháp luật và có vai trò hết sức quan trọng trong việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Xuất phát từ vai trò, ý nghĩa quan trọng của công tác PBGDPL, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác này. Trong rất nhiều văn kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nước đã đề cập đến công tác PBGDPL. Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định: ''Triển khai mạnh mẽ công tác tuyên truyền và giáo dục pháp luật; huy động lực lượng của các đoàn thể chính trị, xã hội, nghề nghiệp, các phương tiện thông tin đại chúng tham gia các đợt vận động thiết lập trật tự, kỷ cương và các hoạt động thường xuyên xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật trong cơ quan nhà nước và trong xã hội''. Nghị quyết số 08–NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới chỉ rõ cần: “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, PBGDPL với nhiều hình thức phong phú, sinh động, đặc biệt là thông qua các phiên toà xét xử lưu động và bằng những phán quyết công minh để tuyên truyền, nâng cao ý thức pháp luật cho cán bộ và nhân dân”. Hiến pháp năm 1992 giao Chính phủ nhiệm vụ: “tổ chức và lãnh đạo công tác tuyên truyền, giáo dục Hiến pháp và pháp luật trong nhân dân”. Nhiều văn bản pháp luật của Thủ tướng Chính phủ đã đề cập đến việc tăng cường công tác PBGDPL như: Chỉ thị số 02/1998/CT-TTg ngày 07/01/1998 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác PBGDPL trong giai đoạn hiện nay, Quyết định số 03/1998/QĐ-TTg về việc ban hành Kế hoạch triển khai công tác PBGDPL từ năm 1998 đến năm 2002 và thành lập Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL …Đặc biệt, Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác PBGDPL, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân (Chỉ thị số 32-CT/TW) đã khẳng định: “PBGDPL là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng”.

Thực hiện các văn kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nước về PBGDPL, thời gian qua, các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các Bộ, ngành, đoàn thể và địa phương đã chỉ đạo, tổ chức triển khai công tác PBGDPL có trọng tâm, trọng điểm, gắn với việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, địa phương. Công tác PBGDPL đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, hầu hết các văn bản quy phạm pháp luật đã được phổ biến bằng nhiều hình thức phong phú, phù hợp với từng đối tượng và địa bàn, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu pháp luật của cán bộ và nhân dân; hiểu biết pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân từng bước được nâng lên, góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật.

Mặc dù khẩu hiệu “Sống, làm việc theo Hiếp pháp và pháp luật” đã ra đời từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX, nhiều thể chế được ban hành, nhiều giải pháp về PBGDPL đã được triển khai thực hiện, nhưng kết quả của công tác PBGDPL vẫn còn rất hạn chế, đặc biệt là ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức và người dân trong xã hội chưa cao, làm ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, làm giảm tính nghiêm minh của pháp luật. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng trên là do:

Thứ nhất, nhận thức của một số Bộ, ngành, đoàn thể, địa phương về công tác PBGDPL chưa thực sự đầy đủ và chưa tương xứng với vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác này.

Thứ hai, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về PBGDPL còn tản mạn, chưa đồng bộ, hiệu lực pháp lý chưa cao, chủ yếu mới chỉ dừng ở các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ để chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc thực hiện PBGDPL, chưa có văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nên việc triển khai PBGDPL gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là thiếu cơ sở pháp lý để xác định trách nhiệm và cơ chế phối hợp, huy động nguồn lực có hiệu quả giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp cũng như các tổ chức chính trị- xã hội trong PBGDPL, chưa có cơ chế pháp lý để thực hiện xã hội hóa hiệu quả công tác này theo chủ trương của Đảng.

Thứ ba, việc huy động nguồn lực cho công tác PBGDPL chưa được tiến hành một cách đồng bộ và rộng khắp. Tổ chức, nhân lực làm công tác PBGDPL còn hạn chế. Kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện dành cho công tác này còn rất hạn hẹp, nhất là ở cơ sở, miền núi, vùng sâu, vùng xa. Trong khi đó pháp luật được ban hành ngày càng nhiều, nội dung đa dạng, phức tạp, điều chỉnh nhiều loại quan hệ xã hội phục vụ tiến trình đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế.

Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, yêu cầu tăng cường, phát huy vai trò, hiệu lực của pháp luật theo Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đòi hỏi công tác PBGDPL phải thực sự có chuyển biến căn bản, toàn diện. Kết luận số 04-KL/TW ngày 19/4/2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về kết quả thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW (Kết luận số 04-KL/TW) đã chỉ rõ: “Đảng đoàn Quốc hội tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, tổ chức hữu quan khẩn trương xây dựng, ban hành Luật PBGDPL và các văn bản pháp luật có liên quan, tạo cơ sở pháp lý để triển khai thực hiện công tác PBGDPL…”.

Từ thực trạng công tác PBGDPL những năm qua và trước yêu cầu của thời kỳ phát triển mới của đất nước, việc xây dựng và ban hành Luật PBGDPL là rất cần thiết. Luật PBGDPL được ban hành sẽ tạo cơ sở pháp lý đồng bộ, thống nhất cho công tác PBGDPL, huy động toàn bộ hệ thống chính trị tham gia công tác PBGDPL, trong đó Nhà nước giữ vai trò nòng cốt; xác lập trách nhiệm và cơ chế phối hợp, huy động các nguồn lực của các cơ quan, tổ chức và xã hội nhằm tạo chuyển biến căn bản, bền vững về hiệu quả của hoạt động PBGDPL.

II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG LUẬT PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

Luật phổ biến, giáo dục pháp luật được xây dựng dựa trên các quan điểm chỉ đạo sau đây:

Thứ nhất, thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng về hoạt động PBGDPL được xác định trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, đặc biệt là Chỉ thị số 32-CT/TW và Kết luận số 04-KL/TW.

Thứ hai, kế thừa những quy định phù hợp của pháp luật hiện hành về PBGDPL, luật hoá các quy định hiện hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành liên quan về PBGDPL đã được thực tiễn kiểm nghiệm, đồng thời bổ sung những nội dung mới; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của pháp luật về PBGDPL.

Thứ ba, xác định PBGDPL là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, trong đó Nhà nước giữ vai trò nòng cốt. Nhà nước bảo đảm nguồn lực cần thiết cho công tác PBGDPL; quan tâm PBGDPL cho một số đối tượng đặc thù, bao gồm: người dân ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và ngư dân; người lao động trong các doanh nghiệp; nạn nhân bạo lực gia đình; người khuyết tật; người đang chấp hành hình phạt tù, người đang bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; người đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, người bị phạt tù được hưởng án treo.

Thứ tư, công dân có quyền được thông tin pháp luật và yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp thông tin về pháp luật; có trách nhiệm chủ động tìm hiểu, học tập pháp luật. Nhà nước và xã hội có trách nhiệm bảo đảm quyền được thông tin, tìm hiểu, học tập pháp luật của công dân thông qua công tác PBGDPL. Nhà nước thực hiện xã hội hóa công tác PBGDPL, khuyến khích và có chính sách để các tổ chức, cá nhân tham gia, đóng góp cho PBGDPL; phát triển các dịch vụ pháp lý hỗ trợ công tác này.

III. BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

1. Bố cục của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật

Luật PBGDPL có 5 chương, 41 điều như sau:

- Chương I: Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 9)

Chương này quy định về Phạm vi điều chỉnh; Quyền được thông tin về pháp luật và trách nhiệm tìm hiểu, học tập pháp luật của công dân; Chính sách của Nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật; Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; Các nguyên tắc phổ biến, giáo dục pháp luật; Quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật; Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật; Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Các hành vi bị cấm.

- Chương II: Nội dung, hình thức PBGDPL (từ Điều 10 đến Điều 24), gồm 3 mục:

Mục I: Nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật chung cho công dân: gồm các quy định về nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật; Hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật; Họp báo, thông cáo báo chí về văn bản quy phạm pháp luật; Đăng tải thông tin pháp luật trên trang thông tin điện tử; Phổ biến, giáo dục pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng; Tư vấn, hướng dẫn tìm hiểu pháp luật, cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật; Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua công tác xét xử, xử lý vi phạm hành chính, hoạt động tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Mục II: Nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật cho một số đối tượng đặc thù, gồm các nội dung quy định về: Phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động trong các doanh nghiệp; Phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và ngư dân; Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nạn nhân bạo lực gia đình; Phổ biến, giáo dục pháp luật cho người khuyết tật; Phổ biến, giáo dục pháp luật cho người đang chấp hành hình phạt tù, người đang bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; Phổ biến, giáo dục pháp luật cho người đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, người bị phạt tù được hưởng án treo.

Mục III: Giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân, gồm các quy định về: Nội dung giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân; Hình thức giáo dục pháp luật trongcác cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân.

- Chương III: Trách nhiệm PBGDPL của cơ quan, tổ chức, cá nhân (từ Điều 25 đến Điều 37), gồm 3 mục:

Mục I: Trách nhiệm PBGDPL của cơ quan tổ chức, gồm các quy định về Trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Trách nhiệm của Tòa ánnhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm toán Nhà nước; Trách nhiệm của chính quyền các cấp ở địa phương; Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp quản lý cán bộ, công chức, viên chức; Trách nhiệm của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận.

Trách nhiệm của tổ chức hành nghề về pháp luật, tổ chức xã hội nghề nghiệp về pháp luật, cơ sở đào tạo luật, cơ sở đào tạo, bồi dưỡng chức danh tư pháp; Trách nhiệm của các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân; Trách nhiệm của gia đình.

Mục II: Trách nhiệm PBGDPL của cá nhân, gồm các quy định về: Trách nhiệm của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; Trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức và cán bộ, chiến sỹ trong lực lượng vũ trang nhân dân; Báo cáo viên pháp luật; Quyền và nghĩa vụ của báo cáo viên pháp luật; Tuyên truyền viên pháp luật và những người được mời tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật ở cơ sở.

- Chương IV: Các điều kiện bảo đảm cho công tác PBGDPL (Điều 38 và Điều 39);

Chương này quy định về: Bảo đảm về tổ chức, cán bộ, cơ sở vật chất và phương tiện cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; Bảo đảm kinh phí phổ biến, giáo dục pháp luật.

- Chương V - Điều khoản thi hành (Điều 40 và Điều 41).

2. Nội dung cơ bản của Luật

2.1. Phạm vi điều chỉnh (Điều 1)

Luật PBGDPL quy định quyền được thông tin về pháp luật và trách nhiệm tìm hiểu, học tập pháp luật của công dân; nội dung, hình thức PBGDPL; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền và các điều kiện bảo đảm cho công tác PBGDPL.

Tại các dự thảo Luật PBGDPL trước đây có quy định về nội dung giáo dục pháp luật chuyên sâu trong các cơ sở đào tạo luật, cơ sở đào tạo, bồi dưỡng chức danh tư pháp. Tuy nhiên, tiếp thu ý kiến nhiều đại biểu Quốc hội, nội dung giáo dục pháp luật chuyên sâu trong các cơ sở đào tạo luật, cơ sở đào tạo, bồi dưỡng chức danh tư pháp không phù hợp với phạm vi điều chỉnh của Luật này. Mục đích của giáo dục pháp luật trong nhà trường nhằm cung cấp kiến thức cơ bản về pháp luật, hình thành và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người học, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện. Mục đích này không phù hợp với các cơ sở đào tạo chuyên ngành luật. Mặt khác, những quy định về nội dung, hình thức giáo dục pháp luật trong nhà trường cũng không phù hợp với các cơ sở đào tạo này. Do vậy, vấn đề giáo dục pháp luật trong các cơ sở đào tạo luật, cơ sở đào tạo, bồi dưỡng chức danh tư pháp không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật PBGDPL.

2.2. Quyền được thông tin về pháp luật và trách nhiệm tìm hiểu, học tập pháp luật của công dân (Điều 2)

Thể chế hóa quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật, Luật khẳng định công dân có quyền được thông tin về pháp luật và có trách nhiệm chủ động tìm hiểu, học tập pháp luật. Đồng thời, Luật xác định trách nhiệm của Nhà nước bảo đảm, tạo điều kiện cho công dân thực hiện quyền được thông tin về pháp luật.

Quyền này của công dân được cụ thể hóa tại khoản 2 Điều 11 (Hình thức PBGDPL), Điều 15 (Tư vấn, hướng dẫn tìm hiểu pháp luật, cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật), khoản 2 Điều 17 (PBGDPL cho người dân ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và ngư dân).

2.3. Chính sách của Nhà nước về PBGDPL (Điều 3) và xã hội hóa công tác PBGDPL (Điều 4)

Thể chế hóa quan điểm của Đảng tại Chỉ thị số 32-CT/TW, Luật quy định PBGDPL là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, trong đó Nhà nước giữ vai trò nòng cốt.

Luật xác định chính sách xã hội hóa công tác PBGDPL (khoản 4 Điều 3) và có một điều riêng quy định về xã hội hóa công tác này tại Điều 4, trong đó giao Chính phủ căn cứ tình hình kinh tế - xã hội của từng thời kỳ quy định cụ thể chính sách hỗ trợ đối với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia thực hiện PBGDPL. Bên cạnh đó, Luật đã thể hiện chính sách này tại các quy định về hình thức PBGDPL (Điều 11) như: hòa giải ở cơ sở, khai thác tủ sách pháp luật, lồng ghép trong hoạt động văn hóa, văn nghệ, sinh hoạt của tổ chức chính trị và đoàn thể, câu lạc bộ và các thiết chế văn hóa khác ở cơ sở; quy định khuyến khích và có chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện PBGDPL (khoản 2 Điều 15, khoản 3 Điều 17, khoản 4 Điều 18, khoản 4 Điều 19, khoản 3 Điều 20); trách nhiệm của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (Điều 29); trách nhiệm của tổ chức hành nghề về pháp luật, tổ chức xã hội nghề nghiệp về pháp luật, cơ sở đào tạo luật, cơ sở đào tạo, bồi dưỡng chức danh tư pháp (Điều 30), trách nhiệm của gia đình (Điều 32), tuyên truyền viên pháp luật và những người được mời tham gia PBGDPL ở cơ sở (Điều 37), khoản 3 Điều 39.

Luật khẳng định chính sách chung là Nhà nước bảo đảm nguồn lực cần thiết cho công tác PBGDPL, đồng thời quan tâm, tập trung nguồn lực PBGDPL cho một số đối tượng đặc thù tại mục 2, Chương II của Luật.

2.4. Các nguyên tắc phổ biến, giáo dục pháp luật (Điều 5)

Đây là những quy định, quy tắc có tính chỉ đạo xuyên suốt công tác PBGDPL, bảo đảm cho công tác này hiệu quả, thiết thực với đối tượng, địa bàn, bao gồm:

- Chính xác, đầy đủ, rõ ràng, dễ hiểu, thiết thực.

- Kịp thời, thường xuyên, có trọng tâm, trọng điểm.

- Đa dạng các hình thức PBGDPL , phù hợp với nhu cầu, lứa tuổi, trình độ của đối tượng được PBGDPL và truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc.

- Gắn với việc thi hành pháp luật, thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước, của địa phương và đời sống hằng ngày của người dân.

- Phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan, tổ chức, gia đình và xã hội.

2.5. Quản lý nhà nước về PBGDPL (Điều 6)

Luật quy định cụ thể các nội dung quản lý nhà nước về PBGDPL bao gồm:

a) Xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, kế hoạch về PBGDPL;

b) Chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện công tác PBGDPL;

c) Bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ PBGDPL;

d) Xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật;

đ) Thống kê, tổng kết về PBGDPL;

e) Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong PBGDPL;

g) Hợp tác quốc tế về PBGDPL.

Bên cạnh đó, Luật xác định các cơ quan quản lý nhà nước về PBGDPL, theo đó Chính phủ được giao nhiệm vụ thống nhất quản lý nhà nước về PBGDPL; Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về PBGDPL. Luật hóa một nhiệm vụ quan trọng đã và đang thực hiện có hiệu quả, Luật giao Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành chương trình, kế hoạch dài hạn, trung hạn về PBGDPL; chủ trì xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật nhằm thống nhất một đầu mối quản lý về công tác này, qua đó nâng cao chất lượng, hiệu quả việc xây dựng, khai thác cơ sở dữ liệu về pháp luật; do thời gian qua có nhiều cơ quan, tổ chức đã xây dựng cơ sở dữ liệu về pháp luật dẫn đến tình trạng dàn trải.

Bên cạnh đó, Luật đã giao Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện quản lý nhà nước về PBGDPL và Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về PBGDPL tại địa phương.

2.6. Hội đồng phối hợp PBGDPL (Điều 7)

Thực tiễn công tác PBGDPL hơn 10 năm qua cho thấy, mô hình Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL là mô hình phối hợp liên ngành đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả công tác PBGDPL. Tính đến ngày 31/12/2011, bên cạnh Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL của Chính phủ, 23 Bộ, ngành, đoàn thể ở Trung ương, 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, 98% đơn vị cấp huyện và 87,92% đơn vị cấp xã đã thành lập Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL. Chính vì vậy, tại Kết luận số 04-KL/TW, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã yêu cầu cần: “Phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL và các thành viên của Hội đồng trong việc tham mưu và tổ chức thực hiện kế hoạch PBGDPL ở từng cơ quan, đơn vị, địa phương”.

Hội đồng phối hợp PBGDPL là mô hình cần thiết, có vai trò tích cực trong điều kiện hiện nay khi mà hiểu biết pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật của nhiều người dân còn hạn chế. Chính vì vậy, mô hình Hội đồng này đã được luật hóa trong Luật, được thành lập ở 03 cấp là: trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Chức năng của Hội đồng là cơ quan tư vấn cho Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện về công tác PBGDPL và huy động nguồn lực cho công tác PBGDPL. Riêng đối với cấp xã, do đây là cấp tổ chức thực hiện công tác PBGDPL nên không cần thiết phải thành lập Hội đồng.

Để xác định và nâng cao vị trí, vai trò của Cơ quan thường trực Hội đồng phối hợp PBGDPL, Luật quy định Cơ quan thường trực Hội đồng phối hợp PBGDPL của Chính phủ là Bộ Tư pháp, của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là Sở Tư pháp, của Ủy ban nhân dân cấp huyện là Phòng Tư pháp. Luật giao Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết về thành phần và nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng phối hợp PBGDPL.

2.7. Ngày Pháp luật nước Cộng hoà XHCN Việt Nam (Điều 8)

Luật PBGDPL lấy ngày 09 tháng 11 hàng năm là Ngày Pháp luật nước Cộng hoà XHCN Việt Nam nhằm tôn vinh Hiến pháp, pháp luật, giáo dục ý thức thượng tôn pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức, nhân dân và doanh nhân. Đây là ngày ban hành Hiến pháp năm 1946 - đạo luật cơ bản đầu tiên của Nhà nước ta. Trong quá trình xây dựng Luật có ý kiến đề nghị lấy tên gọi ngày này là Ngày Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam trên cơ sở tham khảo mô hình Ngày Hiến pháp của một số nước. Tuy nhiên, đa số ý kiến cho rằng mặc dù Luật lấy ngày ban hành Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta làm Ngày Pháp luật, nhưng không nên gọi là Ngày Hiến pháp. Mô hình Ngày Pháp luật là một cách làm mới, tích cực, góp phần đa dạng hóa các hình thức PBGDPL hiện có. Từ sáng kiến trước đây của một số tỉnh, thành phố, trong năm 2010 Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL của Chính phủ đã hướng dẫn việc nhân rộng Ngày Pháp luật trên phạm vi toàn quốc. Tính đến ngày 31/5/2012, đã có 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và 06 bộ, ngành Trung ương triển khai thực hiện mô hình này và qua đánh giá bước đầu cho thấy, việc thực hiện Ngày Pháp luật ở các địa phương, cơ quan đã đem lại hiệu quả thiết thực.

Trong Ngày Pháp luật này, cả nước sẽ tổ chức đợt cao điểm về PBGDPL với nhiều hình thức, hoạt động hiệu quả, thiết thực, tập trung phổ biến, giáo dục các văn bản pháp luật mới ban hành liên quan đến lĩnh vực chuyên môn cho cán bộ, công chức, viên chức, các văn bản pháp luật mới về quyền và nghĩa vụ của công dân, gắn với đời sống, sản xuất, kinh doanh của người dân, doanh nghiệp; cung cấp tài liệu hoặc giới thiệu nội dung văn bản pháp luật sẽ phổ biến để cán bộ, công chức, viên chức, nhân dân nghiên cứu trước nhằm hiểu sâu hơn và đặt câu hỏi thảo luận khi sinh hoạt pháp luật. Cũng trong Ngày Pháp luật, các cơ quan, đoàn thể tổ chức khen thưởng, tôn vinh các tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác PBGDPL, trong đó có các hiệp hội nghề nghiệp về pháp luật, tổ chức, cá nhân hành nghề pháp luật đã được xã hội hóa như: luật sư, công chứng... Để quy định chi tiết nội dung, hình thức tổ chức Ngày Pháp luật, bảo đảm tính khả thi, Luật giao Chính phủ quy định chi tiết thi hành.

2.8. Các hành vi bị cấm (Điều 9)

Trên cơ sở nghiên cứu các hành vi trên thực tế ảnh hưởng xấu đến công tác PBGDPL, Luật đã quy định các vi bị cấm như sau:

- Truyền đạt sai lệch, phê phán nội dung pháp luật được phổ biến; không cung cấp thông tin, tài liệu theo quy định của pháp luật; cung cấp thông tin, tài liệu có nội dung sai sự thật, trái pháp luật, trái đạo đức xã hội, truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

- Lợi dụng phổ biến, giáo dục pháp luật để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền chính sách thù địch, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

- Cản trở việc thực hiện quyền được thông tin, tìm hiểu, học tập pháp luật của công dân, hoạt động PBGDPL của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

- Lợi dụng việc thực hiện quyền được thông tin, tìm hiểu, học tập pháp luật để gây cản trở đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân, gây mất trật tự, an toàn xã hội.

2.9. Nội dung PBGDPL cho công dân (Điều 10)

Về nguyên tắc, nội dung PBGDPL phải bảo đảm bao quát tất cả các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành. Khoản 1 Điều 10 cũng đã quy định nội dung PBGDPL là các quy định của Hiến pháp và văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, do số lượng văn bản quy phạm pháp luật được ban hành hằng năm là quá lớn lại thuộc mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nên để công tác PBGDPL đem lại hiệu quả thiết thực thì cần lựa chọn các lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến đời sống và hoạt động nghề nghiệp của người dân hoặc tác động trực tiếp đến những ngành, lĩnh vực nhất định. Trên cơ sở đó, Luật PBGDPL quy định nội dung PBGDPL là quy định của Hiến pháp và văn bản quy phạm pháp luật, trọng tâm là các quy định của pháp luật về dân sự, hình sự, hành chính, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, đất đai, xây dựng, bảo vệ môi trường, lao động, giáo dục, y tế, quốc phòng, an ninh, giao thông, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành; các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, các thỏa thuận quốc tế.

Bên cạnh các quy định của pháp luật, nội dung PBGDPL còn bao gồm ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; ý thức bảo vệ pháp luật; lợi ích của việc chấp hành pháp luật; gương người tốt, việc tốt trong thực hiện pháp luật nhằm góp phần tạo niềm tin vào pháp luật, xây dựng con người mới vừa có hiểu biết pháp luật, vừa có ý thức chấp hành pháp luật.

2.10. Về hình thức PBGDPL (từ Điều 11 đến Điều 16)

Điều 11 Luật PBGDPL đã luật hóa các hình thức PBGDPL hiện đang được áp dụng nhiều, có hiệu quả trên thực tế là:

(1) Họp báo, thông cáo báo chí;

(2) Phổ biến pháp luật trực tiếp; tư vấn, hướng dẫn tìm hiểu pháp luật; cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật;

(3) Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, loa truyền thanh, internet, pa-nô, áp-phích, tranh cổ động; đăng tải trên Công báo; đăng tải thông tin pháp luật trên trang thông tin điện tử; niêm yết tại trụ sở, bảng tin của cơ quan, tổ chức, khu dân cư;

(4) Tổ chức thi tìm hiểu pháp luật;

(5) Thông qua công tác xét xử, xử lý vi phạm hành chính, hoạt động tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và hoạt động khác của các cơ quan trong bộ máy nhà nước; thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý, hòa giải ở cơ sở;

(6) Lồng ghép trong hoạt động văn hóa, văn nghệ, sinh hoạt của tổ chức chính trị và các đoàn thể, câu lạc bộ, tủ sách pháp luật và các thiết chế văn hóa khác ở cơ sở;

(7) Thông qua chương trình giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân;

(8) Các hình thức PBGDPL khác phù hợp với từng đối tượng cụ thể mà các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có thể áp dụng để bảo đảm cho công tác PBGDPL đem lại hiệu quả.

Trong các hình thức PBGDPL trên, có những hình thức Nhà nước, xã hội thực hiện trách nhiệm chủ động PBGDPL cho công dân, đáp ứng quyền của công dân được thông tin về pháp luật, nhưng cũng có những hình thức để người dân thực hiện quyền yêu cầu nhà nước cung cấp thông tin pháp luật, chủ động tìm hiểu các vấn đề pháp luật cụ thể. Nhà nước, xã hội có trách nhiệm đáp ứng các yêu cầu này của cá nhân (như hướng dẫn tìm hiểu pháp luật, cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật.....).

Để cụ thể hóa các hình thức PBGDPL, Luật đã có 05 điều quy định về họp báo, thông cáo báo chí về văn bản quy phạm pháp luật (Điều 12); đăng tải thông tin pháp luật trên trang thông tin điện tử (Điều 13); PBGDPL trên các phương tiện thông tin đại chúng (Điều 14); tư vấn, hướng dẫn tìm hiểu pháp luật, cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật (Điều 15) và PBGDPL thông qua công tác xét xử, xử lý vi phạm hành chính, hoạt động tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo (Điều 16). Trong đó, hình thức đăng tải thông tin pháp luật trên trang thông tin điện tử và PBGDPL trên các phương tiện thông tin đại chúng được Luật quy định cụ thể các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm thực hiện các hình thức PBGDPL này để bảo đảm tính khả thi, tăng cường trách nhiệm của cơ quan, tổ chức.

2.11. PBGDPL cho một số đối tượng đặc thù (từ Điều 17 đến Điều 22)

Nhằm tập trung nguồn lực PBGDPL, Luật xác định 06 đối tượng đặc thù, đây là các đối tượng còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp nhận thông tin, tìm hiểu, học tập pháp luật, đó là: người dân ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và ngư dân; người lao động trong các doanh nghiệp; nạn nhân bạo lực gia đình; người khuyết tật; người đang chấp hành hình phạt tù, người đang bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và người đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, người bị phạt tù được hưởng án treo.

Theo quy định của Luật PBGDPL, đối với mỗi đối tượng đặc thù, Luật quy định những nội dung pháp luật thiết thực, liên quan trực tiếp đến đối tượng được phổ biến, giáo dục; các hình thức PBGDPL phù hợp với từng đối tượng; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp PBGDPL; những chính sách về PBGDPL cho các đối tượng đặc thù và khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong xã hội đầu tư, hỗ trợ công tác PBGDPL cho các đối tượng này.

Trong quá trình xây dựng Luật, một số ý kiến đại biểu Quốc hội đề nghị đưa cán bộ, công chức, viên chức, cán bộ, chiến sỹ trong lực lượng vũ trang nhân dân là đối tượng đặc thù cần quan tâm PBGDPL, nhưng đa số ý kiến cho rằng không nên quy định đối tượng này là đối tượng đặc thù với các lý do sau đây:

- Cán bộ, công chức, viên chức, cán bộ, chiến sỹ trong lực lượng vũ trang nhân dân có trình độ hiểu biết cao, thường xuyên có cơ hội để tiếp cận thông tin, văn bản pháp luật của Nhà nước.

- Việc tìm hiểu, nắm vững các quy định của pháp luật để áp dụng là trách nhiệm, nghĩa vụ của cán bộ, công chức, viên chức, cán bộ, chiến sỹ trong lực lượng vũ trang nhân dân trong khi thi hành công vụ.

- Điều 34 của Luật quy định rõ trách nhiệm của các đối tượng này phải tích cực tìm hiểu, học tập pháp luật; gương mẫu trong việc chấp hành pháp luật; chủ động, tích cực kết hợp thực hiện việc PBGDPL thông qua các hoạt động chuyên môn, thực thi nhiệm vụ; hỗ trợ, giúp đỡ cơ quan, tổ chức, cá nhân trong công tác PBGDPL liên quan đến lĩnh vực công tác.

- Để hỗ trợ cho đối tượng này nâng cao kiến thức pháp luật, Luật quy định trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp quản lý cán bộ, công chức, viên chức trong việc PBGDPL cho cán bộ, công chức, viên chức, cán bộ chiến sỹ trong lực lượng vũ trang nhân dân thuộc phạm vi do mình quản lý.

2.12. Giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân (Điều 23 và Điều 24)

Luật khẳng định giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân được lồng ghép trong chương trình giáo dục của các cấp học và trình độ đào tạo; là một nội dung trong chương trình giáo dục trung học cơ sở, trung học phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học.

Luật quy định chung về yêu cầu đối với nội dung giáo dục pháp luật trong chương trình giáo dục của từng cấp học: mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học, theo đó nội dung giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân được xây dựng phù hợp với từng cấp học và trình độ đào tạo, phù hợp với mục tiêu giáo dục, ngành nghề đào tạo, bảo đảm tính thống nhất, phổ thông, cơ bản, thiết thực, đồng bộ và có hệ thống. Cụ thể là:

- Nội dung giáo dục pháp luật trong chương trình giáo dục mầm non và tiểu học được lồng ghép thông qua nội dung giáo dục đạo đức, hình thành thói quen phù hợp với chuẩn mực đạo đức của xã hội, ý thức kỷ luật, tinh thần đoàn kết, tinh thần tự giác, tạo tiền đề hình thành ý thức pháp luật;

- Nội dung giáo dục pháp luật trong chương trình giáo dục trung học cơ sở, trung học phổ thông trang bị kiến thức ban đầu về quyền, nghĩa vụ của công dân, rèn luyện thói quen, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật;

- Nội dung giáo dục pháp luật trong chương trình giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học trang bị kiến thức cơ bản về nhà nước và pháp luật, kiến thức pháp luật liên quan đến ngành, nghề đào tạo.

Đối với hình thức giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân được thực hiện bằng 02 hình thức: (1) Giáo dục chính khóa thông qua việc lồng ghép trong các hoạt động giáo dục ở cấp mầm non; môn học đạo đức ở cấp tiểu học; môn học giáo dục công dân ở cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông; môn học pháp luật, pháp luật đại cương, pháp luật chuyên ngành tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học; các môn học trong cơ sở giáo dục khác của hệ thống giáo dục quốc dân và (2) Giáo dục ngoại khóa và các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.

Khi thảo luận quy định về giáo dục pháp luật trong các cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân, có ý kiến khác nhau về vấn đề này:

a) Loại ý kiến thứ nhất đề nghị quy định là giáo dục pháp luật trong các cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân là một nội dung trong chương trình giáo dục của các cấp học và trình độ đào tạo. Có ý kiến còn đề nghị quy định giáo dục pháp luật là môn học bắt buộc.

b) Loại ý kiến thứ hai, cho rằng quy định như trên là “quá cứng”, nhất là ở cấp mầm non, tiểu học. Ở các cấp này, quy định như vậy là hơi nặng so với lứa tuổi, nhận thức của các em. Do vậy, cần quy định việc lồng ghép nội dung pháp luật trong các môn học.

Do vậy, tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội, Luật quy định: Giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân được lồng ghép trong chương trình giáo dục của các cấp học và trình độ đào tạo; là một nội dung trong chương trình giáo dục trung học cơ sở, trung học phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học.

2.13. Trách nhiệm PBGDPL của cơ quan, tổ chức (mục 1 Chương III)

Để bao quát toàn bộ các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm PBGDPL, nhằm huy động sức mạnh cũng như nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong công tác PBGDPL, tại mục 1, Luật quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức sau đây:

a) Trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (Điều 25)

- Luật giao các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm sau đây:

+ Ban hành theo thẩm quyền chương trình, đề án, kế hoạch PBGDPL và chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý triển khai thực hiện;

+ Xác định nội dung và hình thức PBGDPL phù hợp với từng nhóm đối tượng; biên soạn tài liệu và phổ biến kiến thức pháp luật chuyên ngành; bảo đảm quyền được thông tin về pháp luật của nhân dân;

+ Tổ chức PBGDPL cho cán bộ, công chức, viên chức và cán bộ, chiến sỹ trong lực lượng vũ trang nhân dân thuộc phạm vi quản lý, chú trọng thực hiện thông qua phổ biến pháp luật trực tiếp, cung cấp văn bản quy phạm pháp luật, trang thông tin điện tử của cơ quan, các khóa học, lớp đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn;

+ Xây dựng, tập huấn, bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên pháp luật của bộ, ngành;

+ Chỉ đạo các trường, cơ sở dạy nghề thuộc phạm vi quản lý tổ chức giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, cơ sở dạy nghề; bố trí, chuẩn hóa, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên dạy môn giáo dục công dân, giáo viên, giảng viên dạy pháp luật.

- Đối với công tác giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân, Luật giao Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chương trình giáo dục pháp luật trong các cấp học và trình độ đào tạo; quy định thời gian, lộ trình hoàn thành việc chuẩn hóa giáo viên dạy môn giáo dục công dân, giáo viên, giảng viên dạy pháp luật. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành chương trình giáo dục pháp luật trong các cơ sở dạy nghề.

Việc giao trách nhiệm các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ PBGDPL cho cán bộ, công chức, viên chức và cán bộ, chiến sỹ trong lực lượng vũ trang nhân dân thuộc phạm vi quản lý nhằm thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác PBGDPL, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân. Theo đó, Bộ, ngành nào chủ trì dự thảo văn bản quy phạm pháp luật thì bộ, ngành đó phải chịu trách nhiệm chính về việc phổ biến và thực hiện văn bản pháp luật đó trong cán bộ, công chức của bộ, ngành mình; đồng thời, có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp, các đoàn thể ở Trung ương và chính quyền các cấp triển khai PBGDPL cho cán bộ và nhân dân

b) Trách nhiệm của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm toán Nhà nước (Điều 26)

Luật giao Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm toán Nhà nước có trách nhiệm xây dựng, tập huấn, bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên pháp luật của ngành; tổ chức PBGDPL cho cán bộ, công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý; phổ biến kiến thức pháp luật chuyên ngành cho nhân dân bằng hình thức phù hợp; kết hợp PBGDPL cho nhân dân thông qua hoạt động chuyên môn.

c) Trách nhiệm của chính quyền các cấp ở địa phương (Điều 27)

Căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao, Luật quy định Hội đồng nhân dân các cấp có trách nhiệm quyết định các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác PBGDPL; phân bổ dự toán ngân sách địa phương cho công tác PBGDPL; giám sát việc thực hiện pháp luật về PBGDPL.

Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm ban hành theo thẩm quyền chương trình, kế hoạch, đề án về PBGDPL; chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức triển khai và kiểm tra công tác PBGDPL; xây dựng, tập huấn, bồi dưỡng, quản lý đội ngũ báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật; thực hiện chuẩn hóa đội ngũ giáo viên dạy môn giáo dục công dân, giáo viên, giảng viên dạy pháp luật theo quy định của pháp luật; tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp hỗ trợ cho hoạt động PBGDPL.

d) Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp quản lý cán bộ, công chức, viên chức (Điều 28)

Hình thức PBGDPL cho các đối tượng này được chú trọng thực hiện thông qua phổ biến pháp luật trực tiếp, đăng tải thông tin pháp luật trên trang thông tin điện tử, báo, bản tin của cơ quan, tổ chức, đơn vị (nếu có); kết hợp thực hiện PBGDPL thông qua các hoạt động chuyên môn.

Luật giáo trách nhiệm cho cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp quản lý cán bộ, công chức, viên chức bảo đảm các điều kiện cần thiết cho việc tổ chức PBGDPL đối với các đối tượng này; xây dựng, tập huấn, bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên pháp luật của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình hoặc định kỳ mời báo cáo viên tham gia PBGDPL tại cơ quan, tổ chức, đơn vị; phối hợp với cơ quan nhà nước, tổ chức hữu quan PBGDPL cho nhân dân.

đ) Trách nhiệm của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận (Điều 29)

Căn cứ chức năng, nhiệm vụ của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, Luật giao các tổ chức này tổ chức PBGDPL cho hội viên, đoàn viên của tổ chức mình; vận động nhân dân chấp hành pháp luật; phối hợp với cơ quan nhà nước, tổ chức hữu quan PBGDPL cho nhân dân; xây dựng, tập huấn, bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật của tổ chức mình; vận động tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp tham gia và hỗ trợ hoạt động PBGDPL; tham gia giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về PBGDPL.

e) Trách nhiệm của tổ chức hành nghề về pháp luật, tổ chức xã hội nghề nghiệp về pháp luật, cơ sở đào tạo luật, cơ sở đào tạo, bồi dưỡng chức danh tư pháp (Điều 30)

Tổ chức hành nghề về pháp luật, tổ chức xã hội nghề nghiệp về pháp luật, cơ sở đào tạo luật, cơ sở đào tạo, bồi dưỡng chức danh tư pháp có trách nhiệm tham gia PBGDPL cho nhân dân; tổ chức PBGDPL thông qua hoạt động tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý; kết hợp PBGDPL thông qua hoạt động chuyên môn; tạo điều kiện cho thành viên của tổ chức, công chức, viên chức, giảng viên, học viên, sinh viên tham gia hoạt động tình nguyện PBGDPL.

Luật giao cơ sở đào tạo luật, cơ sở đào tạo, bồi dưỡng chức danh tư pháp có trách nhiệm tham gia bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho người làm công tác PBGDPL.

g) Trách nhiệm của các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân (Điều 31)

Để nâng cao hiệu quả công tác giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân, Luật quy định căn cứ vào nội dung, hình thức giáo dục pháp luật ở từng cấp học và trình độ đào tạo, các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân có trách nhiệm tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật, bố trí giáo viên dạy môn giáo dục công dân, giáo viên, giảng viên dạy pháp luật theo quy định của pháp luật; phối hợp với gia đình và xã hội thực hiện mục tiêu giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân.

h) Bên cạnh đó, tại Điều 32, Luật còn giao các thành viên trong gia đình gương mẫu chấp hành pháp luật; ông, bà, cha, mẹ có trách nhiệm giáo dục và tạo điều kiện cho con, cháu tìm hiểu, học tập pháp luật, rèn luyện ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật.

2.14. Về báo cáo viên pháp luật (Điều 35, Điều 36), tuyên truyền viên pháp luật và những người được mời tham gia PBGDPL ở cơ sở (Điều 37)

a) Báo cáo viên pháp luật

Báo cáo viên pháp luật có vị trí rất quan trọng, giữ vai trò nòng cốt trong công tác PBGDPL. Nhằm luật hóa quy định về báo cáo viên pháp luật tại Thông tư số 18/2010/TT-BTP ngày 05 tháng 11 năm 2010quy định về báo cáo viên pháp luật và nâng cao vị trí, vai trò của đội ngũ này trong công tác PBGDPL, Luật quy định báo cáo viên pháp luật là cán bộ, công chức, viên chức và sỹ quan trong lực lượng vũ trang nhân dân được cơ quan có thẩm quyền ra quyết định công nhận để kiêm nhiệm thực hiện hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.

- Tiêu chuẩn của báo cáo viên pháp luật:

Luật quy định các tiêu chuẩn của báo cáo viên pháp luật gồm: Có phẩm chất đạo đức tốt, lập trường tư tưởng vững vàng, có uy tín trong công tác; có khả năng truyền đạt; có bằng tốt nghiệp đại học luật và thời gian công tác trong lĩnh vực pháp luật ít nhất là 02 năm; trường hợp không có bằng tốt nghiệp đại học luật, nhưng có bằng tốt nghiệp đại học khác thì phải có thời gian công tác liên quan đến pháp luật ít nhất là 03 năm.

Khác với quy định hiện hành về tiêu chuẩn báo cáo viên pháp luật tại Thông tư số 18/2010/TT-BTP, Luật quy định tiêu chuẩn chung về trình độ cho các cấp báo cáo viên pháp luật (trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện). Có ý kiến cho rằng tiêu chuẩn của báo cáo viên pháp luật được quy định trong Luật là cao, hạn chế sự phát triển của đội ngũ này. Tuy nhiên, đa số ý kiến nhất trí quy định tiêu chuẩn của báo cáo viên pháp luật như trong Luật là cần thiết do việc PBGDPL đòi hỏi phải chuẩn xác, phù hợp với từng loại đối tượng. Vì vậy, một người để được công nhận là báo cáo viên pháp luật ngoài phẩm chất đạo đức, lập trường tư tưởng vững vàng, có uy tín trong công tác và khả năng truyền đạt, cần phải có trình độ, kinh nghiệm, độ từng trải nhất định nhằm bảo đảm chất lượng PBGDPL và tạo được sự tin cậy của đối tượng được PBGDPL. Quy định về tiêu chuẩn báo cáo viên như trong Luật là mức tối thiểu để một người có thể được công nhận là báo cáo viên pháp luật. Đối với những người có kiến thức hoặc kinh nghiệm về pháp luật nhưng không đủ các điều kiện khác để được công nhận làm báo cáo viên pháp luật thì vẫn có thể tham gia PBGDPL với tư cách là tuyên truyền viên pháp luật hoặc là người được mời tham gia PBGDPL ở cơ sở (Điều 37 của Luật).

- Thẩm quyền quyết định công nhận báo cáo viên pháp luật:

+ Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định công nhận báo cáo viên pháp luật của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận;

+ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định công nhận báo cáo viên pháp luật của cơ quan nhà nước, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức thành viên của Mặt trận cấp tỉnh;

+ Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định công nhận báo cáo viên pháp luật của cơ quan nhà nước, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức thành viên của Mặt trận cấp huyện.

Một điểm mới của Luật là giao trách nhiệm cho cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp báo cáo viên pháp luật tổ chức rà soát, đề nghị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định miễn nhiệm báo cáo viên pháp luật. Đồng thời Luật giao Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định trình tự, thủ tục công nhận, miễn nhiệm báo cáo viên pháp luật.

- Quyền và nghĩa vụ của báo cáo viên pháp luật: Để xác định địa vị pháp lý của báo cáo viên pháp luật, Luật quy định quyền và nghĩa vụ của họ tại Điều 36 như sau:

+ Về quyền: Được cung cấp văn bản quy phạm pháp luật, thông tin, tài liệu pháp luật phục vụ cho việc thực hiện nhiệm vụ PBGDPL; được tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng, nghiệp vụ PBGDPL; được hưởng thù lao và chế độ theo quy định của pháp luật.

+ Về nghĩa vụ: Thực hiện nhiệm vụ PBGDPL theo sự phân công; truyền đạt chính xác nội dung PBGDPL; không được tiết lộ bí mật nhà nước và thực hiện các hành vi bị cấm khác; hằng năm, báo cáo về hoạt động PBGDPL do mình thực hiện với cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp.

b) Tuyên truyền viên pháp luật và những người được mời tham gia PBGDPL ở cơ sở

Cùng với báo cáo viên pháp luật, với lực lượng gồm 77,264 người, trong thời gian vừa qua, tuyên truyền viên pháp luật có những đóng góp quan trọng trong việc nâng cao hiểu biết, ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân.

Nhằm cụ thể hóa chính sách xã hội hóa công tác PBGDPL quy định tại khoản 3 Điều 3, huy động đông đảo những người có kiến thức, hiểu biết pháp luật tham gia PBGDPL, Luật quy định về tuyên truyền viên pháp luật và những người được mời tham gia PBGDPL ở cơ sở. Theo đó, người có uy tín, kiến thức, am hiểu về pháp luật được xem xét để công nhận là tuyên truyền viên pháp luật ở xã, phường, thị trấn hoặc được mời tham gia PBGDPL ở cơ sở. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định công nhận tuyên truyền viên pháp luật.

Tuyên truyền viên pháp luật và những người được mời tham gia PBGDPL có quyền được cung cấp văn bản pháp luật; được tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ PBGDPL; hưởng thù lao, chế độ theo quy định của pháp luật.

2.15. Các biện pháp bảo đảm cho công tác PBGDPL (Điều 38 và Điều 39)

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác PBGDPL, Luật quy định các biện pháp bảo đảm về tổ chức, cán bộ, cơ sở vật chất, phương tiện và kinh phí cho công tác PBGDPL.

Về tổ chức, cán bộ, phương tiện cho công tác PBGDPL, Luật giao Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu tổ chức thành viên của Mặt trận có trách nhiệm bố trí đủ cán bộ, công chức, viên chức, báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật làm công tác PBGDPL phù hợp với nhu cầu PBGDPL trong lĩnh vực, địa bàn quản lý; bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện cần thiết cho công tác PBGDPL theo quy định của Chính phủ.

Kinh phí PBGDPL của các cơ quan, tổ chức thụ hưởng ngân sách do ngân sách nhà nước bảo đảm và huy động từ các nguồn hợp pháp khác. Ngân sách trung ương hỗ trợ kinh phí PBGDPL cho các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách. Hằng năm, căn cứ vào nhiệm vụ PBGDPL của năm sau, cơ quan, tổ chức xây dựng dự toán kinh phí PBGDPL và tổng hợp chung vào dự toán ngân sách nhà nước của cấp mình trình cấp có thẩm quyền quyết định theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

Cụ thể hóa chính sách xã hội hóa công tác PBGDPL, Luật quy định Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tài trợ, hỗ trợ kinh phí cho hoạt động PBGDPL theo quy định của pháp luật.

PHẦN III

TÀI LIỆU THAM KHẢO VỀ HOẠT ĐỘNG PBGDPL Ở MỘT SỐ NƯỚC

1. Cộng hoà Pháp

1.1. Về thể chế hóa công tác thông tin pháp luật

Ngày 10/7/1991, Quốc hội Cộng hoà Pháp ban hành Luật về tiếp cận với pháp luật. Đến 18/12/1998, Quốc hội thông qua Luật về tiếp cập với pháp luật (sửa đổi, bổ sung) nhằm đạt tới mục đích: tất cả mọi công dân phải hiểu biết pháp luật, biết quyền, nghĩa vụ của mình, được hưởng mọi phương tiện liên quan đến pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, biết các cơ quan có thẩm quyền có thể giúp dân tư vấn, hướng dẫn đến đúng cơ quan nhà nước, Hiệp hội để nhờ giúp đỡ. Luật quy định các thẩm phán, các Hiệp hội xã hội, cán bộ làm pháp luật trong các cơ quan, xí nghiệp…có nhiệm vụ giúp dân hiểu và thực hiện pháp luật. Công dân có quyền biết tất cả các luật, văn bản dưới luật của các Bộ (trừ văn bản mang tính bí mật). Khi có ý kiến của dân, các cơ quan chức năng phải xem xét, giải quyết.

1.2. Cơ cấu tổ chức

Để làm tốt công tác phổ biến, thông tin pháp luật và tiếp cận pháp luật, những năm qua, ở Pháp đã thành lập Hội đồng tư vấn tiếp cận pháp luật. Theo Luật về tiếp cận với pháp luật năm 1998, Hội đồng được thành lập ở cấp quốc gia và cấp tỉnh. Đến tháng 11/2000 ở Pháp có 46/91 tỉnh, thành phố thành lập Hội đồng. Mục tiêu đặt ra hết năm 2001, 100% tỉnh, thành phố có Hội đồng.

Hội đồng quốc gia có nhiệm vụ chỉ đạo, theo dõi hoạt động của Hội đồng cấp tỉnh; đưa ra những yêu cầu về tiếp cận pháp luật, hướng dẫn vận dụng các luật để trợ giúp pháp luật, phổ biến pháp luật; xem xét báo cáo về tổ chức và hoạt động của Hội đồng các địa phương; hướng dẫn Hội đồng từng tỉnh hoạt động phù hợp những vấn đề quan tâm.

Hội đồng cấp tỉnh có nhiệm vụ phối hợp với các cơ quan thành một khối để tư vấn tiếp cận với pháp luật; đưa ra các chương trình, dự án để Hội đồng hoạt động tốt và phát triển; đưa chính sách tiếp cận pháp luật vào hoạt động thường ngày để dân biết, tham gia việc giải quyết các tranh chấp nhỏ.

Hội đồng không được thành lập ở cấp huyện và cấp xã vì ở cấp huyện có Toà án. Mỗi Toà án có bộ phận tiếp dân, hướng dẫn dân thực hiện quyền, nghĩa vụ và những vấn đề cần tư vấn. Hàng tuần, tất cả Toà án có "ngày mở cửa" để tiếp dân. Dưới khu dân cư có Nhà pháp luật.

Thẩm quyền thành lập Hội đồng: Luật quy định Hội đồng quốc gia do Chính phủ thành lập. Hội đồng cấp tỉnh do Chánh án (kiêm tỉnh trưởng) quyết định.

Hàng năm, Hội đồng các tỉnh phải báo cáo cho Bộ Tư pháp về tình hình tổ chức và hoạt động, đồng thời nêu Kế hoạch năm tới. Hội đồng quốc gia có báo cáo chung gửi Hội đồng các tỉnh.

Kinh phí hoạt động: do ngân sách nhà nước cấp qua Bộ Tư pháp, năm 2000 là 18 triệu France. Căn cứ vào số dân và những vấn đề cần tập trung giải quyết của từng tỉnh mà Bộ Tư pháp phân bổ kinh phí. Ngoài ngân sách nhà nước cấp, các cơ quan thành viên Hội đồng đóng góp một phần tài chính (qua tài khoản Hội đồng), cơ sở vật chất và cử cán bộ tham gia.

Thành viên Hội đồng không có phụ cấp trách nhiệm, vì đã nhận lương công tác.

1.3. Phương thức tổ chức thực hiện

- Thông qua các hoạt động phổ biến pháp luật, tư vấn pháp luật và hướng dẫn thực hiện pháp luật của các thành viên Hội đồng.

- Giáo dục pháp luật trong trường học:

Chương trình chính khoá gồm những nội dung rất cơ bản (mang tính giới thiệu) về nhà nước và pháp luật.

Chương trình ngoại khoá: các trường cấp 2, 3 đều tổ chức hoạt động ngoại khoá để phổ biến pháp luật cho học sinh, thanh niên.

- Phổ biến, tiếp cận pháp luật thông qua báo chí:

Báo chí thông tin về văn bản pháp luật mới. Những văn bản liên quan nhiều đến dân thì được báo chí đăng nhiều.

Bộ Tư pháp có Tin nội bộ, thông tin về hoạt động tư pháp, về văn bản, phát hành tới Toà án địa phương. Bộ Tư pháp đã đăng nhập các thông tin về tổ chức, hoạt động và văn bản pháp luật trên Internet; mọi người có thể khai thác, sử dụng không phải trả tiền.

Công báo: là cơ quan thuộc Chính phủ. Công báo gồm Luật, Sắc lệnh, văn bản pháp quy, những thảo luận trong Quốc hội (Thượng viện, Hạ viện); đăng một số bản án, mẫu hợp đồng…Công báo phát hành hàng ngày, trừ ngày cuối tuần. Pháp có Luật về Công báo. Công báo được in (theo cổ truyền) và được đưa vào máy tính (Công báo điện tử). Riêng Công báo tin được khoảng 50.000 cơ quan, đơn vị, cá nhân đăng ký mua.

- Nhà pháp luật: Được thành lập tại các khu dân cư. Chánh án và Trưởng Công tố quyết định thành lập, địa điểm đặt Nhà pháp luật và việc tham gia của các luật sư, thẩm phán…Đã có 51 Nhà pháp luật được thành lập ở các tỉnh. Nhà pháp luật giúp nhân dân tiến cập pháp luật, giúp giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp thông qua hoà giải.

- Hoà giải: Bộ luật Dân sự có nhiều điều nói về công tác hoà giải. Khi có mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ, người bị hại và người gây hại có thể đến Nhà pháp luật để hoà giải hoặc được lãnh đạo Nhà pháp luật mời đến để hoà giải. Thông qua hoà giải, cán bộ pháp luật cung cấp thông tin, kiến thức pháp luật cho dân.

Nhận xét: Pháp là một quốc gia có truyền thống về pháp luật. Chính phủ rất coi trọng việc phổ biến, thông tin pháp luật và tạo điều kiện cho dân được tiếp cận với pháp luật. Chính vì thế mà Cộng hoà Pháp có Luật về tiếp cận pháp luật. Đặc biệt, Nhà nước đảm bảo kinh phí cho công tác này. Đồng thời, có sự đóng góp của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội.

2. Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

2.1. Về cơ cấu tổ chức

- Về chức năng nhiệm vụ: Bộ Tư pháp Trung Quốc thực hiện việc quản lý nhà nước trên các mặt theo dõi công tác xây dựng pháp luật; thi hành án hình sự; quản lý các trại cải tạo lao động và cai nghiện ma túy, phục hồi cho người cai nghiện; PBGDPL; hành chính tư pháp (luật sư, công chứng, giám định); hòa giải tại cơ sở; tái hòa nhập cộng đồng cho người mãn hạn tù; đào tạo các chức danh tư pháp, tổ chức thi tuyển quốc gia cho đội ngũ cán bộ tư pháp; trợ giúp pháp lý cho người ngèo; hợp tác quốc tế về tư pháp; nghiên cứu khoa học về tư pháp.

- Về mô hình tổ chức, cán bộ: hệ thống tư pháp Trung Quốc có 4 cấp rưỡi: cấp Trung ương có Bộ Tư pháp, cấp tỉnh (hoặc khu tự trị của các dân tộc thiểu số) có Sở (Ty) Tư pháp, tại một số tỉnh có cấp Địa khu (liên huyện - Trung Quốc có hơn 500 địa khu) có Cục Tư pháp; cấp huyện có Phòng Tư pháp và cấp xã/phường/thị trấn có các Văn phòng Tư pháp cơ sở. Điểm đặc biệt là Văn phòng Tư pháp không phải là cấp cơ sở của xã/phường/thị trấn mà thực chất là các chi nhánh do cấp huyện cử xuống (trực thuộc huyện). Cả ngành tư pháp có khoảng 160.000 cán bộ, công chức.

2.2. Về phương thức tổ chức thực hiện

Điểm đặc biệt là tất cả các chức danh tư pháp ở Trung Quốc trước khi được bổ nhiệm phải qua kỳ thi tuyển quốc gia. Hàng năm Bộ Tư pháp có trách nhiệm đứng ra trực tiếp tổ chức kỳ thi tư pháp trong toàn quốc nhằm cung cấp nguồn cán bộ cho các cơ quan Tư pháp, Tòa án, Viện kiểm sát, Luật sư… Theo quy định của pháp luật, tất cả những người muốn được làm việc trong các cơ quan tư pháp (Tòa án, kiểm sát, Luật sư…) đều phải có bằng cử nhân luật, sau đó phải vượt qua kỳ thi tư pháp quốc gia, học qua trường đào tạo nghề (như Học viện tư pháp của Việt Nam) mới có đủ điều kiện để thi tuyển vào các ngạch công chức (Thẩm phán, Kiểm sát viên); muốn hành nghề luật sư phải nộp hồ sơ lên hiệp hội luật sư và phải tập sự 01 năm, trong thời gian đó phải học tập tại trường đào tạo (học 04 cuốn giáo trình, thực tập tại các văn phòng luật sư và vượt qua đợt kiểm tra của Hiệp hội luật sư toàn quốc).

Pháp luật cũng quy định tất cả các cán bộ lãnh đạo của các cấp chính quyền trong hệ thống hành chính trước khi bổ nhiệm thì phải thi kiểm tra kiến thức pháp luật, nếu đạt mới được bổ nhiệm làm lãnh đạo. Trong quá trình làm việc, các cán bộ này được định kỳ kiểm tra kiến thức pháp luật.

Để tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác PBGDPL, Bộ Tư pháp Trung Quốc xây dựng Chương trình PBGDPL theo nhiệm kỳ Quốc hội trình Ủy ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc (tức Ủy ban thường vụ Quốc hội Trung Quốc) phê duyệt.

Nhận xét: Trung Quốc rất coi trọng công tác PBGDPL và hòa giải ở cơ sở. Pháp luật Trung Quốc quy định tất cả lãnh đạo các cấp đều phải học tập pháp luật, thi kiểm tra kiến thức pháp luật, nếu đạt mới được bổ nhiệm. Chương trình PBGDPL được Bộ Tư pháp trình Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, phê duyệt.

Hiện nay, Trung Quốc đang nghiên cứu để đưa dự án Luật PBGDPL vào Chương trình xây dựng Luật của Quốc hội. Trung Quốc đã có Luật Hòa giải.

3. Vương quốc Đan Mạch

3.1. Về thể chế hóa hoạt động thông tin pháp luật

Điều 22 Hiến pháp Đan Mạch quy định tất cả các văn bản được công bố công khai. Đồng thời, năm 1982, luật quy định tạo điều kiện cho người dân nắm bắt pháp luật và nêu rõ những quy định người dân phải thực hiện.

3.2. Về cơ cấu tổ chức

Là một quốc gia nhỏ ở Châu Âu với 5,2 triệu dân, có nền kinh tế phát triển, vì vậy, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật có nhiều thuận lợi. Từ năm 1985, Đan Mạch đã có hệ thống thông tin pháp luật, theo đó đã đưa tất cả các văn bản pháp luật vào cơ sở dữ liệu. Từ năm 1996, ngoài việc truy cập vào cơ sở dữ liệu, cơ quan có trách nhiệm còn ấn loát để thông tin cho dân, cơ quan, tổ chức biết.

Hai cơ quan có trách nhiệm chính trong công tác này là Trung tâm thông tin pháp luật thuộc Bộ Tư pháp và Trung tâm thông tin thuộc Bộ Nghiên cứu và công nghệ thông tin.

3.3. Phương thức tổ chức thực hiện

Hai cơ quan có trách nhiệm chính trong công tác thông tin pháp luật của Nhà nước là Trung tâm thông tin pháp luật thuộc Bộ Tư pháp và Trung tâm thông tin thuộc Bộ Nghiên cứu và công nghệ thông tin.

Trung tâm thông tin pháp luật thuộc Bộ Tư pháp truy cập toàn bộ văn bản pháp luật vào cơ sở dữ liệu, đưa lên mạng. Tất cả những văn bản đã được thông qua được truy cập hàng ngày (ít nhất 01 lần/ngày) vào cơ sở dữ liệu. Nguồn văn bản Trung tâm nhận là từ Quốc hội. Bên cạnh các văn bản pháp luật, Trung tâm còn nhận được các dự thảo luật, kể cả những kiến nghị, thắc mắc; các chương trình, nội dung đại biểu Quốc hội thảo luận. Người dân hoặc cơ quan, tổ chức muốn tìm hiểu một văn bản pháp luật nào chỉ cần khai thác trên mạng Internet. Mọi người được khai thác và sử dụng thông tin miễn phí. Bên cạnh việc truy cập văn bản pháp luật vào cơ sở dữ liệu, Trung tâm thông tin pháp luật còn đăng văn bản, giới thiệu văn bản trên các tạp chí. Để công chức và nhân dân dễ nhận biết, dễ sử dụng, Trung tâm phân loại văn bản để đăng trên các Tạp chí A, B, C. Tạp chí A đăng văn bản luật và các văn bản của Chính phủ. Tạp chí B đăng văn bản về lĩnh vực ngân sách, tài chính. Tạp chí C đăng văn bản pháp luật Châu Âu. Đối với các đại biểu Quốc hội còn có một tờ tin riêng. Hệ thống thông tin trên Internet gồm đầy đủ nội dung của các Tạp chí A, B, C và tờ tin Quốc hội.

Trung tâm thông tin pháp luật còn phát hành Công báo. Công báo phát hàng tuần; phát hành đột xuất khi Nữ hoàng phê chuẩn.

Trung tâm thông tin thuộc Bộ Nghiên cứu và công nghệ thông tin có nhiệm vụ giúp nhân dân hiểu biết pháp luật và giúp các cơ quan của Chính phủ phổ biến pháp luật. Trung tâm thông tin có một bộ phận cung cấp thông tin pháp luật. Tại đây, các cán bộ nghiên cứu văn bản, viết bài giới thiệu ngắn gọn, bình luận những quy định của luật đưa lên mạng Internet và đăng trên tờ tin. Những cán bộ làm việc trong bộ phận cung cấp thông tin pháp luật luôn tự đặt câu hỏi người dân có nhu cầu gì? người dân cần biết gì? để có biện pháp làm cho dân dễ hiểu và đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu pháp luật của dân. Trung tâm thông tin giới thiệu văn bản pháp luật từ khi dự thảo đến khi ban hành, trung bình có khoảng 40.000 người khai thác trên mạng trong một ngày. Trung tâm có tờ tin từ 17 năm nay, từ năm 1997 các nội dung của tờ tin cũng như các bài giới thiệu văn bản luật được đưa lên mạng Internet. Như vậy, các bài giới thiệu văn bản pháp luật được đồng thời đưa lên mạng và đăng trên tờ tin. Riêng văn bản của Cộng đồng Châu Âu được đưa nguyên văn. Khai thác trên mạng miễn phí (hơn 80% dân Đan Mạch đã truy cập mạng), còn tờ tin phát hành 02 kỳ/tháng (các cơ quan, cá nhân có nhu cầu thì đăng ký mua).

Ngoài 02 Trung tâm trên, Hiệp hội luật sư cũng thực hiện tư vấn pháp luật miễn phí cho người nghèo. Hiệp hội có 02 tờ tạp chí: "Advokaten" và "Lov and Ret" đều phát hành 10 kỳ/năm, giới thiệu về hoạt động và nghiệp vụ hành nghề của luật sư.

Nhận xét: Đan Mạch là một nước phát triển, rất coi trọng việc tạo điều kiện cho người dân nắm bắt pháp luật. Hình thức đưa pháp luật đến với người dân chủ yếu thông qua hệ thống cơ sở dữ liệu được truy cập trên mạng Internet và phát hành các tờ tin, tạp chí. Các phương tiện thông tin đại chúng có đề cập, phản ánh hoạt động Tư pháp, song giới thiệu văn bản pháp luật không nhiều (vì phổ biến pháp luật trên mạng Internet đã quá rộng rãi).

Nhà nước đảm bảo ngân sách, điều kiện cho việc thực hiện cung cấp thông tin pháp luật.

4. Liên bang Nga

4.1. Về cơ cấu tổ chức

Công tác PBGDPL ở Liên xô cũ (trước năm 1991) được thực hiện theo mô hình như ở VN hiện nay: có cơ quan quản lý nhà nước về công tác này (Bộ Tư pháp), có Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL; các hình thức PBGDPL đa dạng: tuyên truyền miệng, qua các phương tiện thông tin đại chung, tuyên truyền cổ động, biên soạn và phát hành các tài liệu pháp luật, giáo dục pháp luật trong nhà trường, thực hiện tư vấn pháp luật….

Sau khi Liên xô tan rã, xuất phát từ những thay đổi về chính trị, kinh tế, xã hội, hoạt động PBGDPL ở Liên bang Nga cũng có những thay đổi đáng kể, đó là không còn tổ chức Hội đồng phối hợp, không có cơ quan quản lý nhà nước về công tác này (như Vụ PBGDPL ở VN).

Hiện nay, tại Liên bang Nga có Trung tâm thông tin khoa học pháp lý trực thuộc Bộ Tư pháp. Trung tâm này được thành lập từ năm 1975 với nhiệm vụ làm công tác hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật và tạo cơ chế thông tin hiệu quả cho cán bộ và nhân dân về các quy định của pháp luật hiện hành. Cho đến năm 1993, đây là cơ quan nhà nước duy nhất bảo đảm thông tin pháp lý cho tất cả các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp các cấp ở Liên bang Nga.

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Trung tâm này là tập hợp và xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử thông tin pháp luật, bảo đảm việc cung cấp thông tin pháp luật cho các cơ quan hành pháp Liên bang, các tổ chức và cá nhân.

4.2. Về phương thức tổ chức thực hiện

- Đăng tải kịp thời, đầy đủ văn bản qui phạm pháp luật: Theo quy định của luật pháp Liên bang Nga, tất cả các văn bản qui phạm pháp luật của Liên bang (cấp trung ương) phải được đăng tải trên "Toàn tập văn bản pháp luật Liên bang Nga" (như Công báo ở VN) hoặc trên Báo "Nước Nga".

- Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng: trên các báo, đài phát thanh và các kênh truyền hình đều có các chuyên mục đăng tải thông tin pháp luật (về các văn bản pháp luật mới, về hoạt động xây dựng pháp luật và tình hình thực thi pháp luật). Đặc biệt, trên các kênh truyền hình dành nhiều thời lượng cho việc thông tin về hoạt động của cơ quan lập pháp Liên bang (Đuma quốc gia), có các chương trình pháp luật được phát sóng theo định kỳ hàng tuần, hàng ngày (một số chương trình thu hút được đông đảo khán giả như: "Con người và pháp luật" - chương trình thông tin tổng hợp với các phóng sự điều tra về những vụ việc cụ thể; "Một giờ tại tòa án" - chương trình thực hiện về phiên xét xử tại tòa án …).

Hiện nay, ở Liên bang Nga có rất nhiều trang thông tin điện tử và các ấn phẩm thông tin điện tử (đĩa CD Rom) cung cấp thông tin pháp luật, đặc biệt cung cấp các văn bản quy phạm pháp luật trong mọi lĩnh vực.

- Giáo dục pháp luật: trước những năm 90 của thế kỷ XX ở Liên Xô đã thực hiện chương trình giáo dục đại cương nhà nước và pháp luật trong nhà trường. Tuy nhiên, sau khi Liên xô tan rã, môn học này đã không là một trong những môn học bắt buộc tại trường phổ thông.

Từ năm 1997, Quỹ cải cách giáo dục ở Liên bang Nga đã thực hiện Dự án "Giáo dục pháp luật trong trường học" với mục đích xây dựng chương trình giáo dục pháp luật khung giảng dạy tại các trường phổ thông. Hiện nay bộ sách giáo khoa "Kiến thức pháp luật phổ thông" đã được biên soạn, gồm sách "Xã hội và tôi" dành cho học sinh lớp 5 -6, sách "Kiến thức pháp luật phổ thông. Đối thoại về pháp luật" dành cho học sinh lớp 7, "Kiến thức pháp luật phổ thông" dành cho học sinh lớp 8 - 9, sách "Pháp luật và kinh tế" dành cho học sinh lớp 10 - 11 và các sách dành cho giáo viên, sách tham khảo, bài tập…

Tại các trường đại học của Liên bang Nga (trong đó có các trường sư phạm) đều giảng dạy môn học pháp luật cho sinh viên. Riêng đối với đào tạo chuyên ngành luật, ở Liên bang Nga có chương trình mục tiêu quốc gia "Phát triển đào tạo chuyên ngành luật 2001 -2005".

- Thông qua hoạt động tư vấn pháp luật của các văn phòng, công ty luật. Theo quy định của Luật về luật sư và hành nghề luật sư ở Liên bang Nga, trong hoạt động của mình, các luật sư có trách nhiệm trợ giúp, tư vấn pháp luật miễn phí cho một số đối tượng chính sách.

- Một mô hình mới được triển khai từ năm 1998 là việc thành lập các trung tâm thông tin pháp luật tại các thư viện công cộng với cơ sở dữ liệu pháp luật được truy cập miễn phí. Tại đây, nhân viên của trung tâm còn tư vấn giúp bạn đọc tìm kiếm các văn bản và các tài liệu liên quan có tại trung tâm cũng như trong thư viện. Ở một số nơi, có sự phối hợp giữa trung tâm và các cơ sở đào tạo chuyên ngành luật, các sinh viên luật tham gia cộng tác tại trung tâm, vừa phục vụ bạn đọc tìm kiếm tài liệu, vừa thực hành khả năng tư vấn pháp luật của mình.

- Thông qua hoạt động tham gia xây dựng pháp luật, cụ thể là việc lấy ý kiến của người dân đối với dự thảo luật (theo quy định của Hiến pháp và Luật trưng cầu dân ý)

5. Cộng hòa Liên bang Australia

Hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật tại Australia được triển khai rất phong phú. Bên cạnh những hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao nhận thức pháp luật của người dân như giáo dục pháp luật trong nhà trường, thông tin pháp luật trên mạng internet, phương tiện thông tin đại chúng, tổ chức hội thảo, tập huấn, biên soạn và phát hành tài liệu pháp luật, hòa giải ở cơ sở...Tuy nhiên, ở Úc một số hình thức được triển khai mạnh mẽ hơn Việt Nam như hình thức PBGDPL thông qua các trung tâm tư pháp cộng đồng, thông tin, tư vấn pháp luật qua điện thoại, tổ chức các buổi tư vấn pháp luật miễn phí vào một ngày nhất định, điều tra công chúng...

5.1. Về hình thức PBGDPL trong nhà trường, khác với Việt Nam, kiến thức pháp luật không được đưa vào chương trình chính khóa, không trở thành môn học độc lập mà chỉ được lồng ghép vào một số môn học xã hội. Việc tuyên truyền, PBGDPL trong nhà trường thực hiện chủ yếu thông qua các hoạt động ngoại khóa, tài liệu pháp luật, trang Web với các chuyên mục phù hợp với học sinh và giáo viên.

Chương trình giáo dục ở Úc được thực hiện tùy theo từng tiểu bang. Hàng năm Bộ Giáo dục có trách nhiệm báo cáo Chính phủ về vấn đề này.

5.2. Về hình thức thông tin, tư vấn pháp luật qua điện thoại, hình thức này được sử dụng như biện pháp chủ yếu trong tăng cường quyền được thông tin pháp luật tới người dân.Trung tâm tiếp cận pháp luật của tiểu bang NSW thuộc Bộ Tư pháp tiểu bang là một trong những trung tâm tư pháp cộng đồng phát huy được thế mạnh của hình thức này.

Trung tâm được hình thành do mục đích của Ủy ban luật pháp mong muốn được cung cấp các dịch vụ luật pháp cho người thổ dân nhằm nâng cao quyền tiếp cận pháp luật cho đối tượng còn nhiều khó khăn.

Kinh phí của Ủy ban nhận được sự tài trợ của Ủy ban luật pháp.

Nguồn nhân lực của trung tâm chủ yếu là đội ngũ luật sư từ Bộ Tư pháp, luật sư đoàn, trạng sư đoàn. Trung tâm luôn có mối quan hệ tốt với các cơ quan này để nhận được sự giúp đỡ, ủng hộ của luật sư trong quá trình hoạt động. Luật sư thực hiện tư vấn pháp luật của trung tâm này chủ yếu là miễn phí. Họ hưởng lương từ Bộ Tư pháp, luật sư đoàn, trạng sư đoàn và dành thời gian một tuần từ 01- 03 ngày làm việc cho trung tâm.

Ngoài đội ngũ luật sư, trung tâm có 60 nhân viên luật pháp, họ có thể là sinh viên luật hoặc các chuyên viên làm trong ngành luật pháp. Một nửa trong số nhân viên này làm việc bán thời gian. Hai tuần một lần, nhân viên được gặp luật sư để trao đổi thông tin về các vụ việc pháp luật, những quy định pháp luật đang thay đổi và các vấn đề luật pháp nóng bỏng báo chí đang đề cập...

Quy trình thực hiện thông tin, tư vấn pháp luật qua điện thoại được thực hiện rất khoa học:

Một là, xác định bản chất cuộc gọi

Hai là, xác nhận vấn đề pháp lý chủ yếu

Ba là, hỏi khách hàng về nơi ở của họ

Bốn là, xác định mức độ cấp thiết và phức tạp của vấn đề

Năm là, xác định khách hàng có thuộc đối tượng trợ giúp của trung tâm hay không

Sáu là, xác định cơ quan giúp đỡ cho khách hàng

Nhân viên trực điện thoại chỉ được phép cung cấp thông tin pháp luật, tìm những quy định pháp luật phù hợp thuộc nội dung vụ việc người dân đang vướng mắc để giải thích, hướng dẫn họ tới cơ quan có thẩm quyền hoặc gặp luật sư nơi gần nhất để được trợ giúp. Luật sư của trung tâm có trách nhiệm thực hiện tư vấn pháp luật chuyên sâu. Luật sư không ra tòa để đại diện cho khách hàng tại Tòa án. Những vụ việc phức tạp như thuế, chuyển nhượng bất động sản, thương mại...trung tâm không tư vấn.

Đối tượng được trung tâm thông tin, tư vấn là những người có nguy cơ bị thất nghiệp, người đang chuẩn bị ra tòa nhưng không hiểu biết về pháp luật, người dân nông thôn, nguời thổ dân, người tàn tật, người không được học hành, người sống vô gia cư và nhóm người đa văn hóa, đa sắc tộc.

Nội dung tư vấn chủ yếu về lĩnh vực hôn nhân, gia đình, bạo hành, tranh chấp dân sự, quyền cơ bản của công dân trong tố tụng dân sự, hình sự, những lĩnh vực luật pháp liên quan đến thuê nhà, trợ cấp thất nghiệp, việc làm.

Tư vấn pháp luật được thực hiện theo thứ tự ưu tiên. 90% khách hàng gọi đến trong vòng 5 phút sẽ được giúp đỡ. Tuy nhiên có 6% khách hàng không đợi được và đã bỏ máy. Trung tâm có hệ thống điện thoại dành cho người nặng tai và hệ thống dịch vụ phiên dịch.

Một trong những nguyên tắc làm việc của trung tâm là không thể giúp cả hai bên khi đang có xung đột về lợi ích. Những đối tượng bị thiệt thòi được ưu tiên hơn khi trợ giúp. Trung tâm chỉ tư vấn pháp luật qua điện thoại, không đại diện cho khách hàng tại Tòa án.

Qua khảo sát đã có 90% khách hàng hài lòng về dịch vụ tư vấn pháp luật qua điện thoại.

5.3. Về thông tin pháp luật trên Internet

Đây là hình thức được sử dụng chủ yếu tại Úc, nhiều ngôn ngữ được sử dụng trong trang Web này. Trang Web của Ban tiếp cận pháp luật tiểu bang NSW thuộc Bộ Tư pháp tiểu bang là một trong những trang Web được nhiều người truy cập nhất. Trang Web có những nội dung như:

- Tất cả những thông tin Bộ trưởng Bộ Tư pháp tiểu bang công bố;

- Tất cả các văn bản pháp luật;

- Phán quyết của các tòa án;

- Chuyên mục hướng dẫn về công chứng, chứng thực chữ ký miễn phí;

- Thông tin pháp luật;

- Tư vấn pháp luật.

Mọi người dân khi có nhu cầu cung cấp thông tin pháp luật đều được trang Web cung cấp. Tuy nhiên, khi họ cần tư vấn pháp luật thì phải đáp ứng một số điều kiện nhất định như:

+ Ở xa trung tâm thành phố, không có điều kiện để được trợ giúp pháp lý miễn phí;

+ Ở những nơi không có trung tâm tư pháp cộng đồng, không có hội luật sư;

+ Là người thổ dân;

+ Người tàn tật;

+ Người không sử dụng được tiếng anh;

+ Người có nguy cơ bị thiệt hại;

+ Người đang bị cảnh sát bắt giữ, tạm giam;

+ Người vô gia cư;

+ Người đang ở trong trường hợp có vấn đề pháp lý khẩn cấp;

+ Những vụ việc phức tạp.

6.4. Về mô hình trung tâm tư pháp cộng đồng

Trung tâm tư pháp cộng đồng chủ yếu là các tổ chức phi Chính phủ, hoạt động không vì lợi nhuận, có mạng lưới rộng khắp trên toàn lãnh thổ Úc. Trung tâm trợ giúp cho tất cả những đối tượng còn nhiều thiệt thòi trong xã hội như: người nghèo, người vô gia cư, thổ dân, người không biết tiếng anh, người tàn tật, phụ nữ, trẻ em, thanh thiếu niên, cộng đồng đa văn hóa, đa sắc tộc, người có nguy cơ bị thiệt hại, người đang bị cảnh sát bắt giữ, tạm giam...Australia là một đất nước phát triển do vậy các trung tâm được thành lập chủ yếu là hoạt động nhân đạo, mọi tư vấn, trợ giúp pháp luật đều được thực hiện miễn phí. Tuy nhiên, có những cuộc tư vấn, trợ giúp pháp luật người yêu cầu được tư vấn phải trả phí nhưng chỉ ở mức độ rất nhỏ như: phí gọi điện thoại, cước internet, thù lao cho Luật sư khi biện hộ tại Tòa án (chỉ đối với những thân chủ được thắng kiện).

Về mô hình tổ chức, cán bộ, các trung tâm đều có đội ngũ luật sư, luật gia làm việc chuyên trách và hưởng lương từ trung tâm. Bên cạnh đó thì ưu điểm nổi bật ở các tổ chức này là họ đã huy động được sự cộng tác nhiệt tình của giới luật gia, luật sư, sinh viên luật đến từ nhiều cơ quan khác nhau...Đội ngũ này làm việc bán thời gian tại trung tâm và không hưởng lương tại các cơ quan này. Mỗi trung tâm đều có luật sư cao cấp để giám sát chung hoạt động tư vấn của các luật sư khác. Luật sư cao cấp thường đến từ luật sư đoàn của thủ đô hoặc tiểu bang. Lương của họ có thể do Luật sư đoàn, Chính phủ liên bang hoặc tiểu bang cung cấp.

Trung tâm ban hành quy tắc hành nghề, những nhân viên của trung tâm làm việc tuân theo quy tắc này, bên cạnh đó họ phải tuân theo những quy tắc khác như quy tắc đạo đức nghề nghiệp, quy tắc hành nghề luật sư…

Nội dung tư vấn bao gồm tất cả các lĩnh vực pháp luật người dân đang gặp vướng mắc, tuy nhiên nội dung pháp luật người dân yêu cầu thường tập trung về các quy định pháp luật như dân sự, hôn nhân gia đình, nhà cửa, lương, bảo hiểm, trợ cấp, an sinh xã hội, việc làm, các quyền cơ bản của công dân...Một số lĩnh vực pháp luật trung tâm không trợ giúp là luật di chú và luật thuế vụ. Bên cạnh các trung tâm tư vấn đa lĩnh vực pháp luật, có những trung tâm chỉ thực hiện tư vấn chuyên trách một lĩnh vực pháp luật hoặc tư vấn cho một đối tượng (phụ nữ, thanh niên, trẻ em hoặc người thổ dân).

PBGDPL, tư vấn pháp lý được trung tâm thực hiện bằng nhiều hình thức rất phong phú như biên soạn và phát hành tờ gấp, sách, đĩa hình, trang Web, tư vấn pháp luật qua điện thoại, tập huấn, hội thảo... nhưng hình thức chính các trung tâm sử dụng là tư vấn pháp luật trực tiếp (mặt đối mặt), tư vấn qua điện thoại, trang Web và đại diện cho thân chủ tại Tòa án.

Kinh phí hoạt động của các trung tâm pháp lý cộng đồng được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau có thể từ Chính phủ, Ủy ban luật pháp, Bộ Tư pháp hoặc các cơ quan, tổ chức khác. Căn cứ để trung tâm được cấp kinh phí là bản báo cáo hàng năm về số vụ việc trung tâm đã trợ giúp, tư vấn pháp lý cho người dân.

5.5. Uỷ ban nhân quyền thuộc Cộng hoà liên bang Australia

5.5.1. Để đưa pháp luật đến với người dân, Uỷ ban nhân quyền đã thực hiện một số hoạt động sau:

- Làm việc với các thày giáo và sinh viên, để xây dựng chương trình liên kết với nhóm trực tuyến, qua đĩa CD-ROMs và các nguồn băng video;

- Làm việc với người sử dụng lao động, để cung cấp thông tin và nguồn để giảm phân biệt đối xử và quấy rối trong nơi làm việc;

- Làm việc với các nhóm cộng đồng, để cung cấp thông tin và các nguồn để hỗ trợ công việc của họ;

- Làm việc với thành viên hành nghề pháp luật, tổ chức hội thảo và phát hành các tạp chí cập nhật về các vấn đề pháp lý.

- Làm nước chủ nhà tổ chức các hội nghị và sự kiện, như lễ Trao giải và Huân chương về Nhân quyền hàng năm.

Uỷ ban có một trang Web: http://www.humanrights.gov.au khá toàn diện bao gồm các thông tin và nguồn cho các cá nhân, trường học, người sử dụng lao động và các nhóm cộng đồng và xuất bản nhiều ấn phẩm.

5.5.2. Các hình thức phổ biến:

a. Phương tiện truyền thông

Làm việc với các phương tiện truyền thông là một phần chủ yếu trong chức năng giáo dục công cộng của Uỷ ban. Uỷ ban tham gia vào các cuộc tranh luận công cộng thông qua phương tiện truyền thông điện tử và bản in nhằm cung cấp thông tin cho công chúng, và trực tiếp cho các nhà báo và nhà biên tập.

Uỷ ban sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng và cả đặc biệt như đài phát thanh và báo Dân tộc thiểu số hoặc bản địa cũng như phương tiện truyền thông khu vực để cung cấp thông tin chung về hệ thống khiếu nại của Uỷ ban, khả năng can thiệp về pháp lý của Uỷ ban và các lĩnh vực hoạt động khác.

Uỷ ban phát hành khoảng 90 thông cáo báo chí mỗi năm và các Uỷ viên phải đưa các đoạn hoặc bài biết về quan điểm để đăng lên các báo quốc gia và khu vực.

b. Các trường học

Hoạt động giáo dục pháp luật trong trường học được Ủy ban thực hiện thông qua một số hình thức: tổ chức hội thảo, giáo dục nhân quyền qua mạng internet, xây dựng các tài liệu giảng dạy để đưa vào chương trình giảng dạy của các trường, cụ thể là: xây dựng trang Web “Thông tin cho sinh viên”; tổ chức các cuộc thi viết luận và nghệ thuật về pháp luật; xây dựng trang Web cho giáo viên.

c. Đài phát thanh Australia

Hình thức giáo dục này tập trung vào các vấn đề phân biệt chủng tộc, bao gồm tập hợp các câu chuyện có thực hiện thời về sự đa dạng và cùng chung sống ở Australia cũng như các thông tin về Đạo luật chống phân biệt chủng tộc.

d. Danh sách địa chỉ thư điện tử cho giáo dục về pháp luật

Danh sách địa chỉ thư điện tử cho giáo dục về pháp luật cung cấp các cập nhật về các sáng kiến giáo dục pháp luật và về nhân quyền do Uỷ ban và các cơ quan đầu mối khác thực hiện. Nó cũng bao gồm bản tin hàng tháng và các thông báo đặc biệt.

6. Vương quốc Thái Lan

6.1. Về cơ cấu tổ chức

Thái Lan không có cơ quan chuyên trách quản lý và thực hiện công tác PBGDPL. Tham gia vào hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật có nhiều cơ quan Nhà nước và các tổ chức tư nhân như: Bộ Tư pháp, Viện Công tố, Toà án, Hiệp hội luật sư, Trường đại học, Công ty luật... (Ví dụ, Hiệp hội luật sư có Văn phòng thông tin chuyên phổ biến, thông tin các văn bản pháp luật mới; đồng thời có riêng kênh 11 trên Đài Truyền hình Thái Lan, mỗi tháng phát 2 lần về một số nội dung pháp luật. Khoa luật Trường Đại học Tổng hợp Thammasat thường có các hoạt động phổ biến pháp luật cho người dân và tổ chức các đợt bồi dưỡng ngắn về kiến thức pháp luật cho đội ngũ lãnh đạo chính quyền cơ sở... ).

Bộ Tư pháp Thái Lan có Vụ Bảo vệ các quyền tự do của công dân. Một trong những chức năng của Vụ Bảo vệ các quyền tự do của công dân là giáo dục người dân thi hành pháp luật; tạo cơ hội, khuyến khích nhân dân tham gia vào các hoạt động tư pháp; tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho nhân dân.

6.2. Phương thức tổ chức thực hiện

Hình thức PBGDPL thường sử dụng là giảng, diễn thuyết về pháp luật cho nhân dân ở các khu dân cư thông qua các Công tố viên, giảng viên Khoa luật của Trường Đại học, các luật sư... và xuất bản tài liệu, sách pháp luật. Để công tác tuyên truyền pháp luật đạt hiệu quả, Thái Lan cho rằng công tác này phải dựa vào cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu của cộng đồng, với phương châm đáp ứng yêu cầu của người dân chứ không phải áp đặt theo ý chí của các cơ quan Nhà nước.

Ở Thái Lan, trong các trường phổ thông học sinh được học môn Những vấn đề cơ bản về pháp luật; các trường đại học có môn Pháp luật.

Ngoài ra, thông qua đội ngũ các giảng viên, sinh viên Khoa luật của một số Trường Đại học và cả một số luật sư là cựu sinh viên của trường (đặc biệt là Khoa luật Trường Đại học Tổng hợp Thammasat) đã tổ chức kết hợp thực hiện trợ giúp pháp lý và phổ biến, giáo dục pháp luật bằng 2 hình thức: tư vấn trực tiếp, qua điện thoại, thư hoặc internet và hỗ trợ giải quyết những vấn đề liên quan đến tranh tụng cho một số đối tượng nhất định (bị thiệt hại chính đáng, nghèo, không có tiền án tiền sự) trừ tranh tụng về lĩnh vực hôn nhân gia đình.

7. Singapore

7.1. Về cơ cấu tổ chức

Singapore không có cơ quan chuyên trách quản lý và thực hiện công tác PBGDPL. Các cơ quan Nhà nước, trong phạm vi nhiệm vụ của mình đều có trách nhiệm phổ biến, thông tin pháp luật đến nhân dân và các đối tượng thuộc quyền quản lý.

Một trong những nhiệm vụ của Viện Công tố Singapore là giáo dục, bồi dưỡng pháp luật cho cán bộ nhà nước. Để thực hiện nhiệm vụ này, cả 5 đơn vị thuộc Viện Công tố (Vụ pháp luật dân sự, Vụ pháp luật Hình sự, Vụ quốc tế, Vụ soạn thảo văn bản, Vụ cải cách pháp luật) đều có trách nhiệm giáo dục, bồi dưỡng những nội dung pháp luật mà đơn vị đó phụ trách cho cán bộ các cơ quan Nhà nước (cán bộ của Viện Công tố, cán bộ pháp chế thuộc các Bộ, ngành khác và những đối tượng có nhu cầu) thông qua việc tổ chức các khoá học, các hội thảo.

7.2. Phương thức tổ chức thực hiện

Một trong những nhiệm vụ của Viện Công tố Singapore là giáo dục, bồi dưỡng pháp luật cho cán bộ nhà nước. Có 2 phương thức tổ chức giáo dục, bồi dưỡng pháp luật:

- Thứ nhất: do Viện Công tố tổ chức. Nội dung bồi dưỡng thường là các văn bản pháp luật mới hoặc những lĩnh vực pháp luật bức xúc cần tập huấn, bồi dưỡng tại thời điểm đó cho những đối tượng có liên quan. Ngoài ra, Viện Công tố còn tổ chức những Khoá học với chủ đề rộng và không hạn chế đối tượng tham dự (thường kết hợp với Trường cán bộ Nhà nước và có thu phí đối với những người tham dự nhưng mức thu không đáng kể).

- Thứ hai: theo đề nghị của các Bộ, ngành và Viện Công tố cử báo cáo viên đến trình bày.


[1] Theo Phụ lục kèm theo Báo cáo số 80/BC-HĐPH ngày 02/5/2012 của Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL của Chính phủ về kết quả công tác của Hội đồng phối hợp các cấp năm 2011 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2012.

[2] Theo Phụ lục kèm theo Báo cáo số 80/BC-HĐPH ngày 02/5/2012 của Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL của Chính phủ về kết quả công tác của Hội đồng phối hợp các cấp năm 2011 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2012.

[3] Theo Phụ lục kèm theo Báo cáo số 80/BC-HĐPH ngày 02/5/2012 của Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL của Chính phủ về kết quả công tác của Hội đồng phối hợp các cấp năm 2011 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2012.

[4] Biểu mẫu số 3 Tổng hợp số liệu thống kê về hoạt động PBGDPL và hòa giải ở cơ sở 6 tháng năm 2012 (từ 01/01/2011 đến 31/3/2012).

[5] Theo Phụ lục kèm theo Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết liên tịch số 01/1999/NQLT/TP-VHTT-NNPTNT- DTMN-ND ngày 07 tháng 9 năm 1999 của Bộ Tư pháp, Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban Dân tộc và Miền núi (nay là Ủy ban Dân tộc) và Trung ương Hội Nông dân Việt Nam về PBGDPL cho cán bộ, nhân dân ở nông thôn, vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số (tháng 12/2010).

[6] Phụ lục kèm theo Báo cáo số 116 /BC-BTP ngày 02 tháng 07 năm 2012 của Bộ Tư pháp tổng kết 13 năm thực hiện Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở.

Tác giả: TNH

Xem thêm

Cách cài kí hiệu đồng dạng trong Microsoft Word và ứng dụng MathType 6.9 Full Crack
Toán 9 - Các dạng toán hình học hay gặp trong đề thi vào lớp 10 môn Toán tiết 1
Bất đẳng thức côsi Phần 4
Bất đẳng thức côsi Phần 1
Bất đẳng thức côsi Phần 3