tin tức-sự kiện

Đề thi đè xuất HSG môn Văn 9
ĐỀ THI ĐỀ XUẤT
Kỳ thi: Học sinh giỏi lớp 9
Môn thi: Ngữ Văn Thời gian làm bài: 150 phút
Họ và tên: Trịnh Thị Nhạn Chức vụ: Tổ trưởng tổ KHXH
Đơn vị: Trường THCS Liêm Thuận
NỘI DUNG ĐỀ THI:
Câu 1 (4,0 điểm)
Một bạn học sinh đã chép hai câu thơ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du như sau:
Cỏ non xanh rợn chân trời,
Cành lê điểm trắng một vài bông hoa.
Em hãy chỉ ra những từ ngữ bạn chép chưa chính xác. Chép lại cho đúng và phân tích hiệu quả biểu đạt của những từ ngữ đó.
b. Nắng bây giờ bắt đầu len tới, đốt cháy rừng cây. Những cây thông chỉ cao quá đầu, rung tít trong nắng những ngón tay bằng bạc dưới cái nhìn bao che của những cây tử kinh thỉnh thoảng nhô cái đầu màu hoa cà lên trên màu xanh của rừng. Mây bị nắng xua, cuộn tròn lại từng cục, lăn trên các vòm lá ướt sương, rơi xuống đường cái, luồn vào cả gầm xe.
( Trích Lặng lẽ Sa Pa - Nguyễn Thành Long, Ngữ văn 9, Tập 1)
Phân tích tác dụng của các phép tu từ từ vựng trong đoạn văn trên.
Câu 2 (6,0 điểm)
Không hiểu bằng cách nào, một hạt cát lọt được vào bên trong cơ thể một con trai. Vị khách không mời mà đến đó tuy rất nhỏ, nhưng gây rất nhiều khó chịu và đau đớn cho cơ thể mềm mại của con trai. Không thể tống hạt cát ra ngoài, cuối cùng con trai quyết định đối phó bằng cách tiết ra một chất dẻo bọc quanh hạt cát.
Ngày qua ngày, con trai đã biến hạt cát gây ra những nỗi đau cho mình thành một viên ngọc trai lấp lánh tuyệt đẹp...
( Theo Lớn lên trong trái tim của mẹ - Bùi Xuân Lộc- NXB Trẻ, 2005 )
Trình bày suy nghĩ của em về bài học cuộc sống rút ra từ câu chuyện trên.
Lưu ý: Bài viết không quá 02 trang giấy thi.
Câu 3 (10 điểm)
Cảm nhận về tình yêu thiên nhiên của thi nhân qua bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải và bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh.
HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ THI ĐỀ XUẤT
Câu Nội dung Điểm
Câu 1
(4 điểm) I. Yêu cầu về kĩ năng:
- Học sinh phải có kĩ năng đọc hiểu, lĩnh hội văn bản.
- Có kĩ năng làm bài tập tiếng Việt về việc lựa chọn và sử dụng
từ ngữ.
II. Yêu cầu về kiến thức:
a.* Chỉ ra những từ bạn chép chưa chính xác và chép lại:
+ Chép sai từ tận thành từ rợn trong câu:
Cỏ non xanh rợn chân trời,
+ Chép sai cụm từ trắng điểm thành điểm trắng trong câu:
Cành lê điểm trắng một vài bông hoa.
0,25đ
+ Chép lại đúng hai câu thơ của Nguyễn Du:
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
0,25đ
*Phân tích:
Hai câu thơ của Nguyễn Du là bức tranh về mùa xuân tuyệt đẹp: bao la, khoáng đạt, tinh khôi, giàu sức sống.
0,25đ
+ Dùng từ rợn không phù hợp với miêu tả đặc điểm của cỏ non, không làm nổi bật sức sống của mùa xuân. Nguyễn Du dùng từ tận giàu sức gợi: gợi ra một không gian bao la, khoáng đạt với một biển cỏ xanh non, mênh mông đang trải ra, kéo dài tít tận chân trời. Đó là sức sống bất tận của mùa xuân.
0,5 đ
+ Đảo cụm từ điểm trắng không làm nổi bật được cái thần của bức tranh xuân, không cân xứng hài hòa giữa hai gam màu xanh và trắng. Nguyễn Du đảo từ trắng lên vị trí thứ ba của câu thơ để tạo sự cân xứng, hài hòa với từ xanh ở câu trên, để sắc trắng tinh khôi của vài bông hoa lê nổi bật trên sắc xanh vô biên của thảm cỏ, làm điểm nhấn, tạo hai gam màu êm dịu, tươi mát cho bức tranh mùa xuân. Từ điểm được dùng như một động từ, chỉ sự điểm tô, trang trí khéo của bàn tay tạo hóa, khiến cho bức tranh xuân động chứ không tĩnh tại. Lưu ý: Nếu HS chỉ phát hiện và chữa một lỗi sai chỉ cho 0,25đ. Nếu lạc sang cảm nhận vẻ đẹp hai câu thơ chỉ cho 0,5điểm.
0,75đ
b. Phân tích giá trị các phép tu từ từ vựng trong đoạn văn
-Xác định: Có 3 biện pháp tu từ
+ Biện pháp nói quá ( ngoa dụ, phóng đại): Nắng đốt cháy rừng cây
+ Biện pháp nhân hóa: Nắng…len…đốt. Những cây thông… rung tít…những ngón tay bằng bạc dưới cái nhìn bao che…nhô cái đầu màu hoa cà… Mây bị nắng xua, cuộn tròn… lăn… rơi … luồn…
+ Biện pháp ẩn dụ: Những ngón tay bằng bạc
0,5 đ
-Phân tích:
+ Biện pháp nói quá nhằm diễn tả sức lan tỏa mạnh mẽ, sự huyền ảo của nắng Sa Pa.
0,5 đ
0,5 đ
+ Biện pháp ẩn dụ và nhân hóa làm cho cảnh vật (nắng, cây, mây) hiện ra tinh nghịch, sống động, hấp dẫn.
=>Nhà văn sử dụng các biện pháp tu từ nhằm gợi ra trước mắt người đọc bức tranh thiên nhiên miền Tây Bắc Tổ quốc không hề hoang vu mà hết sức sống động, giàu chất thơ. Cảnh đẹp kì lạ khơi gợi ở người đọc khát khao được đặt chân đến vùng đất thơ mộng ấy.
0,5 đ
Câu 2
(6 điểm) * Yêu cầu về kĩ năng: Học sinh có kĩ năng làm bài nghị luận xã hội về tư tưởng, đạo lí rút ra từ một câu chuyện ngắn. Bố cục bài viết chặt chẽ, diễn đạt trong sáng, lưu loát, không mắc lỗi chính tả, lỗi dùng từ và đặt câu.
* Yêu cầu cụ thể: Trên cơ sở nắm vững cách làm bài, hiểu ý nghĩa câu chuyện, học sinh phải rút ra bài học có ý nghĩa sâu sắc được gửi gắm qua hình ảnh ngọc trai và hạt cát. Học sinh có thể diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau, song cần đảm bảo được các yêu cầu cơ bản sau:
1. Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: 0,5 đ
2. Phân tích, bàn luận vấn đề:
a/ Tìm hiểu ý nghĩa câu chuyện:
+ Hạt cát: biểu tượng cho những khó khăn và những biến cố bất thường…có thể xảy đến với con người bất kì lúc nào.
0,5 đ
+ Con trai quyết định đối phó bắng cách tiết ra một chất dẻo bọc quanh hạt cát... biến hạt cát gây ra những nỗi đau cho mình thành viên ngọc trai lấp lánh tuyệt đẹp: biểu tượng cho con người biết chấp nhận thử thách để đứng vững, biết vượt lên hoàn cảnh và tạo ra những thành quả đẹp cống hiến cho cuộc đời.
0,5 đ
=> Câu chuyện ngắn gọn nhưng trở thành bài học sâu sắc về thái độ sống tích cực. Phải có ý chí và bản lĩnh, mạnh dạn đối mặt với khó khăn gian khổ, học cách sống đối đầu và dũng cảm, học cách vươn lên bằng nghị lực và niềm tin.
0,5 đ
b/ Suy nghĩ về ý nghĩa câu chuyện
Khẳng định câu chuyện có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc với mỗi người trong cuộc đời:
+ Những khó khăn, trở ngại vẫn thường xảy ra trong cuộc sống, luôn vượt khỏi toan tính, dự định của con người.
Vì vậy, mỗi người phải đối mặt, chấp nhận thử thách để đứng vững, phải hình thành cho mình nghị lực, niềm tin, sức mạnh để vượt qua( như con trai cũng đã cố gắng nỗ lực, không tống được hạt cát ra ngoài thì nó đối phó bằng cách tiết ra chất dẻo bọc quanh hạt cát) 0,5 đ
0,5 đ
+ Khó khăn, gian khổ cũng là điều kiện thử thách và tôi luyện ý chí, là cơ hội để mỗi người khẳng định mình. Vượt qua nó, con người sẽ trưởng thành hơn, sống có ý nghĩa hơn
- Dẫn chứng về những con người vượt lên số phận làm đẹp cho cuộc đời.) 0,5 đ
1,0đ
+ Phê phán những người có lối sống hèn nhát, chấp nhận, đầu hàng, buông xuôi, đổ lỗi cho phận…
0,5 đ
3. Khẳng định vấn đề và rút bài học cuộc sống:
+ Cuộc sống không phải lúc nào cũng bằng phẳng, cũng thuận buồm xuôi gió. Khó khăn, thử thách luôn là quy luật của cuộc sống mà con người phải đối mặt.
0,5 đ
+ Phải có ý thức sống và phấn đấu, không được đầu hàng, không được gục ngã mà can đảm đối đầu, khắc phục nó để tạo nên thành quả cho cuộc đời, để cuộc sống có ý nghĩa.
0,5 đ
Câu 3
(10điểm)
* Yêu cầu về kĩ năng: Học sinh biết cách làm bài nghị luận về một vấn đề văn học trong hai văn bản có chung đề tài. Biết vận dụng thành thạo các thao tác lập luận phân tích, so sánh, tổng hợp, bình giá và lựa chọn dẫn chứng tiêu biểu. Bố cục bài viết chặt chẽ, diễn đạt trong sáng, có cảm xúc, không mắc lỗi chính tả, lỗi dùng từ, lỗi câu.
* Yêu cầu về kiến thức:Trên cơ sở nắm vững về tác giả, hoàn cảnh ra đời, nội dung, nghệ thuật hai văn bản, học sinh có thể triển khai theo các cách khác nhau, song cần đảm bảo được những yêu cầu cơ bản sau:
1.Mở bài:
Tình yêu thiên nhiên là một trong những nội dung nổi bật của văn học Việt Nam.
Các nhà thơ Việt Nam hiện đại đã góp vào đề tài này bằng những nét riêng độc đáo. Người đọc sẽ cảm nhận tình yêu thiên nhiên tha thiết của hai thi nhân: Thanh Hải qua bài thơ: “Mùa xuân nho nhỏ”, Hữu Thỉnh qua bài thơ: “Sang thu”.
0,5 đ
0,5 đ
2. Thân bài
- Hoàn cảnh sáng tác:
Bài “Mùa xuân nho nhỏ” được Thanh Hải sáng tác tháng 11/ 1980 trước khi nhà thơ qua đời vài tháng
Bài “ Sang thu” được Hữu Thỉnh sáng tác mùa thu năm 1977
- Tình yêu thiên nhiên của thi nhân qua bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải:
Tình yêu thiên nhiên – thiên nhiên mùa xuân xứ Huế của nhà thơ thể hiện thật tinh tế.
- Nghệ thuật phối sắc thể hiện cái đẹp hài hòa của thiên nhiên: bông hoa tím biếc, dòng sông xanh.
- Biện pháp đổi trật tự cú pháp trong câu thơ :
Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
đã nhấn mạnh sự vươn lên trỗi dậy của thiên nhiên khi mùa xuân về; đã vẽ nên một sắc xuân riêng của thiên nhiên xứ Huế. Bông hoa tím biếc khiến bức tranh xuân trở nên bình dị, thân thiết.
- Hai câu thơ kế tiếp đã mở rộng không gian nghệ thuật bức tranh xuân. Tín hiệu xuân còn là tiếng hót vang trời của con chim chiền chiện:
Ơi con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời
+Thành phần gọi – đáp ơi đã nhân hóa con chim chim trở thành người bạn.
+Từ ngữ hót chi – từ ngữ địa phương tăng tính biểu cảm của câu thơ.
- Hai câu thơ 5, 6 trong khổ thơ xuất hiện bóng dáng nhân vật trữ tình trong bài thơ:
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng
+Từng giọt long lanh có nhiều cách hiểu:
giọt sương treo đầu ngọn cỏ;
giọt mưa xuân
giọt âm thanh tiếng chim
Theo mạch cảm xúc, người đọc có thể nhận ra đây là âm thanh tiếng chim. Phép tu từ ẩn dụ (chuyển đổi cảm giác) làm cho bức tranh xuân mang vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình với hành động đưa tay hứng âm thanh tiếng hót chim chiền chiện của nhà thơ – nhân vật trữ tình trong bài thơ.
* Đánh giá
Đoạn thơ đẹp như bức tranh – bức tranh có dòng sông, hoa cỏ, có chim hót, có bầu trời, sương mai, có ánh xuân, có con người.
Bức tranh có sắc xuân, tình xuân và có cả khúc nhạc xuân đã thể hiện tình yêu thiên nhiên, niềm say mê ngây ngất của nhà thơ trước vẻ đẹp của thiên nhiên đất trời mùa xuân.
0,5 đ
0,5đ
0,5đ
0,5đ
0,5đ
Tình yêu thiên nhiên của thi nhân qua bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh:
Đọc Sang thu của Hữu Thỉnh, thêm một lần ta được thưởng thức vẻ đẹp của sự cảm nhận tinh tế, những rung động của một tâm hồn nhạy cảm nghệ sĩ lúc thu sang.
- Sự độc đáo bắt đầu bằng hương ổi – hương thu:
Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về
+ Hai chữ phả vào vừa gợi ra cái bất chợt trong cảm nhận, vừa gợi ra một cách thực thể cái hương thơm của ổi, lại vừa gợi ra sự vận động nhẹ nhàng của gió.
+ Từ láy chùng chình đã nhân hóa sương gợi ra sự lay động của cây lá, vẻ tư lự của lòng người, cái man mác của không gian chớm thu.
+Thành phần biệt lập – thành phần tình thái hình như thể hiện một chút nghi hoặc, một chút bâng khuâng, có cái gì đó không thật rõ ràng của bước chân mùa thu dù tín hiệu thu sang đã rõ.
- Cảm xúc của thời điểm chuyển giao tiếp tục lan tỏa, mở ra trong cái nhìn xa hơn, rộng hơn:
Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu
+ Từ láy dềnh dàng đã nhân hóa sông dòng sông không còn chảy cuồn cuộn, gấp gáp như trong những ngày mưa lũ mùa hạ nữa mà trở nên chậm chạp, thong thả.
+ Đối lập với sự dềnh dàng của dòng sông là sự vội vã của những cánh chim bay “Chim bắt đầu vội vã”. Từ láy vội vã đã nhân hóa những cánh chim – những cánh chim đang chuẩn bị bay về phương Nam để tránh rét.
+ Sự đối lập này đã gợi lên sự vận động của sự vật trong giây phút giao mùa.
- Đẹp nhất, giàu sức biểu cảm nhất là hình ảnh thơ:
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu
+ Phép nhân hóa được sử dụng trong câu thơ tạo nên sự bất ngờ thú vị, tinh tế. Áng mây bâng khuâng là hình ảnh thực nhưng cái ranh giới mùa - sản phẩm của trí tưởng tượng nhà thơ.
+ Đám mây đang trôi trên bầu trời một nửa là hạ một nửa là thu để rồi một lúc nào đó nó bỗng ngỡ ngàng nhận ra mình đang trôi trong một bầu trời thu trọn vẹn.
* Đánh giá
Hình ảnh thơ tự nhiên, không trau chuốt mà giàu sức gợi cảm, thể thơ năm chữ vắt dòng tạo ra những liên tưởng thú vị đã thể hiện một cách đặc sắc những xúc cảm tinh tế trước bước chuyển giao của mùa; đã diễn tả cụ thể, tinh tế, nhạy cảm tình yêu thiên nhiên tha thiết của Hữu Thỉnh.
Cách cảm nhận và miêu tả của tác giả: tinh tế, nhạy cảm, sự liên tưởng độc đáo. Nhà thơ làm cho mùa thu trong thơ ca Việt Nam mang một hương sắc mới.
0,5đ
0,5đ
0,5đ
0,5 đ
Đánh giá chung:
+ Điểm chung:
- Cả hai thi nhân đều yêu thiên nhiên…
- Tình yêu thiên nhiên của hai nhà thơ đều nhẹ nhàng, tinh tế nên cảnh sắc thiên nhiên trong hai bài thơ không bị hòa lẫn vào cảnh sắc thiên nhiên của các bài thơ khác.
+ Điểm riêng:
- Mùa xuân nho nhỏ:
+ Đổi trật tự cú pháp, ẩn dụ;
+ Bức tranh thiên nhiên mùa xuân xứ Huế;
+Xúc cảm của thi nhân nghiêng về hình ảnh đầy sắc xuân đẹp đẽ của thiên nhiên, đất trời – thể hiện tình yêu tha thiết với cuộc sống.
- Sang thu:
+ Hình ảnh đặc trưng, giàu sức biểu cảm; phép nhân hóa;
+ Cảnh vườn thu, ngõ xóm của đồng bằng Bắc bộ;
+ Xúc cảm của thi nhân nghiêng về cảm nhận giây phút nhẹ nhàng – tình cảm gắn bó tha thiết với quê hương.
0,75đ
0,75đ
1,0 đ
1,0đ
3. Kết bài
- Tình yêu thiên nhiên – mùa xuân, mùa thu của hai thi nhân thật thiết tha đã bồi đắp thêm cảm xúc, tình cảm yêu mến thiên nhiên cho mỗi người đọc.
- Bài bài thơ: Mùa xuân nho nhỏ, Sang thu cùng với hai hồn thơ – Thanh Hải, Hữu Thỉnh – đã làm đẹp những trang thơ hiện đại Việt Nam.
0,5 đ
0,5 đ
*Lưu ý: Học sinh phải biết bám sát vào hai văn bản, trích thơ, phù hợp; biết phát hiện, rung động và bình những hình ảnh thơ, để làm nổi bật vấn đề nghị luận. Nếu học sinh sa vào diễn xuôi thơ chỉ cho tối đa không quá nửa số điểm.
Lưu ý chung
- Học sinh nắm vững và vận dụng linh hoạt các kĩ năng làm bài, hành văn mạch lạc, rõ ràng,giàu cảm xúc.
- Giám khảo nắm vững các yêu cầu của hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bài làm của học sinh. Khuyến khích những bài viết có chất văn, có sáng tạo.
- Chỉ cho điểm tối đa ở từng câu với các bài viết đảm bảo đầy đủ nội dung, bám sát yêu của đề bài, không sai các lỗi về hành văn, ngữ pháp, chính tả,… Linh hoạt trong việc trừ điểm đối với những lỗi học sinh mắc phải.
- Việc chi tiết điểm số của các câu, các ý phải đảm bảo không sai lệch với tổng điểm của câu..
------------ Hết -------------
Tác giả: thcsliemthuan

Xem thêm

Ngọt Ngào câu hát Trống quân Liêm Thuận
Liêm Thuận Quê tôi
Học sinh trường THCS Liêm Thuận học hát chèo
Tiếng thì thình Trống quân Liêm Thuận
Tiếng thì thình Trống quân Liêm Thuận