Tin tức/(Trường THCS Nhân Hòa)/HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN/
PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ

I. Đặc điểm của mô hình VNEN và vai trò của việc sử dụng đồ dùng trực quan trong quá trình dạy học Địa lí:

a.Đặc điểm của mô hình VNEN :

       Mô hình VNEN là một trong những mô hình nhà trường phát triển theo xu hướng hiện đại, với định hướng tiếp cận là giáo dục năng lực của người học. Dựa trên cơ sở mô hình dạy học truyền thống, Dự án GPE-VNEN đã tiến hành nghiên cứu, chuyển đổi các thành tố trong Chương trình dạy học, đặc biệt các nội dung về mặt sư phạm theo định hướng tiếp cận giáo dục của mô hình.

Trong xã hội hiện đại ngày nay việc đổi mới nội dung dạy học đã dẫn tới việc đổi mới cả phương pháp dạy học, một trong những hướng mới của phương pháp dạy học hiện nay là việc khai thác kiến thức từ phương tiện trực quan trong dạy học. Nghĩa là làm thế nào để sử dụng có hiệu quả, phát huy vai trò, ý nghĩa của phương tiện trực quan trong dạy học nói chung và đối với phân môn địa lý nói riêng.

b. Vai trò của việc sử dụng đồ dùng trực quan trong quá trình dạy học Địa lí:

Nhằm giúp cho học sinh có được những kỹ năng đáp ứng được mục tiêu giáo dục đề ra trong giai đoạn hiện nay, đã được nghị quyết TW2 khoá VIII khẳng định: “ Đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của học sinh. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh.’’ Định hướng trên đã được pháp chế hoá trong luật giáo dục, tại điều 24.2 “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niền vui, hứng thú học tập cho học sinh.’’

          Đối với học sinh lớp 6 là lớp đầu cấp THCS các em tiếp xúc với một chương trình học có tính chuyên môn hoá cao. Nội dung kiến thức địa lý chủ yếu là những vấn đề địa lý tự nhiên đại cương rất trừu tượng và khó khăn đối với các em trong quá trình tiếp thu kiến thức. Chính vì vậy phần lớn kiến thức trong SGK được chuyển tải thông qua hệ thống kênh hình, mô hình, sơ đồ, bản đồ, biểu đồ,  để giúp học sinh tiếp thu kiến thức dễ dàng, nhớ được nội dung bài học bền lâu và góp phần rèn luyện kỹ năng địa lý cho học sinh việc rèn luyện kỹ năng địa lý không chỉ giúp học sinh khai thác kiến thức qua các kênh hình để phục vụ cho nội dung bài học, mà còn rèn luyện cho học sinh phương pháp tự học tự nghiên cứu, giúp các em có được những kỹ năng cần thiết để phục vụ cho quá trình học tập ở các lớp trên, và ứng dụng vào trong cuộc sống hàng ngày, ngoài ra việc rèn luyện các kỹ năng còn giúp cho học sinh thích ứng với các phương pháp dạy học tập trung vào người học.

Theo hướng phát triển của mô hình VNEN là để đào tạo ra những con người năng động, sớm thích ứng với đời sống xã hội, hòa nhập và góp phần phát triển cộng đồng thì việc kiểm tra phải khuyến khích trí thông minh, sáng tạo, phát hiện sự chuyển biến thái độ và xu hướng hành vi của học sinh trước những vấn đề của đời sống cá nhân, gia đình và cộng đồng; rèn luyện cho các em khả năng phát hiện và vận dụng giải quyết các vấn đề nảy sinh trong các tình huống thực tế. Việc đổi mới kiểm tra đánh giá sẽ có tác dụng thúc đẩy sự đổi mới phương pháp dạy học.

Tóm lại, trong phương pháp dạy học theo mô hình VNEN, người được giáo dục trở thành người tự giáo dục, là nhân vật tự giác, chủ động có ý thức về sự giáo dục bản thân mình.

 

II. Sử dụng đồ dung trực quan trong dạy học theo mô hình VNEN

1. Phân loại hệ thống kênh hình trong SGK địa lý lớp 6.

TT

Phân loại

Chức năng sử dụng

Bài dạy

1

Bản đồ, lược đồ

 

- Bản đồ đo tính tỷ lệ, khoảng cách trên bản đồ

- Bản đồ xác định phương hướng, tính toạ độ địa lý.

- Bản đồ dùng để đọc các đối tượng trên bản đồ.

- Bản đồ phân bố lượng mưa ở trên thế giới.

- Bản đồ thể hiện các dòng biển ở trên đại dương.

- Lược đồ địa hình có tỷ lệ lớn.

- Bản đồ kiến tạo mảng

Bài 2

 

Bài 11

 

 

Bài 18

 

Bài 19

 

Bài 13

2

Quả địa cầu

- Dùng xác định hình dạng, kích thước của trái đất và hệ thống kinh vĩ tuyến.

- Xác định vận động tư quay quanh trục của trái đất

Bài 11

Bài 12

 

3

Mô hình

- Hệ mặt trời

- Vận động của trái đất quay quanh mặt trời và các mùa

- Hiện tượng ngày và đêm dài ngắn khác nhau theo mùa.

- Mô hình lúi lửa.

- Địa hình đồng bằng và cao nguyên.

- Hệ thống sông và lưu vực sông

Bài 11

Bài 12

Bài 12

 

Bài 14,15

 

Bài 19

4

Tranh ảnh

- Núi được hình thành do nội lực.

- Cảnh tượng sau khi động đất sảy ra.

- Núi trẻ Himalaya, núi đá vôi, động đá vôi và thạch nhũ.

- Bình nguyên, cao nguyên

- Các hướng gió chính trên trái đất và hoàn lưu khí quyển.

- Các đới khí hậu trên trái đất.

- Hồ ở miệng lúi lửa.

- Thuỷ triều lên, xuống ở bãi biển.

- Rừng mưa nhiệt đới, hoang mạc, động vật, miền khí hậu lạnh, miền đồng cỏ nhiệt đới.

Bài 14

 

Bài14

Bài 15

 

Bài 17

Bài 18

Bài 19

 

Bài 20

 

 

5

Biểu đồ

- Biểu đồ lượng mưa

Bài 18

 

Qua bảng phân loại cho ta thấy, hầu hết trong các bài học đều có hệ thống kênh hình để phục vụ cho nội dung bài học. Mục đích giáo viên thuận lợi trong việc thực hiện phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của người học và tạo điều kiện cho học sinh tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập, góp phần phát triển tư duy nhận thức và rèn luyện kỹ năng.

2. Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức qua quả địa cầu.

          * Ý nghĩa:

          Quả địa cầu là mô hình thu nhỏ của trái đất. Tuỳ theo mục đích sử dụng người ta biểu hiện các chủ đề khác nhau. Nhưng nhìn chung, các đối tượng luôn được biểu hiện ở trên đó: Hệ thống kinh vĩ tuyến, các lục địa, các đại dương, tỷ lệ, bảng chú giải…sau đó đến các chủ đề mà người thành lập lựa chọn.

- Qua mô hình quả địa cầu, tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên thực hiện phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của người học. Đồng thời giúp học sinh hiểu, biết và nắm được những đối tượng biểu hiện trên đó một cách nhanh nhất, nhớ được nội dung bài học bền lâu.

- Đối với chương trình đại lý lớp 6 quả địa cầu có nhiệm vụ chuyển tải những kiến thức cơ bản về hệ thống kinh – Vĩ tuyến: Kinh tuyến gốc, Vĩ tuyến gốc, cách tính giờ ở các địa phương trên trái đất: hiểu, biết được sự vận động tự quay quanh trục, tìm ra các hệ quả của nó và giải thích được một hiện tượng xảy ra trên trái đất.

3. Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức qua bản đồ, lược đồ ở trong SGK.

          * Ý nghĩa:

          - Từ trước tới nay bản đồ luôn được xem là cuốn sách giáo khoa thứ hai. Vì bản đồ phàn thu nhỏ các đói tượng tự nhiên, kinh tế xã hội ở ngoài thực tế thông qua hệ thống kinh, vĩ tuyến, tỷ lệ và hệ thống ký hiệu. Qua bản đồ học sinh dễ dàng tìm ra được các đối tượng nội dung , bài học được biểu hiện ở trên đó: Vị trí địa lý, hình dạng kích thước, các điều kiện TN, KTXH…

          - Chức năng của bản đồ giáo khoa có rất nhiều, nó vừa là nguồn cung cấp kiến thức cho nội dung bài học, vừa dùng để rèn luyện kỹ năng địa lý cho học sinh. Đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên thực hiện các phương pháp giảng dạy của mình theo hướng phát huy tính tích cực của người học. Thông qua các kỹ năng phân tích, so sánh, tìm ra các mối quan hệ địa lý trên bản đồ, giúp học sinh tiếp thu bài học được nhanh , nhớ được nội dung bài học bền lâu, góp phần kích thích phát triển năng lực tư duy nói chung và tư duy địa lý nói riêng.

          - Đối với địa lý sách giáo khoa địa lý lớp 6 hệ thống bản đồ được đưa vào tương đối nhiều. Căn cứ vào nội dung của bài học, nội dung bản đồ được thể hiện tượng đối đơn giản. Mục đích giúp học sinh nắm được những đặc trưng cơ bản được thể hiện trên bản đồ, các phép chiếu đồ, tỷ lệ, các hệ thống kỹ hiệu trên bản đồ … bước đầu học sinh đọc, phân tích, tìm ra sự phân bổ và các mối quan hệ đơn giản được biểu hiện trên bản đồ.

4. Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức qua hệ thống tranh ảnh.

          * Ý nghĩa:

          - Tranh ảnh dùng để dạy địa lý có nhiều loại: Tranh ảnh địa lý treo tường, tranh ảnh địa lý trong SGK, tranh ảnh địa lý khổ nhỏ được cắt ra từ các tạp chí… Nhiệm vụ chính của tranh ảnh là hình ảnh cho học sinh những biểu tượng cụ thể về địa lý … Trong các loại kể trên, có ý nghĩa hơn cả là hình ảnh treo tường, in sẵn và các tranh ảnh trong SGK. Vì nội dung của chúng đều được lựa chọn cẩn thận, phù hợp với nội dung bài dạy trong chương trình.

          - Quan điểm dạy học trước đây, thường dùng hình ảnh để minh họa kiến thức cho một nội dung bài học. Hiện nay, chức năng của tranh ảnh có vai trò lớn hơn, ngoài việc minh hoạ cho bài học, nó còn là nguồn cung cấp kiến thức và để dung rèn luyện kỹ năng địa lý cho học sinh.

          - Trong sách giáo khoa địa lý lớp 6, hệ thống tranh ảnh tương đối phong phú, nhưng chủ yếu biểu hiện các đối tượng tự nhiên, núi, cao nguyên, bãi biển, rừng mưa nhiệt đới…. Mục đích tạo các hình ảnh trực quan giúp học sinh nhận biết các đối tượng địa lý một cách cụ thể, chính xác, nhớ được nội dung bài học bền lâu. Vì vậy trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần chú ý hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức qua các hình ảnh trong SGK, để phục vụ cho nội dung bài học.

5. Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức qua mô hình.

          * Ý nghĩa:

          - Mô hình là hình ảnh thu nhỏ một đối tượng nào đó, nhằm phản ánh những đặc trưng của sự vật hiện tượng. Trong quá trình dạy học, có nhiều nội dung giảng dạy mới mà học sinh rất khó tưởng tượng, nhưng được giáo viên và các nhà giáo dục  xây dựng thành các mô hình ( bằng các ký hiệu riêng ). Tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh hiểu các sự vật hiện tượng địa lý một cách cụ thể, chính xác và tiếp thu bài học được nhanh.

          - Việc sử dụng các phương tiện trực quan vào trong bài giảng địa lý có một ý nghĩa quan trọng, bởi học sinh có thể quan sát được một phần nhỏ các đối tượng xung quanh, còn phần lớn các đối tượng khác các em không có điều kiện quan sát trực tiếp : Núi lửa, cấu tạo bên trong của trái đất. Bề mặt trái đất, hệ thống sông….. Học sinh chỉ có thể hình dung được nhờ vào các phương tiện trực quan. Theo ý kiến của M.V.X Tudenikin phương tiện trực quan bao giờ cũng có hai chức năng: vừa là đồ dùng để minh hoạ, vừa là nguồn cung cấp kiến thức, nếu vận dụng nó như một nguồn chi thức cho học sinh khai thác trong qua trình học tập việc sử dụng các phương tiện trực quan có thể coi như một phương pháp. Còn nếu sử dụng nó như một đồ dùng để minh hoạ, thì đó chỉ là một biện pháp phục vụ cho phương pháp dùng lời.

          - Trong chương trình địa lý 6 có rất nhiều nội dung kiến thức, những sự vật hiện tượngmà trong cuộc sống các em chưa từng gặp, do đó học rất khó tưởng tượng khi tiếp thu kiến thức, lưu vực sông, cấu trúc núi lửa, cấu tạo bên trong của trái đất…. Những nội dung này khi giảng dạy được giáo viên đưa lên bằng các hình ảnh, mô hình, tranh ảnh, đèn chiếu …. Tạo nên bức tranh sinh động, thu hút hứng thú học tập của học sinh và kết quả học tập của các em được chắc chắn đạt được cao hơn với dùng hình thức minh hoạ.

          - Do yêu cầu tính chất của các mô hình và đặc điểm tư duy nhận thức của học sinh, việc vận dụng mô hình vào giảng dạy đối với học sinh lớp 6 các trường THCS là rất cần thiết. Tuy nhiên để giáo viên sử dụng tốt hệ thống mô hình địa lý vào trong bài giảng, cần chú ý một số điểm sau: Mô hình tuy có nhiều hạn chế hơn so với các dụng cụ trực quan khác. Nhưng chúng có ưu điểm là làm rõ tính chất không gian ba chiều, cũng như trạng thái động của sự vật hiện tượng địa lý. Vì vật trong quá trình sử dụng cũnh giống như tranh ảnh, giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát, mô tả hiện tượng địa lý, trả lời được các câu hỏi để tìm ra đựoc nội dung kiến thức của bài học.

6. Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức qua biểu đồ:

          * Ý nghĩa :

          - Trong quá trình học tập địa lý, học sinh thường xuyên tiếp xúc với số liệu,với những bảng thống kê, độ cao của núi, chiều dài một con sông. Ngoài một số số liệu quan trọng cần phải nhớ, học sinh còn phải làm việc với các số liệu thống kê bằng cách phân tích, đối chiếu so sánh để tìm ra những kết luận cần thiết soi sáng cho những khai niệm địa lý mà các em đã được học và giúp cho các nhận định, đánh giá được chính xác. Để cụ thể hoá các con số , tạo điều kiện cho việc phân tích được dễ dàng, sinh động hơn, người ta thường đưa các con số lên biểu đồ.

          - Biểu đồ là một hình vẽ cho phép mô tả một chác dễ dàng tiến trình của một hiện tượng ( Diễn biến của nhiệt độ trung bình các tháng trong năm) Mối quan hệ về độ lớn giữa các đại lượng ( diện tích châu lục, các nước…) hoặc kết cấu thành phần của một tổng thể.

          - Qua biểu đồ tạo điều kiện cho học sinh dễ dàng nhận dạng cấu trúc của một hiện tượng, nhận thấy động lực phát triển của hiện tượng qua các năm, các thời kỳ khác nhau, biểu đồ có tính trực quan, làm cho học sinh tiếp thu tri thức được dễ dàng, tạo hứng thú trong học tập địa lý.

          - Trong sách giáo khoa địa lý 6 biểu đồ được thể hiện không nhiều, chỉ đề cạp một số đối tượng: Biểu đồ biểu hiện lượng mua, biểu đồ biểu hiện nhiệt độ… Ngoài việc khai thác kiến thức phục vụ cho nội dung bài học, biểu đồ còn góp phần bước đầu hướng dẫn học sinh rèn luyện kỹ năng đọc, phân tích, so sánh các đối tượng trên biểu đồ. Đây là một loại kỹ năng địa lý quan trọng trong quá trình học tập môn địa lý ở trưòng phổ thông mà các em thường gặp.

III. Kết luận:

Đối với học sinh lớp 6, do đặc điểm tư duy nhận thức của các em còn nhiều hạn chế. Trong quá trình tiếp thu kiến thức, tư duy nhận thức bằng trực quan hình ảnh của các em tốt hơn là bằng tư duy ngôn ngữ trừu tượng, vì vậy kênh hình nhiều đã tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh trong quá trình tiếp thu kiến thức. Tuy nhiên, các kỹ năng địa lý của các em chưa nhiều, vì vậy việc hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức qua hệ thống kênh hình gặp nhiều khó khăn.

          Từ những vấn đề trên, quá trình dạy học giáo viên cần có sự kết hợp giữa kênh hình và kênh chữ trong việc hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức là rất cần thiết.

          - Đối với mô hình VNEN không yêu cầu tất cả mọi học sinh đều có nhận thức giống nhau về một vấn đề nào đó. Mà tùy theo năng lực nhận thức của từng học sinh mà giáo viên yêu cầu ở một mức độ nhất định. Do đó, với các hoạt động trong tài liệu hướng dẫn học tập, giaó viên chỉ yêu cầu tất cả học sinh nắm được kiến thức của 3 hoạt động đầu tiên còn hoạt động vận dụng và tìm tòi mở rộng thì chỉ yêu cầu với HS khá, giỏi.

Trong việc hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức qua các hệ thống kênh hình, tôi đã nghiên cứu đưa ra một quy trình chung đi từ những vấn đề đơn giản, đến phức tạp. Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần hướng dẫn cụ thể cho học sinh các bước khai thác kiến thức qua kênh hình và vận chúng một cách linh hoạt phù hợp với từng đối tượng học sinh cụ thể. Nếu giáo viên làm kỹ phần kỹ năng rèn luyện kỹ năng, khi học lên các lớp trên học sinh rất thuận lợi trong việc học tập, kết quả học tập của các học sinh chắc chắn sẽ đạt được tốt hơn và góp phần phát triển tư duy nhận thức của học sinh

IV. Kiến nghị, đề xuất:

- Đối với Sở GD-ĐT và phòng GD-ĐT

+ Đây là mô hình mới nên lãnh đạo các nhà trường, các giáo viên, học sinh và phụ huynh học sinh thì đây là một mô hình mới, nhiều bậc phụ huynh còn băn khoăn khi cho con em mình tham gia vào mô hình trường học này. Do vậy Sở GD-ĐT và các phòng GD-ĐT cần tăng cường tuyên truyền, phổ biến đến đông đảo phụ huynh học sinh để họ hưởng ứng, hợp tác và sẵn sàng đưa con em mình tham gia vào mô hình này.

+ Thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn , dự giờ, thăm lớp các buổi hội thảo… để cán bộ giáo viên nắm vững đặc trưng của mô hình này và trao đổi kinh nghiệm, học tập lẫn nhau.

+ Từng bước đầu tư, trang thiết bị và cơ sở vật chất phù hợp cho mô hình này.

+ Tạo điều kiện cho giáo viên tiếp tục học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.

- Với các nhà trường:

+ Làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, vận động học sinh, phụ huynh học sinh và nhân dân địa phương hưởng ứng, tham gia mô hình này.  Phối hợp cùng ban đại diện cha mẹ học sinh trang trí lớp học…

+ Có chế độ đãi ngộ với các giáo viên tham gia dạy học theo mô hình VNEN như giảm số tiết dạy theo quy định, nhất là với giáo viên chủ nhiệm.

+ Thường xuyên dự giờ, trao đổi với đội ngũ giáo viên để kịp thời nắm bắt những khó khăn, vướng mắc để kịp thời có hướng giải quyết.

V. Kết luận

     Như vậy, trong mô hình VNEN việc sử dụng các phương tiện trực quan trong khai thác kiến thức địa lý một cách đúng mục đích, yêu cầu sẽ đem đến cho chúng ta những kết quả tốt. Điều đáng hoan nghênh là với phương tiện trực quan trong dạy học không có học sinh yếu về kỹ năng thực hành, có chăng là phần lý thuyết có một vài nội dung các em còn bị hạn chế. Riêng các bước kỹ năng đọc bản đồ các em đều nắm vững.

Trên đây là một số ví dụ minh họa tiêu biểu cho việc giảng dạy ở các dạng kênh hình khác nhau. Trong qua trình sử dụng các phương pháp giảng dạy, chúng tôi chỉ tập trung vào các phương pháp phát huy tính tích cực hoạt động của người học; còn các phương pháp phát huy tính tích cực hoá hoạt động của người học có đề cập, nhưng ít hơn . Chính vì vậy trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần căn cứ vào đối tượng dạy học cụ thể, kết hợp với các phương tiện dạy học sẵn có để đưa ra các phương pháp dạy học phù hợp, ( Sử dụng phương pháp tích cực hay tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh, đã được hướng dẫn ở phần trên). Góp phần nâng cao kết quả học tập của người học, cần chú trọng đến phương pháp phát huy tính tích cực của người học.

Tác giả: thcsnhanhoa

Xem thêm

Văn bản mới

BÀI HỌC ĐẦU TIÊN
Múa kỷ niệm mái trường trong lễ đón chuẩn năm học 2015-2016
dạy học theo VNen môn Âm nhạc 6
NÓI CHUYỆN HỌC NHƯ THẾ NÀO
  • Ba công khai
  • Thông báo

Kết quả thi khoa học kĩ thuật

kết quả thi khoa học kỹ thuật nhà trường

QUY CHẾ CHI TIÊU NỘI BỘ NĂM HỌC 2016-2017

QUY CHẾ CHI TIÊU NỘI BỘ NĂM HỌC 2016-2017

KẾ HOẠCH Công tác pháp chế năm học 2016 - 2017

KẾ HOẠCH Công tác pháp chế năm học 2016 - 2017

Quy tắc ứng xử văn hóa trường THCS Nhân Hòa

Quy tắc ứng xử văn hóa trường THCS Nhân Hòa

Quy chế làm việc năm học 2018-2019

Quy chế làm việc năm học 2018-2019
Xem thêm...