Tin tức : HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN/

HOÀNG SA TRONG TRÁI TIM NGƯỜI VIỆT NAM

Giới thiệu với các bạ đọc bài thi "Vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết tình huống thực tiễn" của học sinh Trần Thị Phương Thảo lớp 9A, năm học 2014 - 2015.

Vừa qua trên các phương tiện truyền thông đã đưa tin rất nhiều về sự kiện giàn khoan HD-981 của Trung Quốc đã xâm phạm vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Không những thế những tàu quân sự, tàu hải giám và các tàu cá được trang bị vũ trang của Trung Quốc đã cố tình đâm, va vào tàu cảnh sát biển của Việt Nam đang làm nhiệm vụ thực thi chủ quyền trên vùng biển Việt Nam làm nhiều chiến sĩ cảnh sát biển bị thương và nhiều tàu của ta bị hỏng. Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã cực lực phản đối và lên án những hành vi vi phạm chủ quyền của Trung Quốc. Lãnh đạo nhiều đất nước cũng như những người dân tiến bộ trên khắp thế giới đã lên án sự vi phạm chủ quyền và những hành vi vô nhân đạo phía Trung Quốc. Những cuộc biểu tình của các tầng lớp người dân Việt Nam trong nước cũng như những kiều bào ta ở hải ngoại và bạn bè quốc tế đã diễn ra để phản đối sự vi phạm nghiêm trọng chủ quyền và những hành vi vô nhân đạo của nhà cầm quyền Trung Quốc.

Ngày 2 tháng 5 năm 2014, giàn khoan được Trung Quốc đưa đến tọa độ 15°29′58″B 111°12′1″Đ, cách đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam 17 hải lý (khoảng 30 km) về phía nam, cách đảo Hải Nam 180 hải lý về phía nam, cách đảo Lý Sơn (tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam) khoảng 120 hải lý về phía đông. Việc Trung Quốc tiến hành hoạt động hạ đặt giàn khoan thăm dò dầu trái phép nói trên đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam ở Biển Đông, vi phạm luật pháp quốc tế, gây căng thẳng và phức tạp tình hình ở Biển Đông.

Với tuyên bố vô lí rằng quần đảo Tây Sa (tên gọi mà Trung Quốc đặt cho Hoàng Sa) thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Vậy sự thật thế nào? Tại sao nhà cầm quyền Trung Quốc lại bất chấp lẽ phải, bất chấp sự phản đối của Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam và cộng đồng quốc tế để tuyên bố chủ quyền trên lãnh thổ Việt Nam? Mình sẽ giúp các bạn có thêm những thông tin về vị trí địa lí chiến lược, lịch sử xác lập chủ quyền, đấu tranh của Nhà nước, nhân dân Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa cùng những luận cứ khoa học để khẳng định chủ quyền đối với quần Đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Qua đó các bạn sẽ thấy được sự hi sinh mất mát trong quá khứ cũng như hiện tại của những ngư dân Việt Nam anh hùng, những cột mốc sống ngày đêm giữa biển khơi để bảo vệ vùng biển của đất nước và cũng qua đó các bạn sẽ hiểu hơn nữa âm mưu thâm độc của những nhà cầm quyền phía Trung Quốc trong vấn đề biển đảo.

Quần đảo Hoàng Sa gồm 37 đảo, đá, bãi cạn, bãi ngầm và một số đối tượng địa lý khác thuộc huyện Hoàng Sa, thành phố Đà Nẵng. Tổng diện tích phần nổi khoảng 10 km2, đảo lớn nhất là Phú Lâm, có diện tích khoảng 1,5 km2. Khu vực quần đảo Hoàng Sa thuộc vùng biển rộng khoảng 30.000 km2, nằm ngang bờ biển các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam và một phần tỉnh Quảng Ngãi. Phạm vi quần đảo này được giới hạn bởi đảo Đá Bắc ở cực Bắc, bãi ngầm Ốc Tai Voi ở cực Nam, bãi cạn Gò Nổi ở cực Đông và đảo Tri Tôn ở cực Tây.

Quần đảo trải dài từ 15°45′ đến 17°15′ Bắc và từ 111°00′ đến 113°00′ Đông, có bốn điểm cực Bắc-Nam-Tây-Đông lần lượt tại đá Bắc, bãi Ốc Tai Voi, đảo Tri Tôn và bãi Gò Nổi. Độ dài đường bờ biển đạt 518 km. Điểm cao nhất của quần đảo là một vị trí trên đảo Đá với cao độ 14 m.

Về khoảng cách đến đất liền, quần đảo Hoàng Sa nằm gần Việt Nam hơn so với Trung Quốc. Cụ thể, khoảng cách từ đảo Tri Tôn tới đảo Lý Sơn là 123 hải lý. Nếu lấy toạ độ của cù lao Ré (tên cũ của Lý Sơn) từ bản tuyên cáo đường cơ sở của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (ngày 12 tháng 11 năm 1982) thì khoảng cách đến bờ Lý Sơn thu ngắn lại dưới 121 hải lí. Ngoài ra, khoảng cách từ đảo Tri Tôn này đến mũi Ba Làng An thuộc đất liền Việt Nam là 135 hải lí. Trong khi đó, khoảng cách từ đảo Hoàng Sa đến Lăng Thuỷ giác thuộc đảo Hải Nam của Trung Quốc là 140 hải lí. Khoảng cách từ Hoàng Sa tới đất liền lục địa Trung Quốc tối thiểu là 235 hải lí.

Các đảo tại đây được chia thành 2 cụm. Cụm Lưỡi Liềm có hình cánh cung hay lưỡi liềm, nằm ở phía Tây quần đảo, gần đất liền Việt Nam, gồm 08 đảo chính là Đá Bắc, Hoàng Sa, Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Ảnh, Quang Hòa, Bạch Quy, Tri Tôn và các bãi ngầm, mỏm đá. Cụm An Vĩnh được đặt tên theo xã An Vĩnh, huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, nằm ở phía Đông, bao gồm các đảo tương đối lớn đồng thời cũng là các đảo san hô lớn nhất Biển Đông như đảo Phú Lâm, đảo Cây, đảo Linh Côn, đảo Trung.

Quần đảo Hoàng Sa còn được biết đến với các tên gọi khác như Bãi Cát Vàng, Cồn Vàng, Đại Trường Sa, Vạn Lý Trường Sa, Parcel hay Pracel và tên quốc tế thường dùng là Paracels.

 

      

 

Bản đồ quần Đảo Hoàng Sa

Vị trí quần Đảo Hoàng Sa trên biển Đông

                                                                          

 

 

Hoàng Sa có khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, mưa nhiều, thường có sương mù và có nhiều giông bão. So với các vùng đất cùng vĩ độ trong lục địa, khí hậu tại Hoàng Sa khá điều hòa, không quá nóng về mùa hè, không quá lạnh về mùa đông. Độ ẩm thường trên 80%, lượng mưa trung bình khoảng 1.200 - 1.600 mm. Bão thường xuất hiện vào những lúc giao mùa, nhất là từ tháng 6 đến tháng 8. Gió mạnh đến hàng trăm km/giờ, làm biển động dữ dội kéo dài trong nhiều ngày.

Đây là quần đảo có vị trí chiến lược, án ngữ nhiều đường hàng hải và hàng không quốc tế quan trọng đi qua Biển Đông. Biển Đông còn là thủy đạo nối liền Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương qua Eo biển Malacca. Mọi di chuyển bằng hàng hải giữa các quốc gia thuộc vòng đai Thái Bình Dương với vùng Đông Nam Á, Ấn Độ, Tây Á, Địa Trung Hải và xuống châu Úc đều thường xuyên đi qua vùng biển này. Hoàng Sa là một quần đảo nằm trên thủy lộ đó. Ngoài ra, Biển Đông còn là nguồn cung cấp hải sản, dầu thô và khí đốt rất đáng kể. Theo Cục Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), ở Biển Đông chỉ có khoảng 11 tỉ thùng dầu và 190 nghìn tỉ feet khối khí đốt tự nhiên. Các mỏ dầu và khí đốt tại đây thường nằm trong các vùng lãnh thổ không có tranh chấp, gần bờ biển của các quốc gia xung quanh biển Đông nhưng Biển Đông đóng góp tới 10% sản lượng cá đánh bắt được trên toàn cầu tạo ra giá trị hàng tỉ USD. Việc kiểm soát Hoàng Sa là lợi thế đối với việc giành quyền kiểm soát biển Đông và các nguồn tài nguyên tại đây.

Riêng đối với Việt Nam là đất nước nằm trải trên một khu vực biển rộng lớn dọc theo bờ biển thì quần đảo Hoàng Sa cùng quần đảo Trường Sa vừa đóng vai trò như hai chốt tiền tiêu bảo vệ sườn phía Đông của Tổ quốc mà còn như là một lá chắn quan trọng bao quanh vùng biển và dải bờ biển của nước ta. Ngoài ra, hai quần đảo này còn được coi là những vị trí lý tưởng để thiết lập các căn cứ chiến lược nhằm kiểm soát các tuyến đường hàng hải quan trọng đi qua khu vực biển này.

Từ rất lâu người Việt Nam đã phát hiện ra hai quần đảo Hoàng Sa. Các triều đại phong kiến Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII đã rất có ý thức xác lập chủ quyền và thực tế đã tổ chức nhiều hoạt động khai thác tài nguyên, thực thi chủ quyền trên quần đảo này một cách hiệu quả, lâu dài.

Một trang trong cuốn Phủ Biên Tạp Lục
của Lê Quý Đôn có đoạn nói về đảo Hoàng Sa

Đời nhà Lê có quyển sách địa lý đầu tiên của người Việt Nam là cuốn Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi. Kế đến, theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, vua Lê Thánh Tông có ra lệnh cho các quan thân trấn thủ xem xét địa hình núi sông hiểm trở thuộc địa phương mình vẽ thành bản đồ giao cho Bộ Hộ để lập thành bản đồ của lãnh thổ Đại Việt. Cuốn Thiên Nam Từ Chí Lộ Đồ Thư (hay Toàn Tập An Nam Lộ) của Đỗ Bá tự Công Đạo được soạn vẽ theo lệnh Chúa Trịnh những năm niên hiệu Chính Hoà (1680-1705), căn cứ vào những chi tiết thu thập được từ thế kỷ XV. Đây là một trong những tài liệu xưa nhất của Nhà nước phong kiến Việt Nam còn tồn tại đã ghi phần chú thích bản đồ vùng phủ Quảng Ngãi, xứ Quảng Nam với nội dung: “Giữa biển có một dải cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa), dài tới 400 dặm, rộng 20 dặm. Từ cửa Đại Chiêm đến cửa Sa Kỳ mỗi lần có gió Tây Nam thì thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi dạt ở đấy; gió Đông Bắc thì thương thuyền chạy ở ngoài cũng trôi dạt ở đấy, đều cùng chết đói hết cả. Hàng hoá thì đều để nơi đó. Họ Nguyễn (Chúa Nguyễn) mỗi năm vào cuối mùa Đông đưa 18 chiếc thuyền đến đây thu hồi hàng hoá, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn”. Chi tiết lịch sử này đã chứng tỏ một cách hùng hồn các hoạt động xác lập chủ quyền của người Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa. Trong Giáp Ngọ Bình Nam Đồ, bản đồ xứ Đàng Trong do Đoan Quận Công Bùi Thế Đạt vẽ năm 1774, Bãi Cát Vàng cũng được ghi nhận là một phần của lãnh thổ Việt Nam. Những tư liệu lịch sử còn sót lại cho thấy muộn nhất là vào thế kỷ XV đến thế kỷ XVII người Việt Nam đã từng ra vào Bãi Cát Vàng.

 

Bản đồ bờ biển Việt Nam

do người Hà Lan vẽ năm 1760 có ghi chú 
quần đảo Paracel bên cạnh bờ biển xứ Đàng Trong

Bản đồ bờ biển Việt Nam

do người Hà Lan vẽ năm 1754  có 2

quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

                     

 

 

Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn (1726-1784) viết năm 1776 là tài liệu cổ mô tả chi tiết nhất về Hoàng Sa. Phủ Biên Tạp Lục gồm 6 quyển, trong đó quyển 2 có  đoạn văn nói về Hoàng Sa. Đoạn thứ hai viết: “… Các thuyền ngoại phiên bị bão làm hư hại thường ở đảo này. Trước, họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng ba nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn sáu tháng, đi bằng năm chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển ba ngày ba đêm thì đến đảo ấy. Ở đấy tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Thu hồi được hóa vật của tàu như là gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, vòng sứ, đồ chiên, cùng là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hột ốc vân rất nhiều. Đến kỳ tháng tám thì về….”. Dưới thời Tây Sơn những hoạt động của đội Hoàng Sa vẫn tiếp tục được duy trì.

Hiện còn khá nhiều tài liệu về các hoạt động của đội Hoàng Sa còn lưu trữ trong dân gian ở phường An Vĩnh, đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Với truyền thống hoạt động hàng trăm năm, dân xã An Vĩnh vốn tự lập về phương tiện tàu thuyền lại quen việc nên luôn là nòng cốt của đội Hoàng Sa dù ở dưới bất kỳ triều đại nào, họ luôn chủ động kiểm soát vùng biển truyền thống lâu đời của cha ông một cách tích cực nhất.

Nếu dưới những triều đại phong kiến Việt Nam trước thế kỷ XIX đã xác lập chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa thì vua Minh Mạng của triều Nguyễn đã thực hiện công việc có ý nghĩa to lớn trong vấn đề thực thi chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo  Hoàng Sa. Đó chính là việc lập bia, cắm mốc và tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa.

Thời nhà Nguyễn có rất nhiều tài liệu chính sử, nhiều sách ghi chép của các học giả nổi tiếng đương thời minh chứng chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa. Các tài liệu cho thấy hoạt động thực thi chủ quyền của Nhà nước phong kiến Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa đã phát triển với một trình độ cao hơn so với các triều đại trước đó và mọi chi tiết đều được minh định, lưu trữ bằng những văn bản, mộc bản chính thức của Nhà nước trong văn khố quốc gia.

Đây là một trong những bản đồ của sách “Phủ Biên Tạp Lục”mô tả tỉ mỉ tình hình địa lý, tài nguyên ở Hoàng Sa và Trường Sa cũng như công việc khai thác của Chúa Nguyễn đối với hai quần đảo này

Theo chính sử trong 2 năm liên tiếp (năm 1815 và năm 1816) vị vua đầu tiên của nhà Nguyễn (Gia Long) đã ít nhất 2 lần sai người ra Hoàng Sa thực thi chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo này. Lần đầu tiên trong chính sử của triều đình Việt Nam ghi rõ lời của một vua Minh Mạng đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa, khẳng định Hoàng Sa nằm trong vùng biển Việt Nam và sai người dựng miếu, lập bia, trồng cây để ngày sau cây cối to lớn xanh tốt, tàu thuyền dễ nhận ra tránh mắc cạn. “Năm Giáp Ngọ, Minh Mạng thứ 15 (1834) sai giám thành đội trưởng Trương Phúc Sĩ cùng thủy quân hơn 20 người đi thuyền đến đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi vẽ bản đồ”; “Năm Bính Thân, Minh Mạng thứ 17 (1836), Bộ Công tâu: “Xứ Hoàng Sa thuộc cương vực mặt biển nước ta, rất là hiểm yếu, từng sai vẽ bản đồ riêng về hình thể xa rộng, ta mới chỉ vẽ được một, rồi lại cũng chưa biết nên vẽ làm thế nào. Hàng năm, thường phái người đi xem xét cho khắp để thông thuộc đường biển. Xem từ năm nay về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, chọn phái thủy quân biền binh và giám thành đáp một chiếc thuyền ô nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Ngãi, giao cho hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định thuê 4 chiếc thuyền của dân hướng dẫn ra xứ Hoàng Sa. Không cứ là đảo nào, bãi cát nào, phàm khi thuyền đến nơi, tức thì cứ chiếu chiều dài, chiều ngang, chiều cao, chiều rộng và nước biển, bãi biển xung quanh nông hay sâu, có bãi ngầm, đá ngầm hay không, hình thế hiểm trở bình dị thế nào, phải xem xét đo đạc rõ ràng, vẽ thành bản đồ…”. Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ là bộ sách do triều thần nhà Nguyễn vâng mệnh vua ghi chép những việc làm của 6 bộ được hoàn thành trong khoảng thời gian từ năm 1843 đến 1851 cũng có chép về việc lập miếu, dựng bia, trồng cây ở Hoàng Sa và khảo sát, đo vẽ bản đồ toàn bộ khu vực. Đây là chứng cứ hùng hồn để khẳng định quần đảo Hoàng Sa đã được các vị Vua Việt Nam xác lập chủ quyền trước rất nhiều năm so với Trung Quốc.

Từ khi triều đình nhà Nguyễn ký Hòa ước Giáp Thân (1884) với Chính phủ Pháp nước ta bước vào thời kỳ mà các sử gia gọi là Thời kỳ Pháp thuộc. Thời Pháp thuộc tuy đất nước bị thực dân Pháp chiếm đóng tuy nhiên việc thực thi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa vẫn được chính phủ bảo hộ Pháp và triều đình phong kiến tiếp tục duy trì và phát huy.

Hải đăng Việt Nam trên đảo Hoàng Sa thời Pháp thuộc

Từ khi đô hộ Việt Nam hải quân Pháp vẫn thường xuyên tuần tiễu vùng biển này để giữ an ninh và cứu giúp các tàu thuyền bị đắm. Tuy nhiên các động thái ít ỏi của chính quyền thuộc địa Pháp tại Đông Dương trong giai đoạn đầu cho thấy sự quan tâm chưa đầy đủ của người Pháp tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Chính thái độ này của Pháp đã tạo điều kiện cho một vài nước gia tăng các hoạt động của họ trên vùng Biển Đông dẫn tới nguy cơ đe dọa chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam mà nước Pháp đã cam kết bảo hộ. Từ năm 1909, Trung Quốc bắt đầu đòi hỏi chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa ở một mức độ nhất định. Ngày 20-3-1921, Tỉnh trưởng Quảng Đông ký một sắc lệnh kỳ lạ sáp nhập quần đảo Hoàng Sa vào Hải Nam. Tuy hành động xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc chỉ diễn ra trên giấy tờ, nhưng Pháp cho rằng đây là hành vi nghiêm trọng. Cũng trong bức thư trên, ông LeFol cho biết, Thượng thư Bộ Binh Thân Trọng Huề của Nam Triều đã có văn thư ngày 3-3-1925 khẳng định: “Các đảo nhỏ đó (quần đảo Hoàng Sa) bao giờ cũng là sở hữu của nước An Nam, không có sự tranh cãi trong vấn đề này”.

Bên cạnh việc gìn giữ an ninh trên Biển Đông năm 1925, Viện Hải Dương Học và Nghề Cá Đông Dương cử tàu De Lanessan ra khảo sát quần đảo Hoàng Sa. Ngoài tiến sĩ Krempf, Giám đốc Viện Hải Dương Học, còn có nhiều nhà khoa học khác tham gia nghiên cứu về địa chất, về sinh vật… Các cuộc khảo sát khoa học đã đưa tới kết luận Hoàng Sa và Trường Sa là sự nhô lên của một thềm lục địa liên tục nhờ các địa tầng dưới biển kéo dài dãy Trường Sơn từ đèo Hải Vân ra Biển Đông. Nếu nước biển rút xuống khoảng 600-700m, Hoàng Sa và Trường Sa sẽ gắn với bờ biển Việt Nam thành một dải đất liền thống nhất.

 

Trụ sở hành chính của Việt Nam trên đảo

          Hoàng Sa trước năm 1945.

 

Bia chủ quyền của Việt Nam trên đảo Hoàng Sa năm 1930

 

                          

 

 

Ngày 8-3-1925, Toàn quyền Đông Dương ra tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ Pháp. Trong thư ngày 20-3-1930, Toàn quyền Đông Dương gởi cho Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp xác nhận: “Cần thừa nhận lợi ích nước Pháp có thể có trong việc nhân danh An Nam, đòi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa”. Ngày 4-12-1931 và ngày 24-4-1932, Pháp phản kháng Trung Quốc về việc chính quyền Quảng Đông lúc đó có ý định cho đấu thầu khai thác phosphat trên quần đảo Hoàng Sa. Ngày 15-6-1932, chính quyền thuộc địa Pháp ra Nghị định số 156-SC ấn định việc thiết lập một đơn vị hành chính gọi là quận Hoàng Sa tại quần đảo Hoàng Sa.

Nam Triều trong thời kỳ này tuy chỉ tồn tại trên danh nghĩa, song vẫn chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa. Ngày 29 tháng 2 năm Bảo Đại thứ 13 (30-3-1938), Hoàng đế Bảo Đại ký Dụ số 10 có nội dung: “Chiếu theo các cù lao Hoàng Sa thuộc về chủ quyền nước Nam đã từ lâu và dưới các tiên triều, … Trước chuẩn sát nhập các cù lao Hoàng Sa vào địa hạt tỉnh Thừa Thiên; về phương diện hành Chính, các cù lao ấy thuộc dưới quyền quán hiến tỉnh ấy”. Ngày 15-6-1938, Toàn quyền Đông Dương Jules Brévie ký Nghị định thành lập một đơn vị hành chánh tại quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên. Cũng trong năm 1938, một bia chủ quyền được chính quyền Pháp dựng lên mang dòng chữ: “Cộng hoà Pháp, Vương quốc An Nam, quần đảo Hoàng Sa, 1816 – đảo Pattle 1938”.

Do nhu cầu lập đầu cầu xâm chiếm Đông Nam Á, Nhật đã nhanh chóng chiếm đảo Phú Lâm (1838). Đến ngày 9-3-1945 Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương, Nhật mới bắt lính Pháp đồn trú ở quần đảo Hoàng Sa làm tù binh. Sau Chiến tranh Thế giới thứ II, Nhật rút khỏi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Suốt thời kỳ Pháp thuộc, người Pháp chưa bao giờ tuyên bố phủ nhận chủ quyền của Vương quốc An Nam ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà nước Pháp có trách nhiệm bảo hộ. Mặc dù trong giai đoạn này bắt đầu có một số nước lên tiếng đòi hỏi chủ quyền vô lý ở một số đảo, nhưng tất cả đều bị chính quyền Pháp kiên quyết phản đối. Những tư liệu lịch sử nói trên cho thấy, người Pháp cũng như người Việt trong thời điểm này chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cho đến khi thua trận rút khỏi Đông Dương, Chính phủ Pháp cũng đã bàn giao quyền quản lý vùng biển này lại cho một chính phủ tuy do Pháp dựng lên nhưng cũng là của người Việt Nam.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công và sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ngày 2-9-1945 do Chính phủ Hồ Chí Minh lãnh đạo đã chấm dứt thời kỳ Pháp thuộc và sự tồn tại của triều đình phong kiến nhà Nguyễn. Điều đó khiến cho các cơ sở pháp lý của những hiệp ước do nhà Nguyễn ký kết với Pháp trước đây không còn hiệu lực nữa. Chủ quyền toàn bộ lãnh thổ trong đó có quần đảo Hoàng Sa lẽ ra phải ngay lập tức thuộc về nhân dân Việt Nam. Song với nhiều “khúc quanh” của lịch sử, con đường tái lập và tái khẳng định chủ quyền thực sự của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa còn phải vượt qua nhiều thách thức. Mặc dù vậy, trong bất cứ tình huống nào, người Việt Nam vẫn luôn khẳng định chủ quyền của mình trên hai quần đảo này và luôn được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế.

Trong lúc Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đang bận rộn đối phó với những hành động gây hấn ngày càng leo thang của quân đội viễn chinh Pháp, ngày 29-11-1946, các chiến hạm Vĩnh Hưng và Trung Kiên tới quần đảo Hoàng Sa và đổ bộ lên đảo Phú Lâm. Chính phủ Pháp chính thức phản đối sự chiếm đóng bất hợp pháp này của Trung Hoa Dân Quốc và ngày 17-10-1947 Pháp yêu cầu quân lính của Tưởng Giới Thạch phải rút khỏi đảo, nhưng quân Tưởng đã không thực hiện theo yêu cầu. Pháp tiếp tục gửi thêm một phân đội lính trong đó có cả quân lính của Chính phủ Quốc gia Việt Nam đến trú đóng trên đảo Hoàng Sa (Pattle). Chính quyền Trung Hoa Dân Quốc phản kháng và các cuộc thương lượng được tiến hành từ ngày 25-2 đến ngày 4-7-1947 tại Paris. Cuộc đàm phán thất bại vì Trung Hoa Dân Quốc đã từ chối việc nhờ trọng tài quốc tế giải quyết vấn đề do phía Pháp đề xuất. Điều này cho thấy phía Trung Quốc ngay từ thời Tưởng Giới Thạch đã rất không muốn quốc tế hoá vấn đề Biển Đông, vì chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý của họ sẽ không thể thuyết phục được ai nếu buộc phải chứng minh trước trọng tài hay tòa án quốc tế. Ngày 1-12-1947, Bộ Nội vụ chính quyền Tưởng Giới Thạch đơn phương công bố tên Trung Quốc cho quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam là  Tây Sa và tự đặt quần đảo này thuộc về lãnh thổ Trung Quốc.

Ngày 1-10-1949, nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa được thành lập, Tưởng Giới Thạch thua chạy ra đảo Đài Loan. Tháng 4-1950, tất cả quân lính của Tưởng Giới Thạch chiếm đóng bất hợp pháp trên đảo Phú Lâm, thuộc quần đảo Hoàng Sa phải rút lui. Còn lính Pháp và lính quốc gia Việt Nam ở đảo Hoàng Sa vẫn tiếp tục đồn trú. Ngày 14-10-1950, Chính phủ Pháp chính thức chuyển giao cho Chính phủ Bảo Đại quyền quản lý quần đảo Hoàng Sa.

Tuyên bố công khai đầu tiên của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về yêu sách đối với các đảo ở Biển Đông nằm trong Tuyên bố của Bộ trưởng Ngoại giao lúc bấy giờ là Chu Ân Lai ngày 15-8-1951.

Ngày 7-9-1951, tại Hội nghị San Francisco, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần Văn Hữu của Chính phủ Quốc gia Việt Nam long trọng tuyên bố trước sự chứng kiến của 51 nước tham dự rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ lâu đời của Việt Nam. Ông Hữu nói: “Việt Nam rất hứng khởi ký nhận trước nhất cho công cuộc tạo dựng hòa bình này. Và cũng vì vậy cần phải thành thật tranh thủ tất cả mọi cơ hội để dập tắt tất cả những mầm móng tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”. Lời xác nhận chủ quyền đó của phái đoàn Việt Nam được ghi vào văn kiện của Hội nghị San Francisco (1951) với đa số tán thành và không hề có bất kỳ một phản ứng chống đối hay một yêu sách nào của tất cả các quốc gia tham dự. Việc Chính phủ Quốc gia Việt Nam trong giai đoạn này tham dự Hội nghị San Francisco dưới sự bảo trợ của Chính phủ Pháp và tuyên bố chủ quyền lâu đời với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là sự kiện có ý nghĩa quốc tế quan trọng trong chuỗi các sự kiện minh chứng cho sự xác lập chủ quyền từ rất sớm về pháp lý cũng như về sự chiếm hữu thực tế một cách hòa bình, lâu dài và liên tục đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của người Việt Nam.

Như vậy đến giữa thế kỷ XX, tuy một số đảo của Hoàng Sa bị quân đội Nhật Bản tạm thời chiếm đóng từ năm 1939 đến năm 1946 nhưng với Hòa ước San Francisco (1951), Chính phủ Nhật Bản đã chính thức tuyên bố từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với hai quần đảo này. Do đó, Việt Nam tất nhiên đã khôi phục lại được chủ quyền vốn có của mình đối với hai quần đảo đó trên cơ sở luật pháp quốc tế.

Giai đoạn 1954-1975 là giai đoạn mà lịch sử Việt Nam có nhiều biến động mang theo đó là sự biến động của Quần Đảo Hoàng Sa.

Năm 1954, Hiệp định Genève công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam trong đó có quần đảo Hoàng Sa. Quần đảo này nằm phía nam vĩ tuyến 17 nên tạm thời thuộc sự quản lý của chính quyền miền Nam trong khi chờ đợi thống nhất đất nước bằng tổng tuyển cử. Tháng 4-1956, khi quân Pháp rút khỏi miền Nam Việt Nam, quân đội của chính quyền miền Nam Việt Nam sau là Việt Nam Cộng Hòa ra tiếp quản các đảo và quần đảo trên Biển Đông trong đó có quần đảo Hoàng Sa. Kể từ 1956, về pháp lý và trên thực tế chính quyền VNCH tiếp tục có nhiều hành động khẳng định chủ quyền của người Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa.

Tháng 4-1956, khi Hải quân VNCH ra tiếp quản quần đảo Hoàng Sa thì phát hiện một số đảo phía đông trong đó lớn nhất là đảo Phú Lâm đã bị quân lính Trung Quốc bí mật chiếm đóng trái phép. Chính quyền VNCH trên thực tế chỉ kiểm soát được các đảo phía tây. Tuy nhiên, về mặt pháp lý, VNCH vẫn tiếp tục khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên các đảo mà Trung Quốc đã bí mật chiếm đóng trái phép phía đông quần đảo Hoàng Sa. Lúc này, trên đảo Hoàng Sa có nhà cửa, căn cứ quân sự, đài khí tượng, hải đăng trong hệ thống quốc tế, miếu Bà, cầu tàu và bia chủ quyền của Việt Nam.

Ngày 13-7-1961, Sắc lệnh số 174/NV của Tổng thống VNCH đặt quần đảo Hoàng Sa trước kia thuộc tỉnh Thừa Thiên, nay đặt thuộc tỉnh Quảng Nam. Thành lập một đơn vị hành chính cấp xã và lấy tên là xã Định Hải, trực thuộc quận Hòa Vang. Xã Định Hải đặt dưới quyền một phái viên hành chánh.

Bia chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa trước năm 1974

Ngày 27-1-1973, Hiệp định Paris chấm dứt mọi sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam. Hạm đội 7 – Thái Bình Dương của Hoa Kỳ cũng rút quân và các thiết bị ra khỏi vùng quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Lúc này Trung Quốc bắt đầu triển khai một lực lượng hải quân mạnh mẽ trong đó có nhiều tàu được ngụy trang thành tàu đánh cá có máy bay yểm trợ để tìm cách đánh chiếm Hoàng Sa.

Ngày 19-1-1974 lúc 10 giờ 25 phút, cuộc hải chiến giữa hải quân VNCH và hải quân Trung Quốc bắt đầu. Với binh lực mạnh hơn quân xâm lược Trung Quốc đã đánh chiếm thành công quần đảo Hoàng Sa từ phía VNCH; làm phía VNCH bị hư hỏng, chìm nhiều tàu thuyền và đã có hơn 70 người con Việt Nam đã ngã xuống để bảo vệ mảnh đất của cha ông. Như vậy, Trung Quốc chiếm đoạt hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa từ tay quân đội VNCH bằng vũ lực kể từ thời điểm này.

Sau trận hải chiến, VNCH đã ra nhiều tuyên bố cũng như cung cấp các chứng cứ lịch sử về chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 20-1-1974, quan sát viên của VNCH tại Liên Hợp Quốc yêu cầu Hội đồng Bảo an xem xét việc Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm Hoàng Sa. Qua thông điệp ngoại giao được gửi đến các nước ký kết Hiệp định Paris 1973, VNCH nhắc lại sự đảm bảo toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, yêu cầu Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc họp một phiên đặc biệt về vấn đề Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm Hoàng Sa của Việt Nam. Và cũng thời điểm này ngày 26-1-1974, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra Tuyên bố phản đối hành động xâm chiếm Hoàng Sa của Trung Quốc và tuyên bố lập trường về “chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”.

Sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước chính quyền nước CHXHCN Việt Nam vẫn tiếp tục khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa trên các diễn đàn khu vực cũng như quốc tế.

Ngày 01 tháng 01 năm 1997, Đà Nẵng tách khỏi tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng trở thành Thành phố trực thuộc Trung ương, Huyện đảo Hoàng Sa được đặt dưới sự quản lý của chính quyền Thàng phố Đà Nẵng. Địa điểm của trụ sở UBND huyện Hoàng Sa được đặt tại 132 đường Yên Bái, phường Phước Ninh, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

Kể từ khi dùng vũ lực chiếm đóng trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, phía Trung Quốc đã phá hủy toàn bộ những di tích cũng như chứng cứ lịch sử của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa. Nhà cầm quyền Trung Quốc đã cho xây dụng cơ sở hạ tầng và thăm dò trái phép các nguồn tài nguyên trên quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Tuy nhiên với mỗi hành động của phía Trung Quốc chính phủ nước CHXHCN Việt Nam luôn có những phản đối kịp thời trên các phương tiện truyền thông, diễn đàn khu vực cũng như quốc tế. Song nhà cầm quyền Trung Quốc đã bất chấp pháp lí cũng như đạo lí luôn bỏ ngoài tai những phản đối của Nhà nước và nhân dân Việt Nam.

Đảng, Nhà nước CHXHCN Việt Nam đã thể hiện rõ ràng quan điểm của mình thông qua Hiến pháp, luật biển và những phát ngôn của những nhà lãnh đạo Việt Nam về vấn đề quần Đảo Hoàng Sa.

Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013 ghi:Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời”. Luật biển Việt Nam năm 2013 ghi rõ: “Luật này quy định về đường cơ sở, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, các đảo, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và quần đảo khác thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam; hoạt động trong vùng biển Việt Nam; phát triển kinh tế biển; quản lý và bảo vệ biển, đảo”.

Cũng Luật biển Việt Nam Chương III Điều 37. Quy định cấm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam.Khi thực hiện quyền tự do hàng hải, tự do hàng không trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, tổ chức, cá nhân không được tiến hành các hoạt động sau đây: 1. Đe dọa chủ quyền, quốc phòng, an ninh của Việt Nam; 2. Khai thác trái phép tài nguyên sinh vật, đánh bắt hải sản trái phép;…”

          Cần hiểu rõ rằng Luật biển Việt Nam hoàn toàn phù hợp với Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982 mà cả Việt Nam và Trung Quốc cùng tham gia.

          Những người đứng đầu đại diện cho Nhà nước và nhân dân Việt Nam cũng đã có những phản ứng kịp thời bày tỏ quan điểm của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam.

          Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cho rằng việc Trung Quốc đặt giàn khoan trái phép vào vùng biển Việt Nam không chỉ gây bức xúc cho nhân dân Việt Nam  mà còn gây bức xúc cho cộng đồng quốc tế vàông cũng đưa ra định hướng để nhân dân đấu tranh một cách hợp lí để bảo vệ chủ quyền: “Khu vực Trung Quốc đặt giàn khoan không thể nói là của Trung Quốc được”; “Người Việt ai cũng có lòng yêu nước nhưng bà con phải hết sức bình tĩnh trong việc đấu tranh bảo vệ chủ quyền Tổ quốc, không để cho kẻ xấu lợi dụng. Càng khó khăn thì chúng ta càng phải đoàn kết, từ Trung ương Đảng cho đến toàn dân. Trong thời gian qua, bà con cô bác có thấy nước nào lên tiếng ủng hộ Trung Quốc không? Rõ ràng là không. Đã có nhiều nước trên thế giới lên tiếng ủng hộ Việt Nam vì chúng ta lúc nào cũng hòa hiếu. Chúng ta đấu tranh trong hòa bình nhưng luôn luôn kiên định mục tiêu chủ quyền là tối thượng. Chúng ta sẽ làm mọi cách để bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ”

Trả lời câu hỏi của các đại biểu về việc Trung Quốc đưa giàn khoan dầu hạ đặt trong vùng biển Việt Nam tại buổi đối thoại giữa lãnh đạo Bộ Khoa học-Công nghệ với nhà khoa học ngày 17.5, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam khẳng định: “Hoàng Sa là của Việt Nam. Trung Quốc đã dùng vũ lực chiếm Hoàng Sa, chúng ta nhất định phải đòi lại. Đời tôi, đời các bạn chưa đòi lại được, thì đời con cháu chúng ta phải tiếp tục đòi theo đúng luật pháp quốc tế”

Đồng lòng với Đảng, Nhà nước người dân Việt Nam nói chung và ngư dân Việt Nam nói riêng đã có những hành động cụ thể để gìn giữ chủ quyền quần Đảo Hoàng Sa. Đặc biệt là ngư dân Quảng Ngãi, họ đã chịu bao khó khăn gian khổ để đấu tranh với thiên nhiên khắc nghiệt nơi đầu sóng ngọn gió, không những thế họ còn làm nhiệm vụ thực thi chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa. Họ chính là những cột mốc sống bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa.

Trước đây ngư dân và tàu bè Việt Nam vẫn tự do đánh cá và đi lại trong vùng biển xung quanh quần đảo Hoàng Sa. Nhưng kể từ khi Trung Quốc tấn công lực lượng đồn trú của hải quân Việt Nam Cộng Hòa và chiếm quần đảo này ngày 19/1/1974 thì các hoạt động mang tính dân sự của tàu thuyền Việt Nam trong vùng biển Hoàng Sa có thể bị lực lượng hải quân và cảnh sát biển Trung Quốc đe dọa.

Việc này đã dẫn đến một số sự kiện mà trước đây chưa hề xảy ra khi Việt Nam còn kiểm soát quần đảo Hoàng Sa. Điển hình là ngày 18 đến 20, tháng 12 năm 2004, hải quân Trung Quốc dùng tàu tuần dương tông vào các tàu đánh cá Việt Nam khiến cho 23 ngư dân Đà Nẵng và Quảng Ngãi chết, 6 người bị thương, đồng thời bắt giữ 9 tàu đánh cá và 80 ngư dân khác.

Ngày 27 tháng 6 năm 2006, 18 chiếc tàu đánh cá của Việt Nam neo đậu tại phía bắc quần đảo Hoàng Sa để tránh bão thì bị một chiếc tàu lạ tấn công, cướp bóc và xua đuổi không cho họ ở lại tránh bão. Ngày 27 tháng 6 năm 2007, một tàu đánh cá Việt Nam bị Trung Quốc tấn công làm 6 người bị thương, khi họ vào tránh gió ở đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa.

Sáng 27 tháng 9 năm 2009, 17 tàu của ngư dân Việt Nam giương cờ trắng chạy vào đảo Hữu Nhật tránh bão, đã bị lính Trung Quốc nổ súng xua đuổi, rồi bị cướp, đánh đòn, tra tấn.

Những hành vi vô nhân đạo đó vẫn tiếp tục diễn ra và cao trào là ngày 02 tháng 05 năm 2014 Trung Quốc đã đưa giàn khoan HD 981 vào sâu trong thềm lục địa Việt Nam như chúng ta đã thấy qua các phương tiện truyền thông.

 

Hàng trăm năm nay, ngư dân Quảng Ngãi luôn coi sự có mặt của mình trên vùng biển Hoàng Sa là họ góp phần khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo này. Nhiều ngư dân bị phía Trung Quốc bắt giữ trái phép, lấy tài sản nhiều lần, nhưng với họ vùng biển Hoàng Sa đã trở thành nơi đi về hằng ngày. Nơi đó, từng con lạch, từng rạn san hô, bãi đá ngầm đã trở nên quen thuộc và ngấm sâu vào máu thịt của họ. “Họ coi Hoàng Sa là gốc cội, là máu thịt của Tổ quốc, của tổ tiên ông bà, nên các thế hệ con cháu của ngư dân Quảng Ngãi cho dù sau này khó khăn đến mấy, vẫn quyết tâm bám biển Hoàng Sa”. 

Trong tâm thức của hàng vạn ngư dân Quảng Ngãi, lá cờ Tổ quốc luôn là một biểu tượng và là hình ảnh vô cùng thiêng liêng. Bởi vậy mỗi khi tàu nhổ neo vươn khơi bám biển không khi nào ngư dân Quảng Ngãi để vắng bóng cờ Tổ quốc trên nóc tàu của mình. Bằng tình yêu biển, ý thức bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, hàng ngày ngư dân Quảng Ngãi vẫn một lòng bám biển, song hành với họ là lá cờ Tổ quốc hiện diện giữa Biển Đông.
     Hàng trăm năm nay, biết bao người con Lý Sơn đã vĩnh viễn nằm lại với đất mẹ Hoàng Sa thiêng liêng và để lại nỗi ám ảnh, day dứt khôn nguôi cho người ở lại với những nấm mồ, ngôi mộ gió không tên, không người. Để an ủi linh hồn người chết, nhiều thế hệ con cháu trên đảo sử dụng đất sét nặn hình nhân thế mạng để chiêu hồn nhập xác lính Hoàng Sa với mong muốn linh hồn của người xấu số sẽ được siêu thoát và có người quanh năm nhang khói tưởng nhớ.

 

     

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 
 

Mộ gió trên đảo Lý Sơn

 

 

 

 

Ra đảo Lý Sơn, về với quê hương Hải đội Hoàng Sa sẽ không còn lạ với những câu ca lưu truyền: “Đến mùa tu hú kêu thanh/Cá chuồn đã mãn mà anh chưa về” sẽ càng thấy yêu hơn, tự hào về hòn đảo thiêng liêng thấm đẫm biết bao xương máu của lớp tiền nhân bao đời quyết tử gìn giữ và bảo vệ Hoàng Sa.
            Theo sử sách ghi chép lại, hơn 300 năm trước khi những dòng họ người Việt đầu tiên từ đất liền bước chân ra khai khẩn mở mang vùng đất đảo trù phú, trước đó trong đất liền hằng năm. Các dòng họ này đều tuyển chọn 70 dân đinh khỏe mạnh, cường tráng, giỏi bơi lội sung vào đội dân binh Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải để cưỡi sóng ra quần đảo Hoàng Sa, làm nhiệm vụ cao cả là bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc theo lệnh vua ban.
         
       Và với người dân trên đảo, hình bóng của những Hùng binh Hoàng Sa năm xưa tuy thân xác đã tan vào biển cả Hoàng sa nhưng linh hồn vẫn trở về mãi mãi với đất mẹ Lý Sơn. .
        Theo quan niệm của người dân xứ đảo, những người lính Hoàng Sa chết ngoài biển mà không tìm thấy xác thì hồn bay phách lạc nên linh hồn cứ mãi lẩn quẩn ngoài biển, không được trở về với đoàn tụ với gia đình, tổ tiên. 
        Thấy vậy, người dân thiết nghĩ cần phải lập đàn cúng bái rước hồn về, các dòng tộc trên đảo có người đi lính Hoàng Sa tiến hành lập danh sách và mời thầy phù thủy về cúng và làm lễ chiêu hồn nhập xác và lập nên những ngôi mộ gió cho người thân như để làm tròn phận sự của người còn sống đối với người đã chết. Những nấm đất nhỏ nằm rải rác, ẩn mình trong những ruộng hành, ruộng tỏi xanh bạt ngàn. Người dân trên đảo gọi đó là những ngôi mộ gió chiêu hồn.  
          Nỗi khắc khoải về sự trường tồn của những ngôi mộ gió, những linh hồn hùng binh Hoàng Sa bi hùng xấu số không được may mắn trở về với đất mẹ Lý Sơn làm cho nhiều thế hệ trên đảo cảm thấy tự hào hơn về khí phách, ý chí kiên cường của các bậc tiền nhân người Lý Sơn với khát vọng biến mỗi con tàu thành những cột mốc sống trên biển, khẳng định chủ quyền biển đảo của tổ quốc nơi Hoàng Sa - Trường Sa thân yêu.

Những tai ương, địch họa có thể xảy ra trên biển bất cứ lúc nào, có lúc tài sản trên tàu chẳng còn lại gì nhưng cờ Tổ quốc thì vẫn hiện diện, vẫn được ngư dân bảo vệ như bảo vệ chính bản thân và sự an toàn của tàu cá mình. Chính vì thế trên 40 ngàn ngư dân Quảng Ngãi cùng với ngư dân cả nước vẫn kiên cường bám biển, bảo vệ cờ Tổ quốc trên biển khơi để khẳng định chủ quyền biển đảo của Việt Nam.
       Lá cờ đỏ sao vàng - cờ Tổ quốc Việt Nam không chỉ tung bay trong đất liền mà còn tung bay trên mọi vùng biển, khẳng định chủ quyền Việt Nam trên biển. Cờ Tổ quốc còn giúp cho ngư dân sử dụng làm tín hiệu cứu nạn, gắn kết tình đoàn kết của ngư dân giữa biển khơi. 
       Ngư dân Quảng Ngãi đã và đang xây nên một trường lũy - cờ Tổ quốc trên Biển Đông. Trường lũy ấy sẽ mãi mãi trường tồn, trở thành những cột mốc biên cương bất diệt của Tổ quốc giữa đại dương.

Các bạn ạ! Đến đây mình muốn nhắc lại lời của bác Vũ Đức Đam – Phó thủ tướng chính phủ: “Hoàng Sa là của Việt Nam. Trung Quốc đã dùng vũ lực chiếm Hoàng Sa, chúng ta nhất định phải đòi lại. Đời tôi, đời các bạn chưa đòi lại được, thì đời con cháu chúng ta phải tiếp tục đòi theo đúng luật pháp quốc tế” đó cũng chính là tâm nguyện của những người đi trước muốn đòi lại Hoàng Sa. Để đòi lại Hoàng Sa chúng mình hãy cùng nhau học thật tốt để trở thành những người công dân có ích cho đất nước, cùng nhau xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh. Nếu thế hệ cha anh chưa đòi được Hoàng Sa thì thế hệ chúng mình sẽ nhất quyết sẽ đòi lại Hoàng Sa các bạn nhé.

Mình hy vọng bài thuyết minh của mình về Quần đảo Hoàng Sa sẽ mang lại cho các bạn những kiến thức bổ ích, cùng hiểu hơn và cùng nhau khẳng định lại: Quần đảo Hoàng Sa là của nước Việt Nam, người dân Việt Nam và mãi mãi thuộc về Việt Nam.

thcsnhandao

Các tin khác

Xem thêm...

Thăm dò ý kiến

Theo bạn trường THCS Nhân Đạo có phải là một môi trường học tập và tu dưỡng tốt?

Qua báo đài
Qua bạn bè
Qua Internet
Khác

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang online: 2

Hôm nay: 16

Tổng lượng truy cập: 228493