Tin tức/(Trường THCS Đồng Lý)/Hoạt động chuyên môn/Bài hội thảo tổ KHTN/
“Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đại trà thông qua tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh trong một tiết học sinh học” thể nghiệm minh họa qua tiết 26 bài 22: Đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

1Cơ sở lí luận.

Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khoá VII ( 1 – 1993 ), Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII ( 12 – 1996 ), được thể chế hoá  trong Luật Giáo dục (2005), được cụ thể chế hoá  trong các Chỉ thị của Bộ Giáo dục và đào tạo, đặc biệt Chỉ thị số 14 ( 4 – 1999). Luật Giáo dục, điều 28.2, đã ghi “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.

Phương pháp tổ chức hoạt động cho học sinh trong một tiết học là một phương pháp dạy học hiện đại có kế thừa phương pháp dạy học nêu vấn đề và phương pháp dạy học tích cực, lấy học sinh làm trung tâm, tác dụng của hình thức này là ở chỗ: Dạy cho học sinh cách khám phá kiến thức, cụ thể là rèn luyện cho học sinh cách thức phát hiện tiếp cận và giải quyết vấn đề một cách khoa học nhất. Đồng thời góp phần bồi dưỡng cho học sinh những đức tính cần thiết của người lao động như tính chủ động tích cực, tính kiên trì, tỉ mỉ, tính kế hoạch và thói quen tự kiểm tra. Vì vậy hình thức dạy học này phù hợp với xu thế của thời đại

2. Cơ sở thực tiễn.

Để góp phần thực hiện mục tiêu “ Đào tạo học sinh thành những con người năng động độc lập và sáng tạo”. Được sự chỉ đạo thường xuyên, sâu sát của các cấp ngành xuống tới từng trường lớp, đã dấy lên phong trào thi đua đổi mới phương pháp dạy học rất hào hứng và sôi nổi trong tất cả các môn học. Bộ môn sinh học cũng như các bộ môn khác ở trường THCS đã và đang từng bước đổi mới phương pháp dạy học.

Từ ý nghĩ trên tôi mạnh dạn đưa ra: “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đại trà thông qua tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh  trong một tiết học sinh học” thể nghiệm minh họa qua tiết 26 bài 22: Đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể.

II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu:

- Đây là bài kiến thức trừu tượng, học sinh khó hình dung nên việc nghiên cứu của học sinh đều rất lúng túng.

- Tích cực hóa vấn đề: Phải tìm ra cách thức dạy và cách thức học cho phù hợp với yêu cầu của chương trình.

- Hiện trạng hiện nay ở cơ sở: Các tiết dạy còn nhiều loại bài vẫn dạy theo phương pháp cũ.

- Kết luận: Từ thực trạng đó dẫn đến việc phải nghiên cứu để tìm ra phương pháp dạy phù hợp với từng bài cụ thể.

2. Giải pháp:

Tổ chức hoạt động cho học sinh trong một tiết học sinh học như thế nào?

Để dạy học tích cực hóa người học, giáo viên phải chia học sinh thành nhiều tổ, nhóm và chuẩn bị sẵn các câu hỏi, phương tiện để học sinh tự thực hành, thí nghiệm (dưới sự trợ giúp của giáo viên ) sau đó từng nhóm trình bày kết quả thảo luận của nhóm mình trước lớp. Chính lúc trình bày kết quả này cũng là một hình thức tích cực hóa người học tập, vì lúc này cũng xuất hiện sự tranh luận, đánh giá kết quả của nhau rồi cũng đi đến kết luận chung dưới sự dẫn dắt của giáo viên.

Như vậy phương pháp tổ chức hoạt động trong một tiết dạy đòi hỏi người giáo viên phải tổ chức lớp hợp lí, phải chuẩn bị tốt các câu hỏi, phương tiện, dự kiến các tình huống sư phạm xảy ra và cách giải quyết.

* Quy trình tổ chức dạy học theo nhóm

 Quy trình tổ chức giờ học theo nhóm bao gồm 4 bước cơ bản:

Điểm xuất phát

Giáo viên

Học sinh

Đối tượng học tập

Bước 1:

Hướng dẫn

Tự nghiên cứu

Kinh nghiệm cá nhân

Bước 2:

Tổ chức

HS                HS

(hợp tác, thảo luận)

Kinh nghiệm cá nhân

Bước 3:

Tổ chức

Nhóm            nhóm

(hợp tác, thảo luận)

Nội dung học tập

Bước 4:

Trọng tài, cố vấn

Tự điều chỉnh kiến thức thu nhận được

Tri thức cá nhân

  3. Biện pháp tổ chức dạy học theo nhóm

a. Thành phần nhóm

- Tuỳ thuộc vào mục đích sư phạm và yêu cầu của vấn đề học tập mà ta có nhiều cách chia nhóm. Thông thường để đảm bảo học sinh cùng làm việc nên xếp mỗi nhóm từ 2 đến 8 học sinh (Các nhóm này có thể lựa chọn theo bàn, theo dãy, số thứ tự, ngẫu nhiên, theo ý thích, bạn giúp bạn …). Các nhóm được duy trì ổn định trong cả tiết học hoặc thay đổi theo từng hoạt động, từng phần của tiết học. Khi thành lập nhóm học tập tại lớp, cần lưu ý:

          + Nhịp điệu làm việc của các thành viên trong nhóm.

          + Trình độ học lực của các cá nhân trong nhóm. 

          + Mối quan hệ giữa học sinh với nhau.

- Xây dựng đồng đội là việc làm cần thiết để giúp vượt qua những vấn đề khác nhau gắn liền với việc cùng làm việc. Do đó, giáo viên phải dạy cho học sinh các kỹ năng xây dựng đồng đội bao gồm:

          + Khả năng hiểu được nhu cầu của người khác và biết nhận lượt mình.

          + Khả năng biểu đạt được một quan điểm.

          + Khả năng nghe quan điểm của người khác.

          + Khả năng đáp lại, đặt câu hỏi, thảo luận, tranh luận và lập luận.

          - Để học sinh có được những kỹ năng trên, giáo viên cần cho học sinh nhận thức được mục đích của việc học tập hay làm việc theo nhóm là: Hợp tác và giúp nhau, nghe lẫn nhau, cùng suy nghĩ.

b. Ra quy tắc cho nhóm

Hướng dẫn cho học sinh ngay từ những lần đầu tiên làm việc theo nhóm theo các hình thức  đến khi quen việc, các em phải cùng nhau hợp sức để hoàn thành nhiệm vụ được giao.

- Đôi khi học sinh làm việc cùng nhau trong nhóm có những hành vi cản trở bao gồm thái độ định kiến, cạnh tranh, bác bỏ người khác và xa lánh mọi người vì  vậy GV cùng HS đưa ra những quy tắc nhóm để giúp nhóm làm việc tốt:

          + Các thành viên trong nhóm đều có lượt được nói, cần tạo điều kiện để HS phát biểu hết các loại ý kiến khác nhau, đặc biệt ưu tiên các HS yếu kém phát biểu trước. Phải có sự phân công, các thành viên trong nhóm đều có nhiệm vụ, trách nhiệm giải quyết các vấn đề học tập của nhóm.

          + Hãy ủng hộ và giúp nhau bổ sung chi tiết

          + Không cười nhạo điều ai đó đã nói

          + Hãy suy nghĩ trước khi đặt câu hỏi...

          - Ghép đúng học sinh vào nhóm và giao việc phù hợp cho từng nhóm.  “Thành công trong hoạt động nhóm có nghĩa là đã ghép đúng được HS vào với nhau, giao việc đúng cho nhóm.”

          - Các thành viên trong nhóm phải giải đáp các vấn đề học tập cho nhau trước khi trao đổi với giáo viên.

c. Giao việc cho nhóm

- Giao việc cho nhóm nhiệm vụ thật cụ thể để thực hiện bằng lời, bằng phiếu học tập giao việc, bằng viết trên bảng ... Nếu các thành viên trong nhóm phải giải quyết những vấn đề khác nhau thì giáo viên cần định rõ nhiệm vụ cho từng thành viên từ đầu. GV chỉ đóng vai trò là người hỗ trợ, giúp đỡ cho hoạt động các nhóm và đánh giá, khen thưởng sự nỗ lực của tập thể nhóm.

- Cần chú ý trình độ và năng lực của các thành viên trong mỗi nhóm

             Điều khiển thảo luận

            Thảo luận có thể dùng như một thuật ngữ chung chỉ một loạt tình huống thông thường trong đó diễn ra cuộc trao đổi giữa mọi người đồng thời đó cũng là một dạng tương tác nhóm đặc biệt trong đó các thành viên cùng giải quyết một vấn đề cùng quan tâm, trao đổi các quan điểm khác nhau nhằm đạt tới một sự hiểu biết chung về vấn đề đó.

          Thảo luận là một hình thức không thể thiếu được trong tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học. Hình thức thảo luận có tác dụng phát huy cao độ tính tích cực, tính độc lập của cá nhân kết hợp với sự giúp đỡ, sự hợp tác với nhau để cùng giải quyết vấn đề đặt ra, giúp học sinh trình bày và bảo vệ ý kiến của mình trước một số đông người.

                       Bắt đầu thảo luận

          - GV trình bày kế hoạch chuẩn bị thảo luận cũng như giao nhiệm vụ cho cả lớp, cho từng nhóm hoặc từng người chuẩn bị để báo cáo (GV thông báo cho HS cách tổ chức nhóm theo từng giai đoạn). GV có thể bắt đầu phần thảo luận bằng việc trình bày trực quan, chiếu phim...hoặc tạo ra sự bất đồng ý kiến để kích thích thảo luận. Phương pháp phổ biến nhất là bắt đầu thảo luận bằng đặt câu hỏi.

          - HS có thể được thông báo trước các vấn đề thảo luận để chuẩn bị hoặc chuẩn bị trong một thời gian ngắn tùy theo nội dung và khối lượng vấn đề thảo luận.

             Tiến hành thảo luận

          - Mở đầu, người điều khiển thảo luận (GV hoặc HS được chỉ định) trình bày ngắn gọn mục đích, yêu cầu và nội dung vấn đề thảo luận (nội dung thể hiện trong các phiếu học tập giao việc, bằng lời nói...)

                   - Đôi khi để có sự thay đổi trong tổ chức học tập, thông thường các nhóm sau khi thảo luận để giải quyết các vấn đề trong Phiếu học tập giao việc sẽ có đại diện các nhóm lên trình bày  kết quả thảo luận của nhóm, ta có thể cho các nhóm sau khi thảo luận không báo cáo kết quả, mà đưa ra các vấn đề mà nhóm chưa giải quyết được  để các nhóm khác giải quyết hoặc GV giúp giải quyết (GV với tư cách là người tham gia). Sau đó trên tinh thần các vấn đề học tập đã được giải quyết, GV gọi bất kỳ HS trình bày các vấn đề học tập còn lại.

          - Khi những người phát biểu tranh luận những vấn đề vụn vặt, không trọng tâm hoặc trình bày những vấn đề xuôi chiều, GV có thể hướng sự thảo luận lại và nêu lên những vấn đề mâu thuẫn với ý kiến chung của những người tham gia thảo luận. Ngoài ra, GV phải nhận xét thêm về tinh thần, thái độ chuẩn bị của cả lớp, của các cá nhân đặc biệt sau đó đánh giá cho điểm.

          d. Đánh giá hoạt động nhóm

          Đánh giá quá trình và kết quả hoạt động nhóm là việc quan trọng, GV cần theo dõi hành vi hợp tác của các nhóm.

          - Quan sát HS làm việc trong các nhóm.

          - Đánh giá sự tiến bộ của nhóm trên cơ sở thu thập những thông tin về sự tiến bộ của mỗi thành viên trong nhóm, qua kết quả báo cáo của nhóm, kết quả học tập chung của cả nhóm.

   Sau khi đánh giá, cần đưa ra những phản hồi nhanh chóng, tích cực với học sinh và nhận thức được những khó khăn cản trở việc học tập nhóm, dựa vào các biểu hiện: không chú ý, có ý chống đối hoặc các câu hỏi chệch hướng .... Cuối cùng, cho điểm thưởng hoặc điểm phạt các cá nhân, các nhóm có biểu hiện tốt hay không tốt.

4. Các hình thức tổ chức dạy học theo nhóm

          a. Làm việc theo cặp 2 học sinh

            Đây là hình thức học sinh trao đổi với bạn ngồi kế bên để giải quyết tình huống do giáo viên nêu ra, trong quá trình giải quyết các tình huống, học sinh sẽ thu nhận kiến thức một cách tích cực. Nhóm này thường được sử dụng khi giao cho HS chấm bài, sửa bài cho nhau (qua phiếu học tập, qua các bài tập lựa chọn trong sách giáo khoa...).Ưu điểm của hình thức tổ chức này là không mất thời gian tổ chức, không xáo trộn chỗ ngồi mà vẫn huy động được HS làm việc cùng nhau.

 

 

 
 

Mô hình nhóm 2 học sinh

 

 

 

          b. Làm việc theo nhóm 4-5 học sinh hoặc 7-8 học sinh 

            Giáo viên chia lớp thành nhiều nhóm và thảo luận các bài tập, câu hỏi tình huống do giáo viên nêu ra.

          Có 2 loại hình bài tập: Bài tập cho hoạt động trao đổi và bài tập cho hoạt động so sánh. Trong hoạt động trao đổi, mỗi nhóm giải quyết 1 vấn đề khác nhau (nhưng cùng 1 chủ đề), sau đó trao đổi vấn đề và giải quyết vấn đề của nhóm mình đối với nhóm khác. Trong hoạt động so sánh, tất cả các nhóm cùng giải quyết một vấn đề, sau đó so sánh cách giải quyết khác nhau giữa các nhóm. Hoạt động trao đổi thường được sử dụng cho những bài học có nhiều vấn đề cần phải giải quyết trong một thời gian ngắn. Hoạt động so sánh thường dùng cho những bài học có dung lượng không lớn.

 

 
 

 

 

 

 

                                               Mô hình nhóm 4-5 học sinh

 

          c. Nhóm chuyên gia hay nhóm chuyên sâu

            Ở đây, tổ chức các nhóm có tính luân chuyển. Trước hết, giáo viên chia lớp thành nhiều nhóm (nhóm xuất phát hay nhóm gốc). Nhóm gốc gồm những học sinh có trách nhiệm cùng nhau tìm hiểu về những thông tin đầy đủ, trong đó mỗi học sinh được phân công tìm hiểu một phần của các thông tin đó. Sau đó lập nhóm chuyên sâu (nhóm chuyên gia). Nhóm chuyên gia tập hợp những học sinh ở trong những nhóm xuất phát khác nhau có cùng chung một nhiệm vụ tìm hiểu sâu một phần thông tin.

                               

 

 

                Nhóm chuyên sâu                                        Nhóm chuyên sâu

 

 
 

 

 

 

                                                                 

 

                        Nhóm xuất phát

 

                       

                        Nhóm chuyên sâu                       Nhóm chuyên sâu

            Ưu điểm của nhóm chuyên gia là việc báo cáo công việc của các nhóm sẽ do tất cả các thành viên của nhóm đảm nhận chứ không phải chỉ do một học sinh khá giỏi đảm nhận. Mỗi học sinh sẽ nắm một mảng thông tin để lắp ghép thành một thông tin hoàn chỉnh và sẽ không có một học sinh nào đứng ngoài hoạt động của lớp học.

          d. Nhóm kim tự tháp

            Đây là cách tổng hợp ý kiến tập thể của lớp học về một vấn đề của bài học. Đầu tiên giáo viên nêu một vấn đề cho các học sinh làm việc độc lập. Sau đó ghép 2 học sinh thành một cặp để các học sinh chia sẻ ý kiến của mình. Kế đến các cặp sẽ tập hợp thành nhóm 8, nhóm 16…Cuối cùng cả lớp sẽ có 1 bảng tổng kết các ý kiến hoặc một giải pháp tốt nhất để giải quyết một vấn đề. Như vậy, bất kỳ ý kiến cá nhân nào cũng đều dựa trên ý kiến của số đông.

          Hình thức học tập này thể hiện tính dân chủ và dựa trên nguyên tắc tương hỗ, mô hình này phù hợp với các giờ ôn tập khi học sinh phải nhớ lại các định nghĩa, khái niệm, công thức… đã học trong một chương

 

 

 

 

 

 
 

 

 

 

     

 

 

Mô hình nhóm kim tự tháp

         

Minh họa qua bài dạy:

Tiết 26 - Bài 22: Đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể

 

I. Mục tiêu

1. Kiến thức

  Học xong bài này học sinh phải:

          - Trình bày được khái niệm và các dạng đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể.

          - Giải thích và nắm được nguyên nhân gây đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể.

- Nêu được vai trò của đột biến cấu trúc NST.

2. Kỹ năng

           - Rèn luyện cho học sinh các kỹ năng: Quan sát, phân tích, so sánh, hoạt động nhóm, trình bày.

3. Thái độ

      - Giáo dục ý thức: tự giác học tập, bảo vệ môi trường.

II. Chuẩn bị của giáo viên và học sinh

- GV: Tranh phóng to H22 SGK, phiếu học tập, máy vi tính, máy chiếu.

- HS: nghiên cứu trước bài mới.

III. Tiến trình

1.Ổn định tổ chức

2. Bài mới

Hoạt động 1: Khởi động

- GV chiếu hình: Các em hãy quan sát hình ảnh động sau và hãy đặt tên cho bức hình động này.

- HS:

- GV: Vậy để kiểm tra xem dự đoán của bạn có chính xác không?  Để biết được điều này cô trò ta đi tìm hiểu bài học hôm nay, Tiết 26 - Bài 22: Đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể

Hoạt động 2: Hình thành kiến thức

1 : Tìm hiểu đột biến nhiễm sắc thể

Hoạt động của giáo viên

Hoạt động của học sinh – nội dung

   Giáo viên cho học sinh quan sát h22, cá nhân đọc thông tin phân 1, thảo luận nhóm

 

   + Đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể là gì? gồm những dạng nào?

+ Mô tả các dạng đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể

 -  Giáo viên mở rộng: có thể chuyển đoạn

   Học sinh quan sát thông tin, thảo luận nhóm cử đại diện trình bày câu trả lời

   Nhóm khác bổ sung

   Yêu cầu : a.Mất đoạn H

                   b.Lặp đoạn B và C

    

              c.đảo đoạn  BCD->DCB

      Kết luận:

    Đột biến cấu trúc NST là những biến đổi trong cấu trúc nhiễm sắc thể

   Gồm có các dạng: Mất đoạn, lặp đoạn, đảo đoạn…..

 

2 :tìm hiểu nguyên nhân phát sinh và tính chất của đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể

Hoạt động của giáo viên

Hoạt động của học sinh – nội dung

 -  Yêu cầu học sinh tìm hiểu, thảo luận nhóm

+ Nguyên nhân chủ yếu gây đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể?

   Con người có thể tạo ra đột biến NST?

+ Vì sao đột biến cấu trúc NST thường gây hại cho sinh vật?

 

    + Đột biến cấu trúc NST xảy ra vào thời điểm nào của tế bào ?

 

 +  Vai trò của đột biến cấu trúc NST?

   Một số VD về đột biến cấu trúc NST?

   - Mất đoạn NST 21 ở người gây ung thư máu

   - Lặp đoạn NST ở lúa mạch tăng hoạt tính enzim

   - Chuyển đoạn ở chuối, đậu ở lúa: chuyển nhóm gen mong muốn từ loài này sang loài khác

   - Làm mất đoạn NST có gen không mong muốn ra khỏi NST ở ngô, ruồi giấm….

 - thảo luận nhóm cử đại diện trình bày câu trả lời

   Nguyên nhân: Đột biến cấu biến cấu trúc NST xảy ra do tác nhân ảnh hưởng phức tạp của môi trường bên trong và bên ngoài cơ thể tới NST, chủ yếu: tác nhân vật lý và hóa học trong ngoại cảnh phá vỡ cấu trúc NST………..

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

   Kết luận:

  - Đột biến cấu trúc NST xảy ra do ảnh hưởng phúc tạp của môi trường bên trong và bên ngoài cơ thể->NST

  - Nguyên nhân chủ yếu là do tác nhân vật lý hoá học trong ngoại cảnh đã phá vỡ cấu trúc nhiễm sắc thể hoặc gây ra sự sắp xếp lại các đoạn của chúng

 -  Đột biến cấu trúc NST thưòng gây hại vì nó làm thay đổi số lượng, cách sắp xếp các gen trên NST phá vỡ sự hài hoà trong cấu trúc gen trên NST đã được chọn lọc duy trì lâu đời

   Một số đột biến cấu trúc NST có lợi cho con người

 

Hoạt động 3: Luyên tập – vận dụng

 

Bài 1: Tìm các cụm từ thích hợp điền vào chỗ trống thay  cho các số 1,2, 3,…để hoàn chỉnh các câu sau:

- Đột biến cấu trúc NST là những biến đổi trong…(1)………..gồm các dạng mất đoạn, …………(2).  , …..(3)

- Tác nhân vật lí và hoá học trong ngoại cảnh là        … …….(4)   chủ yếu gây ……(5)….  cấu trúc NST.

Bài 2: Hãy xác định những nội dung d­ưới đây là đúng (Đ) hay sai (S) rồi điền vào ô trống.

 

STT

Nội dung

 

Đúng (Đ) /Sai (S)

1

Các dạng đột biến cấu trúc NST gồm: Mất đoạn, lặp đoạn, đảo đoạn.

 

2

Đột biến cấu trúc NST chủ yếu do các tác nhân vật lí và hoá học làm phá vỡ cấu trúc NST hoặc gây ra sự sẵp xếp lại  các đoạn của NST.

 

3

Biến đổi cấu trúc NST làm đảo lộn cách sắp xếp các gen trên  NST hoặc gây rối loạn NST.

 

4

Tuy nhiên trong thực tế ng­ười ta thấy hầu hết các đột biến cấu trúc NST là có lợi.

 

 

Hoạt động 4: Tìm tòi mở rộng

 

- Học thuộc bài trả lời các câu hỏi 1, 2, 3 SGK/ 66. Sưu tầm thêm các đột biến cấu trúc NST có hại và các đột biến cấu trúc NST có lợi cho con người và sinh vật.

- Nghiên cứu bài 24: Đột biến số l­ượng NST

 +  Tìm hiểu vai trò của thể dị bội gì?

 +  Sưu tầm tranh ảnh về thể dị bội.

 

 

 

 

 

       Tiết 27- Bài 23  : Đột biến số lượng nhiễm sắc thể

I. Mục tiêu:

1. KIến thức:

          - Học sinh nêu được các biến đổi số lượng NST. Giải thích  cơ chế hình thành thể 3 nhiễm, thể một nhiễm

- Nêu hậu quả của biến đổi số lượng ở từng NST

2. Kỹ năng: rèn kỹ năng quan sát, phát hiện kiến thức, phân tích , so sánh

II. Đồ dùng dạy học:

          Tranh h23.1,2 SGK

III. Hoạt động dạy học:

  1. ổn định:
  2. Kiểm tra:
  • Đột biến cấu trúc NST là gì? Nêu một số dạng đột biến và mô tả từng dạng đột biến đó?
  • - Những nguyên nhân nào gây ra đột biến cấu trúc NST?
  1. Bài mới:

Hoạt động 1 : Khái niệm đột biến số lượng nst-hiện tượng thể dị bội

Hoạt động của giáo viên

Hoạt động của học sinh – nội dung

-   Yêu cầu học sinh nghiên cứu SGK, thảo luận nhóm và trả lời câu hỏi:

 

+  Đột biến số lượng NST là gi?

 +  Thể dị bội là gi?   Lấy VD

   +  Đột biến trường hợp trên xảy ra ở mấy cặp NST?

 

 

 +  Có mấy dạng thể dị bội?

 

 

 

   Giáo viên: có thể có dạng dị bội kép ba nhiễm kép 2n+1­+1

   Giáo viên VD bằng sơ đồ

   Một loài có 5 cặp NST

   Bình thường loài có 5 cặp NST 2n=10

   3 nhiễm loài có 5 cặp NST 2n+1=11

   3 nhiễm kép loài có 5 cặp NST->số lượng NST = 2n+1+1

 

   Học sinh nghiên cứu SGK, thảo luận nhóm  trả lời các câu hỏi của giáo viên

   Yêu cầu nêu khái niệm như SGK

   VD: cà độc dược, lúa, cà chua:2n=24

   Bình thường trong tế bào sinh dưỡng có 12 cặp NST

   NST             2n      = 24

   Bị biến dị     2n+1  =25

                        2n-1  =23

                        2n-2  =22

                        2n+2 =26

   Học sinh rút ra kết luận

   Kết luận:

-   Đột biến số lượng NST: Là những biến đổi số lượng NST xảy ra ở một hoặc một số cặp NST nào đó hoặc ở tất cả các cặp NST

- Thể dị bội là cơ thể mà trong tế bào sinh dưỡng có một hoặc một số cặp NST bị thay đổi về số lượng

 +  Các dạng thể dị bội:

  *Thể 3 nhiễm: Là trường hợp 1 cặp NST nào đó không phải là hai NST mà có 3 NST kí hiệu (2n+1)

   *Thể 1 nhiễm là một cặp NST chỉ có một cặp NST( 2n-1)

  *Thể khuyết nhiễm: 2n-2

   *-        Đa nhiễm      : 2n+2

Hoạt động 2 : Sự phát sinh thể 3 nhiễm và thể 1 nhiễm

Hoạt động của giáo viên

Hoạt động của học sinh – nội dung

 - Giáo viên cho học sinh quan sát h23.1SGK, thảo luận nhóm và trả lời câu hỏi:

 +  Giải thích vì sao hình thành thể 3 nhiễm, thể 1 nhiễm ở NST thứ 21 ở người?

 

 -  Giáo viên: Cặp NST thứ 23 ở người bị đột biến->tóc nơ

   Học sinh tự viết hợp tử

   ->Sự khác nhau của bộ NST ở người bệnh đao và tốc nơ

   Đao: 2n+1 = 47 NST thường

   Tôc nơ: 2n-1 =45NST giới tính

   Học sinh đọc thông tin quan sát hình vẽ nhận được thể 2 nhiễm, thể 1 nhiễm, thể 3 nhiễm

 - Giải thích: Trong quá trình phát sinh giao tử có sự phân li không bình thường của 1 cặp NST tạo giao tử 2 nhiễm và giao tử khuyết nhiễm

   - Quá trình thụ tinh

   Sự kết hợp giao tử hai nhiễm, giao tử bình thường một nhiễm->hợp tử 3 nhiễm

   Giao tử khuyết nhiễm + giao tử bình thường->1 nhiễm

   Kết luận:

   Trong quá trình phát sinh giao tử……..

   Sơ đồ:       

 

IV. Củng cố:

          Đọc kết luận cuối bài

         Trả lời câu hỏi SGK

V. Dặn dò:

          Học Cơ chế hình thành thể 2n+1 , 2n-1

   4- Kết quả thực hiện

     Sau hơn một năm thực hiện phương pháp giảng dạy trên, tôi nhận thấy học sinh thực sự có hứng thú trong giờ học, không khí giờ học thoải mái hơn. Kết quả các bài kiểm tra của học sinh tăng lên rõ rệt

     Kết quả thực hiện như sau:

Chia nhóm: Mỗi lớp chia làm 4 nhóm

Kết quả: Qua việc kiểm tra sự chuẩn bị bài ở nhà của học sinh và kết quả nắm bài sau thảo luận

Lớp

Số HS

Số HS chuẩn bị bài

Số HS tham gia thảo luận

9A

32

100%

30 = 93,75%

9B

31

100%

28 = 90,32%

 

 

        Kết quả: Năm học 2015 – 2016 áp dụng ở lớp 9A kết quả như sau.

                 Kiểm tra học kì I

               Giỏi : 6                 Khá :9            Trung bình: 14               Yếu:    3

                 Kiểm tra học kì II

               Giỏi : 8                 Khá :12          Trung bình: 11               Yếu:    1

                  Kết quả cuối năm

               Giỏi : 8                 Khá :13        Trung bình: 10               Yếu:    1

5- Baì học kinh nghiệm

    Qua thực hiện “ Tổ chức hoạt động nhóm cho HS trong một tiết học sinh học’’ tôi nhận thấy sự phân chia nhóm phải luôn tuân theo quan điểm chia đều, có nghĩa là trong một nhóm phải có đủ các trình độ học sinh, tuyệt đối tránh dồn các học sinh giỏi vào một nhóm. Điều đó sẽ dẫn đến tình trạng sẽ có nhóm không tham gia hoạt động. Sự can thiệp của giáo viên vào các công việc chuẩn bị theo nhóm cũng cần phải rất tỉ mỉ,để giúp các em thoát khỏi những vướng mắc gây ra trong lúc thảo luận. Giáo viên nên chẻ nhỏ câu hỏi, gợi mở để giúp học sinh dễ tìm hiểu

 

                                             III : Kết luận

Hiện nay việc sự dụng phương pháp dạy học tích cực đang được sự quan tâm  cổ vũ mạnh mẽ trong ngành giáo dục, nhà trường. Trong những năm dạy thay sách giáo khoa sinh học THCS, tôi đã áp dụng phương pháp dạy học tích cực qua vận dụng “ Tổ chức hoạt động cho HS trong một tiết học sinh học’’ với việc sử dụng công nghệ mới vào quá trình giảng dạy,tôi thấy ban đầu học sinh còn lúng túng, lúc đó vai trò của thầy rất vất vả. Đến nay học sinh đã quen với cách dạy học tích cực thì thầy cảm thấy nhẹ nhàng hơn, tiết dạy thoải mái hơn.

          Tuy nhiên việc tổ chức hoạt động cho học sinh trong một tiết học là một vấn đề rộng, là nội dung phong phu và đa dạng . Với điều kiện và trình độ của bản thân không thể tránh khỏi những thiếu sót. Với chút kinh nghiệm nhỏ bé này, xin được trao đổi cùng đồng nghiệp , rất mong được các đồng nghiệp nhận xét, giúp đỡ, đóng góp ý kiến bổ sung.

 

Tác giả: thcs

Văn bản mới



Lễ Khai Giảng trường THCS Đồng Lý năm học 2018 - 2019
VĂN NGHỆ CHÀO MỪNG 20/11
HỘI THI NGHI THỨC ĐỘI HUYỆN LÝ NHÂN NĂM HỌC 2015-2016
VĂN NGHỆ CỦA HỌC SINH KHUYẾT TẬT
  • Ba công khai
  • Thông báo