Tin tức : Tin tức - Sự kiện/

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐỔI MỚI MÔN NGỮ VĂN THCS NĂM HỌC 2015 - 2016

 

Kính gửi các thầy cô giáo môn Ngữ văn!

Theo yêu cầu nhiệm vụ năm học 2015-2016, môn Ngữ văn có một số vấn đề cần trao đổi, thảo luận. Đề nghị các thầy cô giáo nghiên cứu, tham khảo và áp dụng trong thực tiễn dạy học bộ môn. Nếu có vấn đề gì còn vướng mắc, đề nghị chuyển qua hòm thư: dthbuoi.hanam@moet.edu.vn hoặc nguvanhanam@gmail.com.

Trân trọng cảm ơn!

                                                           Phủ Lý, ngày 16/9/2015

                                                          Cán bộ phụ trách chuyên môn:

                                                              Đỗ Thị Hương Bưởi

           I. YÊU CẦU CHUNG

Tiếp tục thực hiện các yêu cầu về đổi mới phương pháp dạy học; đổi mới kiểm tra, đánh giá, dạy học phân hóa phù hợp đối tượng học sinh trên cơ sở chuẩn kiến thức, kĩ năng của Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn THCS, THPT; tạo ra sự chuyển biến căn bản về đổi mới kiểm tra, đánh giá, thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học; không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học bộ môn Ngữ văn.

            II. NHIỆM VỤ CỤ THỂ

1. Thực hiện phân phối chương trình:

- Việc thực hiện PPCT tiếp tục triển khai theo Công văn số: 5842/BGDĐT-VP ngày 01 tháng 9 năm 2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn thực hiện điều chỉnh nội dung dạy học đối với môn Ngữ văn theo hướng giảm tải và phân phối chương trình của Sở GDĐT đã ban hành từ năm học 2011 - 2012. Trên cơ sở Khung phân phối chương trình của Bộ GDĐT, phân phối chương trình (PPCT) của Sở GDĐT và điều kiện thực tế dạy học tại đơn vị, các tổ nhóm chuyên môn tiếp tục nghiên cứu xây dựng PPCT phù hợp. 

- Xây dựng các chủ đề tích hợp giữa các phân môn trong bộ môn Ngữ văn hoặc liên môn gắn với các môn học khác (áp dụng cho cả nội dung giáo dục địa phương):

+ Các tổ/nhóm chuyên môn căn cứ vào chương trình và sách giáo khoa hiện hành, lựa chọn nội dung để xây dựng các chủ đề dạy học phù hợp với việc sử dụng phương pháp dạy học tích cực trong điều kiện thực tế của nhà trường (Lưu ý: Căn cứ vào lôgic mạch kiến thức của chương trình môn học, nên xây dựng chủ đề liên môn cùng một khối lớp theo chương trình hiện hành).

+ Trên cơ sở rà soát chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ theo chương trình hiện hành và các hoạt động học dự kiến sẽ tổ chức cho học sinh theo phương pháp dạy học tích cực, xác định các năng lực và phẩm chất có thể hình thành cho học sinh trong mỗi chủ đề đã xây dựng. Thiết kế bài học, tổ chức các hoạt động dạy học chủ đề tích hợp đảm bảo tính hiệu quả, thiết thực, hợp lí, đáp ứng chuẩn kiến thức, kĩ năng môn học.

            Việc điều chỉnh, bổ sung phân phối chương trình bộ môn nhất thiết phải đảm bảo tổng số tiết dạy của mỗi học kì, cũng như của toàn năm học. Các phân phối chương trình, các chủ đề tích hợp được thống nhất chung trong tổ, nhóm chuyên môn, có sự phê duyệt của Hiệu trưởng nhà trường trước khi triển khai thực hiện và là căn cứ để kiểm tra, giám sát, nhận xét, góp ý trong quá trình thực hiện.     

            2. Thực hiện đổi mới phương pháp dạy học:

a. Quan điểm:

Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và rèn luyện phương pháp tự học của học sinh; đẩy mạnh các phương pháp thực hành, vận dụng kiến thức, kĩ năng vào giải quyết các vấn đề thực tiễn; tăng cường áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, dạy học theo dự án trong môn học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc; tập trung dạy cách học, cách nghĩ; bảo đảm cân đối giữa trang bị kiến thức, rèn luyện kĩ năng và định hướng thái độ, hành vi cho học sinh; chú ý việc tổ chức dạy học phân hoá phù hợp các đối tượng học sinh khác nhau.

b. Các nhiệm vụ cụ thể:

- Coi trọng việc thiết kế, tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động học tập với các hình thức đa dạng, phong phú, có sức hấp dẫn, phù hợp với đặc trưng bài học, với đặc điểm, trình độ học sinh, với điều kiện cụ thể của trường, lớp, địa phương…

- Cần linh hoạt vận dụng các phương pháp dạy học; xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập hợp lí; tập trung vào các vấn đề trọng tâm của bài học, tránh nặng nề, quá tải, nhất là đối với những bài dài và khó; chú trọng bồi dưỡng năng lực độc lập suy nghĩ cho học sinh, giúp học sinh biết vận dụng sáng tạo kiến thức đã học vào thực tế. Cần chú ý tổ chức cho học sinh được trao đổi, thảo luận dưới nhiều hình thức nhằm tích cực hóa vai trò chủ thể sáng tạo của học sinh; chú trọng rèn kĩ năng thực hành, vận dụng, kĩ năng trình bày vấn đề, kĩ năng giải quyết các dạng đề bài cho học sinh.

- Tổ chức dạy học phân hóa theo năng lực của học sinh dựa trên chuẩn kiến thức, kĩ năng môn học. Đối với học sinh yếu kém, cần hướng dẫn học sinh nắm chắc các đơn vị kiến thức cơ bản, cốt lõi nhất của từng bài học; nắm chắc những kĩ năng cơ bản nhất để đọc hiểu và viết bài ở từng dạng câu hỏi, kiểu bài. Ở những học sinh có năng lực khá, giỏi, cần có sự định hướng, mở rộng, nâng cao phù hợp.

- Thực hiện lồng ghép, tích hợp giáo dục đạo đức, giáo dục kĩ năng sống - giá trị sống, liên hệ thực tế... thông qua bài dạy. Nguyên tắc tích hợp: đảm bảo phù hợp với nội dung bài học, phù hợp với đặc điểm, điều kiện cụ thể của đơn vị và đối tượng học sinh. Việc tích hợp làm cho bài học sinh động, gắn với thực tế hơn và không làm quá tải nội dung bài học.

- Sử dụng hợp lý công nghệ thông tin trong các bài học, tránh hình thức và tình trạng lạm dụng; đảm bảo hiệu quả sử dụng của các phương tiện dạy học, khuyến khích sử dụng đồ dùng dạy học tự làm (các bộ tư liệu, tranh ảnh, video minh họa...)

- Đổi mới hình thức tổ chức dạy học:

+ Đa dạng hóa các hoạt động học của học sinh thông qua các hình thức: hoạt động cá nhân, hoạt động cặp đôi, hoạt động nhóm, hoạt động chung cả lớp, hoạt động với cộng đồng… Các hình thức này được thay đổi thường xuyên căn cứ vào yêu cầu của nội dung bài học và thiết kế hoạt động của giáo viên. Đối với tổ chức hoạt động nhóm, để tránh tính hình thức, trong khi thảo luận nhóm cần phân rõ vai trò của cá nhân, nhóm trưởng, giáo viên (Cá nhân: tự đọc, suy nghĩ, giải quyết nhiệm vụ, có thể trao đổi và hỗ trợ các thành viên trong nhóm về những khó khăn; Nhóm trưởng: thực hiện nhiệm vụ cá nhân như những thành viên khác, bao quát và phân công nhiệm vụ các thành viên trong nhóm, thay mặt nhóm để liên hệ với giáo viên và xin trợ giúp, báo cáo tiến trình học tập nhóm, điều hành chốt kiến thức trong nhóm…; Thư kí của nhóm: thực hiện nhiệm vụ cá nhân như các thành viên khác, là người ghi chép hoặc vẽ lại các nội dung trao đổi hoặc kết quả công việc của nhóm, trao đổi với các nhóm khác hoặc chia sẻ trước cả lớp… Giáo viên: tổ chức điều hành hoạt động nhóm, chọn luân phiên các nhóm trưởng, thư kí nhóm, xác định và phân công nhiệm vụ cho các nhóm một cách cụ thể rõ ràng, quan sát và hỗ trợ kịp thời cho các nhóm, vừa hướng dẫn học tập cho một nhóm vừa kết hợp quan sát, đánh giá và thúc đẩy các nhóm khác làm việc, định hướng kiến thức cần đạt trong mỗi hoạt động thảo luận…).

+ Ngoài việc tổ chức cho học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập ở trên lớp, cần coi trọng giao nhiệm vụ và hướng dẫn học sinh học tập ở nhà, ở ngoài nhà trường. Mỗi tiết học trên lớp có thể chỉ thực hiện một số hoạt động trong tiến trình sư phạm (chủ yếu là hoạt động hình thành kiến thức) các hoạt động khác (hoạt động luyện tập, vận dụng, và tìm tòi mở rộng) thực hiện một phần trên lớp, phần nhiệm vụ còn lại cần hướng dẫn học sinh thực hiện ở nhà và ở ngoài nhà trường, có sự kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện của học sinh.

+ Thực hiện tốt việc sử dụng di sản văn hóa trong dạy học môn Ngữ văn; tổ chức các hoạt động ngoại khóa văn học phù hợp với nội dung chương trình, đối tượng và điều kiện thực tế của đơn vị thông qua nhiều hình thức (VD: tổ chức các diễn đàn, câu lạc bộ văn học; tổ chức thăm nhà tưởng niệm Nam Cao, từ đường Nguyễn Khuyến, xem các bộ phim chuyển thể từ tác phẩm văn học...). Sau mỗi hoạt động ngoại khóa cần yêu cầu học sinh viết bài thu hoạch để đưa vào nội dung đánh giá.

3. Tổ chức kiểm tra, đánh giá:

- Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh môn Ngữ văn theo đúng quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tổ chức đủ số lần và đảm bảo chất lượng các bài kiểm tra, đánh giá thường xuyên, định kì; đảm bảo chính xác, khách quan, công bằng; không hình thức, đối phó nhưng cũng không gây áp lực nặng nề và có khả năng phân hóa cao. Nội dung kiểm tra, đánh giá phải căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn học của từng khối lớp. Khi chấm bài kiểm tra phải có phần nhận xét, hướng dẫn, sửa sai, động viên sự cố gắng, tiến bộ của học sinh. Phần nhận xét của giáo viên phải đảm bảo tính sư phạm. Qua kiểm tra đánh giá, giáo viên cần rút kinh nghiệm để phát hiện những sai sót, những điểm chưa phù hợp trong quá trình giảng dạy và đánh giá, từ đó điều chỉnh cách dạy, cách kiểm tra, đánh giá phù hợp với đối tượng học sinh.

- Chú trọng đánh giá thường xuyên đối với tất cả học sinh: đánh giá qua các hoạt động trên lớp; đánh giá qua hồ sơ học tập, vở học tập; đánh giá qua việc học sinh báo cáo kết quả thực hiện một dự án học tập, nghiên cứu khoa học, báo cáo kết quả thực hành; đánh giá qua bài thuyết trình (bài viết thu hoạch, bài trình chiếu, video clip,…) về kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập. Giáo viên có thể sử dụng các hình thức đánh giá nói trên thay cho các bài kiểm tra hiện hành.

- Thực hiện nghiêm túc việc xây dựng đề thi, kiểm tra theo ma trận. Đề kiểm tra bao gồm các câu hỏi, bài tập (tự luận hoặc/và trắc nghiệm) theo 4 mức độ yêu cầu: Nhận biết: nhắc lại hoặc mô tả đúng kiến thức, kĩ năng đã học; Thông hiểu: diễn đạt đúng kiến thức hoặc mô tả đúng kĩ năng đã học bằng ngôn ngữ theo cách của riêng mình, có thể thêm các hoạt động phân tích, giải thích, so sánh, áp dụng trực tiếp (làm theo mẫu) kiến thức, kĩ năng đã biết để giải quyết các tình huống, vấn đề trong học tập; Vận dụng: kết nối và sắp xếp lại các kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết thành công tình huống, vấn đề tương tự tình huống, vấn đề đã học; Vận dụng cao: vận dụng được các kiến thức, kĩ năng để giải quyết các tình huống, vấn đề mới, không giống với những tình huống, vấn đề đã được hướng dẫn; đưa ra những phản hồi hợp lí trước một tình huống, vấn đề mới trong học tập hoặc trong cuộc sống. Căn cứ vào mức độ phát triển năng lực của học sinh ở từng học kỳ và từng khối lớp, giáo viên và nhà trường xác định tỉ lệ các câu hỏi, bài tập theo 4 mức độ yêu cầu trong các bài kiểm tra trên nguyên tắc đảm bảo sự phù hợp với đối tượng học sinh và tăng dần tỉ lệ các câu hỏi, bài tập ở mức độ yêu cầu vận dụng, vận dụng cao.

- Tiếp tục nâng cao yêu cầu vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tăng cường ra các câu hỏi mở, gắn với thời sự quê hương, đất nước đối với các đề bài nghị luận xã hội để học sinh được bày tỏ chính kiến của mình về các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội. Khi ra đề mở phải xây dựng đáp án, hướng dẫn chấm mở.

- Việc đổi mới kiểm tra chất lượng học tập môn Ngữ văn từ năm học 2015-2016 tiếp tục thực hiện theo hướng đánh giá năng lực học sinh (bao gồm cả đề kiểm tra thường xuyên, định kỳ, đề thi học sinh giỏi). Cụ thể tập trung đánh giá hai kĩ năng quan trọng: kĩ năng đọc hiểu văn bản và kĩ năng viết văn bản. Đề bài gồm hai phần: đọc hiểulàm văn, trong đó tỷ lệ điểm phần làm văn nhiều hơn phần đọc hiểu.

Để làm tốt phần đọc hiểu, giáo viên cần giúp học sinh nắm được thế nào là hiểu một văn bản; các yêu cầu và hình thức kiểm tra cụ thể về đọc hiểu; lựa chọn những văn bản phù hợp với trình độ nhận thức và năng lực của học sinh để làm ngữ liệu hướng dẫn đọc hiểu; xây dựng các loại câu hỏi và hướng dẫn chấm một cách phù hợp với mục đích và đối tượng học sinh. Văn bản sử dụng trong phần đọc hiểu có thể sử dụng trong hoặc ngoài chương trình và sách giáo khoa hiện hành; đối với những văn bản không có trong chương trình và sách giáo khoa hiện hành phải đảm bảo có sự thống nhất về kiểu, thể loại văn bản có trong chương trình, đảm bảo tính giáo dục và phù hợp đối tượng. Trong năm học 2015-2016, các đề thi đối với cấp THCS chưa sử dụng văn bản ngoài chương trình và sách giáo khoa hiện hành trong phần đọc hiểu.

Các câu hỏi phần đọc hiểu có thể tập trung vào một số khía cạnh như:

+ Nội dung chính và các thông tin quan trọng của văn bản, ý nghĩa văn bản, tên văn bản.

+ Những hiểu biết về từ ngữ, cú pháp, dấu câu, cấu trúc, thể loại văn bản…

+ Một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản và tác dụng của chúng.

Để làm tốt phần viết, giáo viên cần hướng dẫn học sinh biết vận dụng những kĩ năng viết đã học để tạo lập văn bản về một đề tài xã hội hoặc/và tác phẩm, trích đoạn văn học theo hướng mở và tích hợp trong môn và liên môn, tập trung vào một số khía cạnh như:

+ Biết phân tích đề, nhận thức đúng nhiệm vụ và yêu cầu của đề văn.

+ Tri thức về văn bản viết: kiểu loại văn bản, cấu trúc văn bản.

+ Các kĩ năng viết: chính tả, từ ngữ, ngữ pháp; lập dàn ý và phát triển ý; biết cách lập luận để thể hiện quan điểm, tư duy một cách độc lập…

+ Khả năng viết các loại văn bản phù hợp với mục đích, đối tượng, hoàn cảnh của các tình huống khác nhau (vận dụng vào thực tiễn học tập và đời sống).

Lưu ý: các nội dung kiến thức đưa vào đề bài kiểm tra, đánh giá phải phù hợp chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình khối/cấp học, đối tượng học sinh và mục đích kiểm tra, đánh giá.

4. Thực hiện sinh hoạt chuyên môn (SHCM):

- Đổi mới nội dung và hình thức sinh hoạt tổ nhóm chuyên môn theo hướng Nghiên cứu bài học; giảm bớt các nội dung hành chính, tập trung xây dựng các chuyên đề sinh hoạt thiết thực (phương pháp giảng dạy các bài học khó, các nhóm bài theo kiểu, loại văn bản, phân môn; biên soạn đề kiểm tra theo ma trận đề của các chủ đề, học kỳ, cuối năm đảm bảo các yêu cầu như các văn bản quy định...), trao đổi, thảo luận thống nhất thiết kế bài học, tổ chức dạy học minh họa, dự giờ, rút kinh nghiệm. Lưu ý: tiết dạy minh họa là sản phẩm chung của cả tổ/nhóm chuyên môn, vì vậy không tổ chức đánh giá năng lực giáo viên dạy minh họa; những thành công, hạn chế của giờ dạy minh họa sẽ được học tập, rút kinh nghiệm chung cho giáo viên trong tổ/nhóm chuyên môn.

- Đối với các trường THPT; ngay từ đầu năm học, các tổ/nhóm chuyên môn cần ưu tiên đưa chủ đề Đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp ôn tập để nâng cao chất lượng môn Ngữ văn lớp 12 đáp ứng yêu cầu của Kỳ thi THPT quốc gia vào kế hoạch SHCM của năm học. Cần khai thác hiệu quả và bổ sung đề cương ôn tập, các đề thi minh họa đã được Sở GDĐT chuyển về các đơn vị từ năm học 2014-2015 trong quá trình dạy học đối với học sinh lớp 12.

- Sản phẩm sinh hoạt chuyên môn được nộp theo tài khoản trường học kết nối và qua email: nguvanhanam@gmail.com; đảm bảo 02 chuyên đề/tổ nhóm chuyên môn/học kỳ.

5. Tổ chức hội thảo Nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn 9 đối với cấp THCS:

Các phòng GDĐT chủ động lên kế hoạch triển khai Hội thảo cấp trường và cấp huyện đối với các trường trung học cơ sở:

- Thời gian: từ tháng 12/2015 đến tháng 3/2016.

- Nội dung: tập trung vào các giải pháp nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn 9.

- Yêu cầu về tham luận: mỗi bài tham luận gồm 02 phần: kinh nghiệm, phương pháp dạy học, ôn tập và phần đề cương ôn tập theo từng phân môn, theo từng nhóm tác phẩm...

- Kế hoạch hội thảo được gửi về Sở (qua phòng GDTrH, người  nhận: bà Đỗ Thị Hương Bưởi) trước ngày 30/10/2015.

 

ĐỖ THỊ HƯƠNG BƯỞI

Xem thêm...

Thăm dò ý kiến

Bạn biết cổng thông tin Demo qua đâu?

Qua báo đài
Qua bạn bè
Qua Internet
Khác

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang online: 4

Hôm nay: 192

Tổng lượng truy cập: 172790