tin tức-sự kiện

Hội thảo công tác chủ nhiệm

Hội thảo công tác chủ nhiệm

Những khó khăn, thuận lợi của công tác GVCN trong công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong tình hình kinh tế xã hội hiện nay.

 

A. Nhận thức về vai trò của GVCN trong công cuộc đổi mới căn bản toàn diện giáo dục.

       - Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ mục tiêu tổng quát của giáo dục đào tạo là giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả… Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân…Trong khuôn khổ buổi hội thảo hôm nay chúng tôi xin tập trung vào trình bày những khó khăn, thuận lợi và giải pháp thực hiện việc giáo dục đạo đức học sinh của người GVCN trong công cuộc đổi mới căn bản toàn diện giáo dục trong tình hình kinh tế xã hội hiện nay.

- Giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến học sinh nhằm giúp các em có những hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ: giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tập thể và giữa cá nhân với chính mình từ đó giúp cho nhân cách ở mỗi học sinh phát triển đúng đắn.

- Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: “…dạy cũng như học, phải biết chú trọng cả tài lẫn đức…không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng”. Vì vậy giáo dục đạo đức có ý nghĩa quan trọng và phải được thực hiện thường xuyên, được coi là một mặt giáo dục đặc biệt góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong các nhà trường.

- Giáo viên chủ nhiệm có tầm quan trọng đặc biệt. Ngoài việc thực hiện tốt nhiệm vụ của giáo viên bộ môn, GVCN còn là người thay mặt HĐSP nhà trường và CMHS quản lí và chịu trách nhiệm về chất lượng giáo dục đạo đức học sinh lớp mình phụ trách, là người thực hiện kế hoạch giáo dục của nhà trường. GVCN là nhà giáo dục trực tiếp, người lãnh đạo gần gũi nhất đối với học sinh và tập thể lớp. Đồng thời GVCN còn là cầu nối để phối hợp với các lực lượng xã hội nhằm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục của nhà trường.

Từ nhận thức về vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong việc giáo dục đạo đức học sinh, tôi thiết nghĩ nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức học sinh cũng là góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện đáp ứng được yêu cầu phát triển của  nền giáo dục hiện nay.

Xuất phát từ tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức và xác định vai trò của giáo viên chủ nhiệm, từ thực tiễn làm công tác chủ nhiệm, nhóm GVCN trường THCS Thanh Hương chúng tôi nhận thấy có những thuận lợi và khó khăn trong công tác chủ nhiệm trước yêu cầu phát triển giáo dục và trong tình hình kinh tế xã hội hiện nay cũng như trong công cuộc đổi mới căn bản toàn diện giáo dục. .

B. Thuận lợi, khó khăn

1. Thuận lợi

- Các cấp ủy, chính quyền địa phương luôn quan tâm đến sự nghiệp giáo dục. Nhân dân Thanh Hương vốn có truyền thống hiếu học. Đây cũng là yếu tố tác động tích cực đến hiệu quả giáo dục của nhà trường nói chung và công tác giáo dục đạo đức của GVCN nói riêng.

- Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm chỉ đạo sát sao công tác chủ nhiệm. Hội CMHS luôn phối hợp chặt chẽ với GVCN đặc biệt là sự phối kết hợp của các tổ chức đoàn thể trong nhà trường và của địa phương nên công tác giáo dục đạo đức đạt hiệu quả.

- Phần lớn GV làm chủ nhiệm nhiệt tình, có trách nhiệm, giàu lòng nhân ái, nhiều đồng chí làm chủ nhiệm lớp đã có những biện pháp sáng tạo, hiệu quả trong việc giáo dục đạo đức học sinh.  

- Đa số học sinh chăm ngoan có ý thức tốt trong học tập, lao động và tu dưỡng đạo đức.

2. Khó khăn

          Bên cạnh những thuận lợi đó nhóm GVCN chúng tôi còn gặp phải một số khó khăn khi làm công tác chủ nhiệm. Cụ thể:

- 1/3 học sinh của nhà trường theo đạo Thiên chúa giáo, chủ yếu ở miền Tâng và Lác Nội. Gia đình các em phần lớn thuần nông nên một bộ phận nhỏ CMHS còn hạn chế về nhận thức trong việc đầu tư và giáo dục con cái. Vì vậy phần lớn những em học sinh hư, học sinh chưa chăm chưa ngoan xuất phát từ sự thiếu quan tâm chăm sóc của bố mẹ, của gia đình và người thân. Ngoài ra còn một một số ít CMHS mải lo làm kinh tế, chưa quan tâm đến con nên vẫn có học sinh  mải chơi, lười học, đua đòi, sống vô cảm…

- Do sự bùng nổ của công nghệ thông tin (điện thoại di động, Internet…) đã ảnh hưởng không tốt đến nhận thức và hành vi của của học sinh. Nguy cơ tiềm ẩn các tệ nạn xã hội có thể xâm nhập vào học đường bất cứ lúc nào, khiến cho việc giáo dục đạo đức học sinh gặp không ít khó khăn.

- Mặt khác do tác động của cuộc sống, vẫn còn một bộ phận nhỏ GVCN làm việc theo lối hành chính, ít có thời gian quan tâm đến tâm tư nguyện vọng của học sinh, chưa động viên khích lệ học sinh kịp thời, chưa có phương pháp kỉ luật tích cực. Bên cạnh đó, còn một số giáo viên bộ môn không mấy quan tâm đến việc giáo dục đạo đức học sinh, cho đó là việc của nhà trường và của GVCN.

Từ tình hình thực tế của nhà trường, từ thực tiễn làm công tác chủ nhiệm nhóm GVCN trường THCS Thanh Hương đã có nhiều phương pháp và kĩ năng thực hiện công tác chủ nhiệm. Tuy nhiên trong khuôn khổ thời gian của buổi hội thảo chúng tôi xin phép được trình bày một vài biện pháp mà chúng tôi thực hiện đã đạt hiệu quả nhất định.

  1. Nội dung và phương pháp giáo dục đạo đức học sinh.

I. Tìm hiểu đối tượng học sinh

1. Tìm hiểu hoàn cảnh gia đình học sinh.

- Để làm tốt công tác chủ nhiệm lớp, việc làm đầu tiên của người GVCN là tìm hiểu về hoàn cảnh gia đình học sinh: tìm hiểu về nơi ở, hoàn cảnh sống, hoàn cảnh kinh tế của gia đình các em, cách giáo dục quan tâm của gia đình đối với con cái, từ đó GVCN phối kết hợp với gia đình các em trong việc giáo dục đạo đức.

- Thực hiện công đoạn này, GVCN có thể tiến hành bằng nhiều con đường: Có thể qua trao đổi với giáo viên chủ nhiệm của năm học trước, qua học sinh của lớp, qua các đoàn thể ở thôn xóm để hiểu hơn về các em.

Ví dụ: Trường hợp em Bùi Thành Bắc - học sinh lớp 6C năm học 2015-2016 Khi nhận lớp chủ nhiệm, trong tuần đầu tiên tôi thấy em rất ít nói, tinh thần hoảng loạn, em không hay chơi với các bạn, một số buổi lao động đầu năm em hay nghỉ hoặc đến rất muộn.  Tôi đã tìm hiểu qua học sinh trong lớp, qua chính đồng nghiệp của  tôi và trực tiếp xuống thôn Lác Nội để tìm hiểu về hoàn cảnh gia đình em thì mới biết mẹ bỏ đi khi em mới 3 tuổi. Từ đó bố em chán nản, suy sụp chìm đắm trong những cơn say rượu triền miên, dần dần ảnh hưởng đến thần kinh. Những lúc uống nhiều rượu bố em không làm chủ được bản thân, bố sẵn sàng đốt tất cả sách vở quần áo, đuổi đánh em, không cho em vào nhà. Biết được hoàn cảnh của em tôi đã chia sẻ với các thày cô giáo trong trường cùng giúp em, tôi động viên các em học sinh trong lớp hiểu, thông cảm và chia sẻ với những khó khăn của bạn. Đồng thời tôi xin lại những chiếc áo của nhiều em học sinh lớp trước về nhà giặt sạch để trong tủ của nhà trường cho em có áo thay mỗi khi bị bố chặt rách áo. Tôi đã chủ động phối hợp cùng ban lãnh đạo nhà trường, ban đại diện CMHS của lớp cùng ban công tác mặt trận của thôn thường xuyên giúp đỡ để em có thể vượt qua những khó khăn thiếu thốn cả về vật chất và tình cảm để em có thể đến lớp. Chỉ trong một thời gian ngắn tôi  cảm nhận Bắc đã có những thay đổi nhất định: tâm lí của em đã ổn định và hòa đồng với các bạn hơn, trong giờ học em đã chú ý nghe giảng và tích cực ghi chép bài.

                                                    ( Hình minh họa )

          Từ việc tìm hiểu trên tôi có thể hiểu hơn về hoàn cảnh của các em. Mỗi em có một hoàn cảnh riêng không em nào giống em nào, có em mẹ mất, có em bố  mất, có em bố mẹ đi làm xa, bố mẹ bỏ nhau phải ở với ông bà, có em hoàn cảnh gia đình hết sức khó khăn thiếu sự quan tâm...Chính những hoàn cảnh ấy đã phần nào ảnh hưởng đến tính cách của các em. Vì vậy muốn làm tốt công  tác giáo dục đạo đức cho học sinh, GVCN phải gần gũi, thể hiện lòng tin với các em, tôn trọng nhân cách các em. Ngoài ra, bằng nhiều hình thức, GVCN tham mưu với nhà trường, các tổ chức đoàn thể, kêu gọi học sinh của chính lớp đó giúp đỡ các em cả về vật chất và tinh thần để giảm bớt khó khăn cho học sinh. Đây là yếu tố tinh thần để động viên các em vượt qua hoàn cảnh của mình.

2. Tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi.

Tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi cũng là một việc làm quan trọng trong việc giáo dục đạo đức học sinh của GVCN. Tuổi của học sinh THCS là tuổi trong giai đoạn quá độ, phức tạp và nhiều mâu thuẫn, lứa tuổi thích làm người lớn, thích được làm việc theo ý mình để khẳng định mình trước tập thể và gia đình. Vì thế bản thân giáo viên nói chung và GVCN nói riêng cần phải phối hợp nhiều biện pháp để giáo dục các em theo đúng hướng, từng bước hoàn thiện nhân cách các em. Chính từ hoàn cảnh gia đình khác nhau nên mỗi em tính cách cũng không giống nhau. Có những em học sinh đến lớp rất hay nói tự do, hay đánh bạn, ngổ ngáo, thường xuyên vi phạm kỉ luật như trường hợp em Hải lớp 9C. GVCN  phải rất kì công trong giáo dục đạo đức của em. Cũng xuất phát từ hoàn cảnh gia đình bố mất sớm, mẹ đi nước ngoài em phải ở với ông bà ngoại đã già. Mặc dù ông bà rất quan tâm lo lắng nhưng em vẫn tỏ ra bất cần thậm chí còn lấy cả tiền của ông bà đi chơi. Ở trường hợp này GVCN đã áp dụng nhiều biện pháp vừa cứng rắn, mềm mỏng, vừa kiên quyết xử lí những vi phạm của em trên lớp, vừa gặp gỡ riêng để động viên em. Quá trình thực hiện biện pháp này không chỉ diễn ra trên lớp, trong giờ sinh hoạt, giờ ra chơi mà ngay cả trên đường đi học về cô trò cùng nói chuyện. Qua những cuộc tiếp xúc như vậy em cũng đã mạnh dạn tâm sự những suy nghĩ của mình về hoàn cảnh gia đình về nỗi buồn khi vắng mẹ, mất bố…dẫn đến em có những biểu hiện ấy. Việc tâm sự với học sinh cũng giúp GVCN hiểu thêm phần nào về các em để điều chỉnh các biện pháp giáo dục đạo đức có hiệu quả.

- Trong trường hợp đối tượng học sinh chưa chăm, chưa ngoan không phải là các em nam mà là học sinh nữ thì công tác giáo dục đạo đức của giáo viên chủ nhiệm đòi hỏi phải kì công hơn và mất nhiều thời gian hơn. Học sinh nữ lớp 9 do đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi, các em muốn được người khác để ý, quan tâm đến mình. Đặc biệt ở lứa tuổi này, các em đã bắt đầu nảy sinh tình cảm với bạn khác giới nên cá biệt một số em thích có những biểu hiện như nhuộm tóc vàng, tóc nâu, sơn sửa móng tay móng chân, thích ăn mặc chạy theo mốt của người lớn, thích trang điểm như trường hợp em Lữ Thị Kim Phương (lớp 9C năm học 2014-2015). Em học sinh này hay đi học muộn, ăn mặc theo mốt, tóc nhuộm vàng, tô son, thường xuyên trang điểm, xâu lỗ tai kín hết vành tai, đến lớp không chú ý học hay lơ đãng, kết bạn với nhiều thanh niên hư hỏng ở ngoài  nhà  trường (qua điện thoại, qua mạng Internet). Với trường hợp này GVCN đã phối kết hợp chặt chẽ với gia đình học sinh, trực tiếp mời em xuống phòng tư vấn học đường của nhà trường để tâm sự giảng giải cho các em với tư cách một người bạn, người chị, người mẹ rất thân thiết của các em để giúp các em hiểu được vẻ đẹp của nữ sinh THCS. Khi biện pháp ấy chưa đạt hiệu quả rõ rệt, GVCN phải sử dụng các quy định trong Điều lệ trường Trung học (Điều 40, 41) và những quy định của nhà trường để kiên quyết xử lí trước lớp, yêu cầu em phải nhuộm lại tóc, gỡ bỏ hết những hoa tai xuyên kín vành tai. Bằng cách làm này, GVCN đã dựa vào thái độ của chính học sinh trong lớp để đánh vào lòng tự ái của em. Kết quả em đã gỡ bỏ hoa tai, nhuộm lại tóc, ít đi học muộn hơn.( Hình minh họa)

 Như vậy để làm tốt công tác giáo dục đạo đức học sinh thì khâu tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi các em cũng hết sức quan trọng. Nếu GVCN hiểu được học sinh đang nghĩ gì và muốn làm gì thì sẽ chọn được biện pháp giáo dục phù hợp, đạt được hiệu quả như mong muốn biện pháp giáo dục của GVCN sẽ thành công.

3. Tìm hiểu kết quả rèn luyện đạo đức của học sinh qua các nguồn thông tin khác.

- Để hiểu hơn về các em, góp phần giáo dục đạo đức thành công, người GVCN phải tìm hiểu kết quả rèn luyện đạo đức của các em qua các nguồn thông tin khác nhau. Khi được nhận lớp, GVCN phải nắm bắt được số lượng học sinh lớp mình, có bao nhiêu học sinh nam, bao nhiêu học sinh nữ, bao nhiêu em hạnh kiểm Tốt, Khá, TB, đối tượng học sinh cá biệt về đạo đức, về học tập là những em nào…Đồng thời nắm bắt biện pháp giáo dục các em đó từ GVCN, giáo viên bộ môn, tổng phụ trách Đội và học sinh của năm học trước để có biện pháp giáo dục các em.

Ví dụ: trường hợp em Trần Nhật Tân - Lớp 9B (năm học 2013 – 2014) do tôi chủ nhiệm. Em mặc quần áo đắt tiền so với học sinh vùng nông thôn, đầu tóc bóng mượt, em rất sợ khi các bạn chạy sô vào em làm bẩn quần áo giày dép. Qua tìm hiểu tôi nắm được hoàn cảnh gia đình em: Bố em đi lao động ở nước ngoài, ông bà nội và mẹ rất chiều chuộng, em thích gì đều được mẹ và ông bà đáp ứng. Ở lớp 6, 7 em Tân học rất tốt nhưng lên lớp 8 đã có biểu hiện sa sút, hay chơi với nhiều đối tượng thanh niên hư hỏng ngoài  nhà trường. Đến năm lớp 9  thì em càng mải chơi hơn, em bỏ học trốn nhà đi 3, 4 ngày giao lưu cùng các thanh niên hư hỏng. Mẹ và ông bà phải mất rất nhiều tiền của để đi tìm em về sau đó gia đình lại đến xin thày cô cho em vào lớp và đề nghị thày cô đừng trách mắng em sợ em xấu hổ với bạn rồi lạ bỏ đi. Nhiều lần thành quen em đã từng tuyên bố với các bạn “Tao mà bỏ đi ông bà và mẹ tao khóc hết nước mắt”. Trước thái độ và hành vi của em, bản thân tôi rất băn khoăn, nhiều lần trao đổi trực tiếp với mẹ em đề nghị gia đình cần có biện pháp cứng rắn hơn với em sau mỗi lần em bỏ đi. Ngoài ra tôi còn phối hợp với các đoàn thể ở địa phương nơi em cư trú tiếp tục gặp gỡ động viên em. Khi em học sinh này bỏ đi tôi đã báo cáo với nhà trường liên hệ với công an xã và nhờ giúp đỡ. Khi em Tân quay trở lại trường học, tôi đã trao đổi với bạn bè đồng nghiệp về trường hợp này và được biết em Tân có năng khiếu về văn nghệ và TDTT, em rất thích được tham gia vào các hoạt động sôi nổi này vì vậy tôi quyết định đưa em tham gia vào các hoạt động văn nghệ , TDTT để em có cơ hội phát huy tốt năng lực của mình và giúp em quên đi những ham muốn chơi bời. Kết quả khi chúng tôi đưa em vào hội thi văn nghệ chào mừng ngày nhà giáo VN 20-11 em đã giành giải nhất cá nhân. Tôi thấy em rất vui khi được các thày cô giáo toàn trường và các bạn trân trọng tài năng của mình và em đã dần dần thay đổi. Từ việc làm trên chúng ta có thể thấy nguy cơ tiềm ẩn của các tệ nạn xã hội có thể xâm nhập vào học đường bất cứ lúc nào bằng nhiều hình thức nếu nhà trường - gia đình - xã hội không cảnh giác với các thủ đoạn của các phần tử xấu và định hướng cho học sinh của mình tránh xa các tệ nạn ấy. Cần trang bị cho các em kĩ năng nhận biết và cách phòng tránh. Thực tế ở trường tôi, GVCN cùng với ban lãnh đạo nhà trường đã thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục học sinh về vấn đề này nên những năm gần đây hiện tượng học sinh hư hỏng giảm bớt, học sinh của trường đã có ý thức cảnh giác hơn với các tệ nạn.

II.  Phối hợp các lực lượng giáo dục.

Để công tác giáo dục đạo đức học sinh đạt hiệu quả, bản thân GVCN phải làm tốt việc phối kết hợp chặt chẽ với các lực lượng giáo dục.

1. Phối hợp với cha mẹ học sinh.

- Một trong những yêu cầu quan trọng của công tác chủ nhệm lớp là phải có sự kết hợp chặt chẽ với gia đình học sinh trong việc giáo dục đạo đức của các em. GVCN phải thường xuyên liên hệ với PHHS (bằng các  hình thức điện thoại trực tiếp, dùng tin nhắn điện tử, sổ liên lạc). Có những trường hợp GVCN phải đề nghị Ban đại diện CMHS phối hợp quan tâm tạo điều kiện về vật chất tinh thần cho lớp hoạt động. Để làm được việc này giáo viên chủ nhiệm cần nắm bắt số điện thoại của phụ huynh học sinh, kịp thời liên lạc với phụ huynh khi có những tình huống nảy sinh. Qua điện thoại giáo viên chủ nhiệm có thể thường xuyên trao đổi về kết quả giáo dục trí dục, đức dục của học sinh cho phụ huynh các em. Và ngược lại qua thông tin của phụ huynh học sinh GVCN cũng nắm được tình hình cụ thể của từng em để điều chỉnh các biện pháp giáo dục cho hiệu quả. Ở trường tôi qua phiên họp phụ huynh, ngay từ đầu năm học chúng tôi đã lập danh bạ điện thoại của từng lớp và tôi thấy đây là việc làm rất có hiệu quả.

2. Phối hợp với giáo viên bộ môn.

- Bên cạnh đó việc phối kết hợp với giáo viên bộ môn cũng là việc làm cần thiết, giáo viên chủ nhiệm phải phối hợp với giáo viên bộ môn để nắm bắt tình hình học tập của học sinh lớp mình cũng như quá trình thực hiện nội quy trong các giờ học. Có những em thích môn học này nhưng không thích môn học kia vì những lí do khác nhau. GVCN cần tìm hiểu cặn kẽ các nguyên nhân để cùng với giáo viên bộ môn đề ra các biện pháp thích hợp nhằm giúp các em có  thể có kết quả học tập tốt hơn.

- Hơn nữa thông qua việc phối hợp với các giáo viên bộ môn GVCN cũng sẽ phát hiện năng khiếu cũng như sở thích của từng học sinh để có kế hoạch bồi dưỡng kịp thời các năng khiếu đó giúp các em phát triển một cách hoàn thiện hơn năng lực của mình. Thông qua phương pháp này GVCN có thể phân loại được kết quả học tập cũng như đạo đức của từng em trong lớp mình.

3. Phối kết hợp với tổ chức Đội Thiếu niện và Đoàn Thanh niên.

- Thực tế cho thấy giáo dục đạo đức học sinh hiệu quả nhất là thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Để làm tốt được điều này bản thân mỗi giáo viên chủ nhiệm phải phối kết hợp tốt với tổ chức Đội Thiếu niên và  Đoàn Thanh niên cũng như các tổ chức xã hội có liên quan. Thông qua các hoạt động tập thể do Đội Thiếu niên, Đoàn Thanh niên tổ chức, GVCN có trách nhiệm động viên học sinh, phối hợp thực hiện, chỉ đạo các em tham gia một cách tích cực. Qua những sân chơi này các em có cơ hội được bộc lộ khả năng sáng tạo, năng lực hoạt động của mình. Thông qua các hoạt động đó các em được tiếp cận với các tình huống trong thực tiễn và tự các em phải giải quyết tình huống, qua đó các em có thêm kĩ năng sống, kĩ năng giao tiếp và biết trân trọng giá trị sống. Quá trình thực hiện biện pháp này GVCN có thể thực hiện ở các hình thức sau:

         * Với tiết sinh hoạt lớp:                                                            

          Ngoài những nội dung thông thường của một tiết sinh hoạt lớp, GVCN cho học sinh nhận xét những ưu khuyết điểm của mình trong tuần học, hướng khắc phục và những nội dung triển khai nhiệm vụ của tuần tiếp theo thì bản thân người GVCN phải linh hoạt đổi mới hình thức, nội dung tổ chức tiết sinh hoạt lớp cho phù hợp với đặc thù học sinh của lớp mình.

Ví dụ:

- Khi thực hiện chủ đề hướng dẫn các hoạt động NGLL nhân kỉ niệm ngày Quốc tế 8/3, GVCN có thể tổ chức ngay ở lớp mình với hình thức kỉ niệm riêng. Tôi phối kết hợp với Đội Thiếu niên, các thày cô giáo bộ môn tổ chức buổi tọa đàm nói chuyện chuyên đề về “Cái duyên con gái”. Sau đó cho các em được trả lời các câu hỏi về giữ gìn, rèn luyện Công - Dung - Ngôn - Hạnh qua hình thức hái hoa dân chủ

                                     ( Hình ảnh minh họa}

Sau buổi sinh hoạt lớp ấy tôi nhận thấy đã có sự chuyển biến rõ rệt từ cử chỉ, thái độ, hành động của một số học sinh nữ trước đây còn mải chơi, đua đòi ăn mặc lố lăng .

         * Với tiết chào cờ:

GVCN có trách nhiệm đề xuất tham mưu với đồng chí Tổng phụ trách Đội và nhà trường thay đổi nội dung và hình thức của các tiết chào cờ đầu tuần.

         Ví dụ :

Ngoài những tiết chào cờ với những nội dung thường nhật như tổng kết, sơ kết đánh giá thi đua, nêu phương hướng nhiệm vụ trong tuần học tới thì chúng ta có thể thay đổi bằng các hình thức:

- Trong đợt thi đua kỉ niệm 85 năm ngày thành lập Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh (26/3/1931- 26/3/2016) Đội thiếu niên có thể tổ chức cho các lớp luân phiên cử đại diện học sinh lớp mình lên kể những câu chuyện về Bác Hồ, kể những tấm gương học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh mà các em biết (có thể trong lớp, trong trường, ngoài xã hội). Qua hoạt động này học sinh được giáo dục niềm kính yêu lãnh tụ, thấy được nhiệm vụ của học sinh là phải tu dưỡng rèn luyện đạo đức theo tấm gương của Bác.

                            (Video minh họa)

- Hay khi trường tôi thực hiện dự án “Đi tới trường an toàn - Về đến nhà an toàn”, tôi thấy việc đảm bảo an toàn giao thông khi tham gia giao thông được giáo viên và học sinh nhà trường rất quan tâm. Trong mỗi tiết chào cờ đầu tuần, đồng chí Tổng phụ trách Đội đã đưa ra các tình huống học sinh vi phạm an toàn giao thông do nhóm học sinh tự quản về trật tự ATGT cung cấp thông tin và hình ảnh, học sinh các lớp được phát biểu ý kiến chủ quan của mình xem học sinh đó vi phạm những lỗi nào, xử lí ra sao. Như vậy thông qua việc làm ấy các em được giáo dục các kĩ năng xử lí tình huống khi tham gia giao thông và hiệu quả là: Ý thức tham gia giao thông của học sinh trường tôi có sự chuyển biến tích cực rõ rệt.

* Đa dạng hóa các hình thức sinh hoạt tập thể.

Từ những việc làm ấy, tổ GVCN chúng tôi thấy rõ hiệu quả của công tác giáo dục đạo đức học sinh qua các hoạt động tập thể nên đã đề xuất với nhà trường tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp với quy mô toàn trường, tạo nhiều sân chơi bổ ích cho các em tham gia, đưa các em vào các hoạt động giáo dục lành mạnh. Thông qua đó giáo dục giá trị sống, kĩ năng sống cho các em, giúp các em dần hoàn thiện nhân cách của mình.

Ví dụ:

- Kỉ niệm 20/11 ngoài nội dung giáo dục truyền thống về ý nghĩa của ngày nhà giáo Việt Nam, GVCN đã phối hợp với ban lãnh đạo nhà trường, Đội Thiếu niên và  Đoàn Thanh niên, các giáo viên bộ môn tổ chức hội thi “Tiếng hát dân ca, hát về thày cô và mái trường” trong năm học 2010 – 2011, 2011- 2012. Để đến với hội thi chung kết vào ngày 20/11, các lớp tự lựa chọn bài hát, tự luyện tập, sáng tạo ra các động tác múa phụ họa. Nhiều em học sinh chưa chăm chưa ngoan ở các lớp khi được tham gia đã có chuyển biến tích cực như trường hợp em Trương Văn Việt lớp 9A.

                                             (video minh họa)

Cái đích lớn nhất mà GVCN chúng tôi nhận thấy là qua các cuộc thi này chúng tôi giáo dục các em truyền thống đạo lí không sáo mòn, khuôn mẫu mà linh hoạt. Các em tiếp nhận sự giáo dục ấy nhẹ nhàng. Hơn nữa từ các phong trào này chúng tôi cũng phát hiện những nhân tố tốt cho đội văn nghệ của nhà trường.

- Một ví dụ khác: Khi chúng tôi phối hợp với Đoàn, Đội tổ chức tiết ngoại khóa ATGT quy mô toàn trường dưới hình thức 3 đội chơi, mỗi đội có từ 3 đến 5 thành viên. Các em phải trả lời câu hỏi hiểu biết của các em những kiến thức đơn giản về ATGT như: đi đúng phần đường, làn đường, kĩ năng đội mũ bảo hiểm đúng quy cách, cách lựa chọn mũ bảo hiểm đảm bảo sự an toàn, cách nhận biết biển báo…Dưới sự hướng dẫn của giáo viên phụ trách, các đội thi đã sáng tạo các màn chào hỏi rất ấn tượng để trình diễn cho các thày cô và các bạn thấy được những hiểu biết của đội mình, còn các em khán giả được tham gia trả lời về tình huống giao thông, các biển báo….

Qua tiết ngoại khóa được tổ chức quy mô toàn trường như vậy chúng tôi nhận thấy hiệu quả của công tác giáo dục đạo đức cho các em rất tốt đồng thời vẫn giáo dục được kĩ năng phòng tránh tai nạn giao thông.

                       ( Ảnh đoạn video về ngoại khóa ATGT)

Ngoài giáo dục kĩ năng sống, giá trị sống qua hội thi các ngày kỉ niệm lớn, tổ GVCN chúng tôi cũng đề xuất với nhà trường tổ chức cho các em được đi tham quan tìm hiểu di tích lịch sử chùa Lác Nội ở địa phương. Qua hoạt động tham quan tìm hiểu này vừa khắc sâu kiến thức về các môn học Ngữ Văn, Lịch sử, Địa lí chúng tôi còn giáo dục cho các em niềm tự hào biết ơn của mình về giá trị văn hóa  lịch sử  tốt đẹp của quê hương.

                                (hình ảnh minh họa  )

Còn rất nhiều biện pháp khác, những con đường khác để có thể giáo dục đạo đức cho học sinh nhưng vì thời gian có hạn chúng tôi không thể trình bày hết được. Trên đây là những việc làm điển hình mà tổ chủ nhiệm trường THCS Thanh Hương đã và đang áp dụng thực hiện, bước đầu có hiệu quả rõ rệt.

Tuy nhiên có những lúc các biện pháp giáo dục đạo đức học sinh của tôi còn chưa thành công. Đối với trường hợp học sinh Vũ Ngọc Tân – lớp 9B (Năm học 2013– 2014) là một ví dụ. Hoàn cảnh gia đình em rất khó khăn: mẹ đi làm xa, em ở nhà với bà ngoại đã già yếu nên việc quản lí em rất khó khăn. Mặc dù GVCN đã phối kết hợp rất chặt chẽ với nhà trường, các giáo viên bộ môn, các tổ chức đoàn thể trong và ngoài nhà trường nhưng mẹ em Tân chưa thể hiện tinh thần trách nhiệm cao trong việc phối hợp với GVCN, không mặn mà cho con đến lớp nên bản thân em Tân không có sự chuyển biến: vẫn thường xuyên nghỉ học, giao lưu với thanh niên hư hỏng ngoài nhà trường dẫn đến em không đủ điều kiện dự xét TNTHCS. Đây là bài học mà tôi thấy rất thấm thía và trăn trở.

Có thể nói công việc của một GVCN lớp vất vả bởi có rất nhiều việc “có tên” và “không tên” mà người GVCN phải gánh trên vai nhưng được làm công tác chủ nhiệm vẫn là niềm vui, niềm hạnh phúc của những người đứng trên bục giảng bởi GVCN được các em học sinh tin tưởng, gửi gắm tâm tư tình cảm, có điều kiện gần gũi với các em, cảm nhận được tình cảm trân trọng yêu quý của các em dành cho mình. Từ đó bản thân mỗi giáo viên cũng tự nhận thấy trách nhiệm của mình trước các em học sinh, không ngừng học hỏi, rèn luyện, tu dưỡng để mãi mãi là tấm gương sáng cho các em học tập và noi theo.

D. Kết quả chất lượng giáo dục

      *  Kết quả giáo dục đức dục trong những năm gần đây:

Năm học

 

 

Loại Tốt

 

Loại Khá

Trung Bình

Loại Yếu

Loại Kém

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

2013 - 2014

 

329/365

90,1%

35/365

9.6

1/365

0.3%

0

0

0

0

2014 - 2015

347/379

91,6%

32/379

8,4

0/379

0%

0

0

0

0

2015 - 2016

360/387

93%

26/387

6,6

1/387

0,4%

0

0

0

0

 

 

 

   *  KÕt qu¶ gi¸o dôc trí dục các năm gần đây:

 

Năm học

 

 Giỏi

Loại Khá

Trung Bình

Loại Yếu

Loại Kém

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

2013 - 2014

 

62/365

17%

181/365

49,6%

106/365

29%

16/365

4.4%

0

0

2014 - 2015

73/379

19,3%

200/379

52,8%

95/379

25%

11/379

2,9%

0

0

2015 - 2016

74/387

19,1%

219/387

56,6%

84/387

21,8%

10/387

2,5%

0

0

 

 

 

E. Bài học kinh nghiệm:

Như vậy để làm tốt công tác giáo dục đạo đức học sinh, nhóm GVCN chúng tôi tự rút ra cho mình một số kinh nghiệm chính như sau:

- Bản thân GVCN phải xác định rõ vai trò, nhiệm vụ và trách nhiệm của mình, phải thực sự tâm huyết với công tác chủ nhiệm lớp, giàu lòng nhân ái, biết nuôi dưỡng ước mơ, khát vọng cho học sinh.

- Phải tìm hiểu kĩ đối tượng học sinh, nắm bắt kịp thời các thông tin về học sinh để xây dựng kế hoạch giúp đỡ giáo dục các em. GVCN phải sáng tạo linh hoạt trong việc thực hiện các kế hoạch giáo dục của nhà trường cũng như việc xử lí tốt các tình huống nảy sinh trong học sinh.

- GVCN phải làm tốt công tác tham mưu với tổ chức Đoàn, Đội và nhà trường để hoạt động giáo dục đạo đức đạt hiệu quả.

- Phải đa dạng hóa các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, phối kết hợp chặt chẽ với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, đưa các em vào các hoạt động tập thể để giáo dục giá trị sống, kĩ năng sống cho các em.

   G. Kiến nghị - Đề xuất

          Để giúp cho giáo viên chủ nhiệm làm tốt công tác giáo dục đạo đức học sinh nhóm GVCN trường THCS Thanh Hương xin có một vài ý kiến đề xuất sau:

1. Đối với GVCN:

- Cần làm tốt vai trò của một giáo viên chủ nhiệm được quy định tại điều 31- điều 32 trong Điều lệ trường trung học.

- Cần  tự bồi dưỡng về nhận thức, kiến thức và nghiệp vụ, có ý thức tự học, tự đúc rút kinh nghiệm qua từng hoạt động giáo dục. Cần thực hiện tốt việc phối hợp giữa nhà trường - gia đình và xã hội để việc giáo dục đạo đức học sinh đạt hiệu quả cao.

2. Đối với nhà trường:

- Để tổ chức phong phú các hoạt động ngoài giờ lên lớp đề nghị Đội Thiếu niên, Đoàn Thanh niên, nhà trường cần đầu tư kinh phí hợp lí và trang thiết bị đồng bộ để hoạt động giáo dục đạo đức học sinh đạt hiệu quả.

3. Đối với Phòng Giáo dục:

- Đề nghị Phòng GD - ĐT tiếp tục tổ chức các buổi hội thảo, giao lưu hoặc hội thi GVCN giỏi để GVCN được giao lưu, học hỏi đồng nghiệp những kinh nghiệm quý nhằm nâng cao kĩ năng xử lí các tình huống nảy sinh trong học sinh.

Có thể nói giáo dục đạo đức học sinh là một quá trình lâu dài, phức tạp đòi hỏi phải công phu, kiên trì, liên tục và lặp đi lặp lại nhiều lần. Kết quả của công tác giáo dục đạo đức học sinh còn phụ thuộc rất lớn vào nhân cách của người thày, tấm gương đạo đức của người thày sẽ tác động quan trọng đến việc học tập rèn luyện của các em. Vì vậy, mỗi giáo viên phải không ngừng rèn luyện, phấn đấu, xứng đáng là tấm gương đạo đức để học sinh noi theo.

Trên đây là những suy nghĩ, những việc đã đang và sẽ tiếp tục làm của nhóm GVCN trường THCS Thanh Hương trong quá trình làm công tác chủ nhiệm lớp. Trong buổi hội thảo này, chúng tôi mong muốn được đón nhận các ý kiến đóng góp trao đổi để nhóm giáo viên chủ nhiệm trường tôi có thêm kinh nghiệm và góp phần làm cho công tác giáo dục đạo đức học sinh ở các nhà trường có hiệu quả, có chiều sâu, có nề nếp đáp ứng đầy đủ yêu cầu của công cuộc đổi mới căn bản toàn diện giáo dục trong tình hình hiện nay .

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

 

Thanh Hương ngày 10    tháng 10 năm 2016

Người viết

 

 

Trần Thị Thanh Hà

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tác giả: thcsthanhhuong

Xem thêm

Bài giảng thi GVG tỉnh, môn Vật lí 6, Nguyễn Văn Cộng
Ngữ văn 6 -bài giảng thi GV dạy giỏi cấp Huyện năm 2017
Tiếng anh -bài giảng thi GV dạy giỏi cấp huyện năm 2017
Toán 8 -Tiết 25 -Qui đồng mẫu thức nhiều phân thức - bài giảng thi giáo viên dạy giỏi cấp huyện 2017
Bàn tay nặn bột -Vật lí 8-Bài 7 Áp suất - GV Nguyễn Văn Cộng