tin tức-sự kiện

Bài dự thi em yêu lịch sử Việt Nam

          Câu 1: Ngày 6/12/2012, UNESCO đã chính thức công nhận một tín ngưỡng ở Việt Nam là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại. Anh (chị) hãy cho biết đó là tín ngưỡng gì? Nêu những điều mà anh (chị) tâm đắc nhất về thời đại là nguồn gốc hình thành nên tín ngưỡng đó.  

 

Trả lời:  Ngày 6/12/2012, UNESCO đã chính thức công nhận Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ (Việt Nam) là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

          Thời đại Hùng Vương có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Đây là thời đại hình thành nên những giá trị về văn hoá để rồi trở thành những hằng số trong tiến trình phát triển của dân tộc Việt Nam.

 Đầu tiên phải kể đến là nghề nông trồng lúa nước đóng một vai trò quan trọng trong thời đại Hùng Vương. Trong các di chỉ khảo cổ thuộc các giai đoạn văn hoá Phùng Nguyên, Đồng Đậu đã tìm thấy các loại bào tử phấn hoa của nhiều loại giống lúa cũng như tìm thấy gạo cháy trong tầng văn hoá.

Một thành tựu quan trọng thứ hai trong thời đại Hùng Vương là sự ra đời và phát triển của nghề luyện kim. Vào giai đoạn văn hoá Phùng Nguyên, kỹ thuật luyện đồng mới ra đời nên dấu tích đồ đồng tìm thấy trong các di chỉ còn rất hiếm nhưng càng về sau hiện vật đồ đồng được tìm thấy càng nhiều.

          Song điều quan trọng nhất là từ những thành tựu nghiên cứu về thời đại Hùng Vương đã góp phần chứng minh một sự thật lịch sử: mọi người dân sinh sống trên mảnh đất Việt Nam đều có chung một nguồn cội, chúng ta đều là con Lạc cháu Hồng, dòng máu Lạc Hồng đó luôn chảy trong huyết quản của mỗi người dân đất Việt. Đó là cũng là yếu tố quan trọng hàng đầu giúp gắn kết toàn dân tộc thành một khối thống nhất, đưa đất nước vượt qua muôn vàn thử thách để phát triển ngày một giàu mạnh. Và ngày giỗ Tổ Hùng Vương hằng năm đã trở thành một ngày hội lớn của toàn dân tộc từ miền núi đến miền xuôi, từ miền Nam ra miền Bắc:

                                                 “Dù ai đi ngược về xuôi

                                     Nhớ ngày giỗ tổ mồng Mười tháng Ba”.

 

Lăng thờ vua Hùng ở Phú Thọ

Câu 2: Anh (chị) hãy nêu cảm nhận của mình về một sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc.

Trả lời: Lịch sử dân tộc ta có nhiều sự kiện đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong tiến trình dựng nước và giữ nước. Một trong những sự kiện tiêu biểu phải kể đến là chiến thắng Bạch Đằng năm 938.

                      Mô hình chiến thắng Bạch Đằng năm 938

Sông Bạch Đằng là cửa ngõ phía Đông Bắc và là tuyến giao thông quan trọng từ biển Đông vào đất Việt. Sông Bạch Đằng chảy qua một vùng núi non hiểm trở, có nhiều nhánh sông phụ đổ vào. Hạ lưu sông thấp, chịu ảnh hưởng của nước triều khá mạnh. Đây là nơi Ngô Quyền chọn làm địa điểm “quyết chiến chiến lược” với kẻ thù.

 Vào cuối năm 938, trời rét, gió đông bắc tràn về, mưa dầm lê thê kéo dài hàng nửa tháng. Chính trong những ngày ấy- theo kế hoạch của Ngô Quyền - hàng nghìn cây gỗ lim, sến, đầu vạt nhọn và bịt sắt được đem về cắm xuống hai bên bờ sông thành những hàng dài chắc chắn, đầu cọc hướng chếch về phía nguồn.

Theo dự kiến của Ngô Quyền, trận đánh sẽ diễn ra ở phía trong bãi cọc. Tướng Dương Tam Kha chỉ huy đội quân bên tả ngạn, Ngô Xương Ngập và Đỗ Cảnh Thạc chỉ huy đội quân bộ bên hữu ngạn, mai phục sẵn, phối hợp với thủy quân đánh tạt sườn đội hình quân địch và sẵn sàng diệt số quân địch chạy lên bờ. Từ cửa biển ngược lên phía trên là một đạo thủy quân mạnh phục sẵn do chính Ngô Quyền chỉ huy chặn ngay đường tiến của địch, chờ khi nước xuống sẽ xuôi dòng đánh lại đội binh thuyền địch. Trận địa bố trí vừa xong thì binh thuyền quân Nam Hán do Hoằng Thao chỉ huy từ Quảng Đông kéo sang. Chúng vừa vượt biển vào cửa sông Bạch Đằng đã bị dồn dắt vào thế trận bố trí sẵn của ta và bị tiêu diệt trong thời gian ngắn. Toàn bộ chiến thuyền của địch bị nhấn chìm xuống biển, hầu hết quân địch bị tiêu diệt, chủ soái Lưu Hoằng Thao bị giết tại trận.

Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 là một bước phát triển rực rỡ của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Ngô Quyền đã lợi dụng thời tiết và địa hình có lợi cho ta, tạo nên thế mạnh giáng cho quân xâm lược một đòn trời giáng, giành thắng lợi quyết định bằng một trận mai phục thủy chiến trên sông. Đây cũng là trận chung kết toàn thắng của dân tộc ta trên con đường đấu tranh chống Bắc thuộc, giành độc lập hoàn toàn. Chiến công hiển hách đó đã đập tan mưu đồ xâm lược của nhà Nam Hán, tạo cơ sở để Ngô Quyền phát triển chính quyền tự chủ của họ Khúc, họ Dương thành chính quyền độc lập, chấm dứt hoàn toàn thời Bắc thuộc kéo dài hàng nghìn năm trên đất nước ta.

Nối tiếp chiến thắng này, năm 1288 nhà Trần đã đánh bại quân Nguyên Mông lần thứ hai và địa danh này đã trở thành nguồn cảm hứng của nhiều nhà văn, nhà thơ trong đó phải kể đến bài thơ: "Bạch Đằng hải khẩu" của Nguyễn Trãi,  "Bạch Đằng giang phú "của Trương Hán Siêu.

 

Câu 3: Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, anh (chị) yêu thích nhất nhân vật lịch sử nào? Vì sao? Hãy trình bày hiểu biết của anh (chị) về nhân vật đó.

Trả lời: Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, em yêu thích nhất là Bác Hồ, bởi : Bác Hồ là vị lãnh tụ thiên tài của cách mạng Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới.

 

Bác Hồ có tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung. Bác sinh ngày 19/5/1890 trong một gia đình nhà nho yêu nước ở làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Với tinh thần yêu nước nồng nàn, sự nhạy bén về chính trị, Người đã bắt đầu suy nghĩ về những nguyên nhân thành bại của các phong trào yêu nước lúc bấy giờ và quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước vào ngày 05/06/1911. Đến tháng 7/1920, Bác đọc tác phẩm “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin đăng trên báo L"Humanité, số ra ngày 16 và 17/7/1920. Từ đây, Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc. Người đã tích cực truyền bá lí luận chủ nghĩa Mác - Lê Nin về nước, tích cực chuẩn bị về chính trị, về tổ chức cho việc thành lập chính Đảng cộng sản ở Việt Nam. Ngày 3/2/1930, tại Cửu Long (Hồng Kông), Người triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản trong nước, thống nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 2/9/1945, Bác đọc bản Tuyên ngôn độc lập tuyên bố  thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước Công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Ngày 2/9/1969, Bác từ trần, hưởng thọ 79 tuổi. Cuộc đời của Bác thật trong sáng, cao đẹp đó là cuộc đời của một chiến sĩ cộng sản vĩ đại, một anh hùng kiệt xuất của dân tộc đã đấu tranh không mệt mỏi vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì lý tưởng cộng sản, vì hòa bình và công lý trên thế giới. Tại cuộc họp lần thứ 24 (năm 1987) tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của liên hợp quốc (UNESCO) ra nghị quyết về kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh "Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam và là một nhà văn hóa lớn" vào năm 1990.

 

Câu 4: Ở tỉnh, thành phố quê hương anh (chị) có những di sản văn hóa (vật thể và phi vật thể) tiêu biểu nào? Anh (chị) hãy giới thiệu về một di sản văn hóa của quê hương mà anh (chị) ấn tượng nhất. Theo anh (chị), cần phải làm gì để bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa đó?

     Trả lời:  Nam quê em là vùng đất nghèo, song con người Hà Nam thân thiện, mến khách và có truyền thống hiếu học. Trên mảnh đất này đã xuất hiện những làn điệu dân ca hát Dặm độc đáo và trở thành di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam và thế giới. Đó chính là hát Dậm (hay còn gọi là hát Dặm) – loại hình ca múa nhạc dân gian chỉ có ở làng Quyển Sơn, xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng Trải qua hơn 1000 năm, đến nay các nghệ nhân đã sưu tập được 38 làn điệu. Mỗi làn điệu lại có một nội dung và nghệ thuật thể hiện khác nhau. Chính sự phong phú đa dạng này đã tạo nên nét độc đáo quyến rũ của hát Dặm.

Nghệ nhân truyền dạy hát Dặm cho thế hệ trẻ của làng.

 

 

Hát Dặm không cầu kỳ, phức tạp về nhạc cụ và trang phục như những loại hình âm nhạc khác. Tính chất dân dã thôn quê mộc mạc của hát Dặm đã biến thứ âm nhạc lễ hội dâng lên thần thánh này trở nên gần gũi dễ nghe, dễ hiểu, dễ hát, dễ nhớ đối với những người nông dân quanh năm với ruộng đồng. Những điệu múa trong hát Dặm cũng tương đối đơn giản, không có nhiều động tác cầu kỳ. Hát Dặm là hình thức ca múa nhạc dành cho những lễ hội đặc biệt của làng từ ngày 10/1 đến ngày 10/2 (âm lịch), với sân khấu biểu diễn chỉ có thể hát ở nội cung đình và sân đền. Điều đặc biệt nhất của hát Dặm là không thể đơn ca hay song ca như những loại hình âm nhạc khác. Lối hát tập thể, đồng ca, tiếp sức nhau hay còn gọi là hát đối, hát kèo đan xen giữa thời gian hát nối là biểu hiện đặc trưng nhất của hát Dặm.

 

Giống như đất nước và con người Việt Nam, hát Dặm cũng trải qua bao biến cố thăng trầm. Rất nhiều năm tháng, hát Dặm đã bị chìm vào lãng quên và đứt đoạn liên miên. Hiểu được giá trị vô cùng to lớn của hát Dặm, các thế hệ sau đã quyết tâm giữ cho được những làn điệu của quê hương mình. Bắt đầu từ nghệ nhân Trịnh Thị Răm, từ cụ, hát Dặm đã bay xa, lan tỏa tới tận 16 nước trời Âu. Thế giới đã biết đến hát Dặm Quyển Sơn và ghi nhận nó như là báu vật của nhân loại. Trải qua hơn một ngàn năm đầy sóng gió, trải qua bao thăng trầm của lịch sử, cho đến ngày nay, những làn điệu hát Dặm làm đắm say, mê mẩn và lay động trái tim, tâm hồn con người vẫn ngân lên da diết, ma mị không bao giờ dứt như những tiếng lòng của ngàn xưa trôi đến bây giờ và mãi mãi về sau!         

 Để bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa chúng ta cần phải:

Tích cực tuyên truyền, phổ biến Luật Di sản văn hoá đến mọi người dân, đặc biệt là lớp trẻ, học sinh, sinh viên…đồng thời ban hành các quy chế, quy định về việc bảo tồn, bảo vệ các di sản văn hoá ở địa phương.

 Với các di sản văn hoá xuống cấp, khi tiến hành trùng tu, tôn tạo phải đảm bảo nguyên hiện trạng ban đầu, không phá vỡ tính chất “cổ” của di sản.

 Chúng em mong muốn nhà nước có chính sách đãi ngộ hợp lí đối với những người làm công tác bảo tồn các di sản văn hoá, có kế hoạch đào tạo tầng lớp kế thừa các di sản văn hoá phi vật thể để các di sản đó không bị mai một.

 Tuyên truyền các tầng lớp nhân dân tích cực tham quan, tìm hiểu về các di sản văn hoá. Đào tạo những người thuyết minh di sản văn hóa bài bản, có chiều sâu để việc giới thiệu và quảng bá các di sản văn hóa sẽ đến với với đông đảo mọi tầng lớp nhân dân cũng như bạn bè thế giới.

 Các địa phương cần tạo nguồn kinh phí để bảo tồn và trùng tu các di sản văn hoá.

 Với những việc làm trên, em nghĩ rằng việc bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa dân tộc sẽ đạt kết quả tốt hơn.

 

Câu 5:                        “Dân ta phải biết sử ta,

Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”

Anh (chị) hãy cho biết hai câu thơ trên là của ai. Nêu ý nghĩa của hai câu thơ đó. Theo anh (chị), cần phải làm gì để người học yêu thích môn Lịch sử?

 

         Trả lời:  Hai câu thơ trên là của Bác Hồ. Qua 2 câu thơ, Bác dạy chúng ta phải học, phải hiểu và biết tường tận, cụ thể gốc tích lịch sử nước nhà. Đây không chỉ là lời kêu gọi mà còn là yêu cầu của Bác với toàn thể nhân dân. Mọi người cần phải hiểu rõ lịch sử dân tộc, bởi lịch sử là những gì thuộc về quá khứ, nếu không có quá khứ sẽ không có hiện tại và tương lai. “Biết” quá khứ để rút kinh nghiệm và vận dụng vào hiện tại và tương lai tốt hơn.

Trong những năm gần đây, qua các phương tiện thông tin đại chúng, em được biết vẫn có những bạn học sinh còn coi nhẹ, không yêu thích học môn Lịch sử (kể cả một số bạn trong lớp em), một số bạn không nắm được các sự kiện lịch sử cũng như các mốc lịch sử  trọng đại của dân tộc. Để học sinh chúng em yêu thích môn Lịch sử, theo em nghĩ : 

 Các thầy cô giáo luôn có những phương pháp giảng dạy mới, phù hợp, thường xuyên ứng dụng CNTT để những bài học lịch sử trở nên hấp dẫn, sinh động, lôi cuốn và khích lệ lòng ham mê của học sinh đối với môn học này.

           Nhà trường tổ chức nhiều hơn nữa các buổi tham quan tìm hiểu các di tích lịch sử, các buổi nói chuyện truyền thống, các cuộc thi tìm hiểu về Lịch sử để thu hút chúng em tham gia, từ đó khơi dậy trong mỗi chúng em lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc.

           Với các bạn học sinh, em mong muốn các bạn hiểu được trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc giữ gìn và phát huy truyền thống của dân tộc, đặc biệt là truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước kiên cường của nhân dân ta, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp trong đó có cả vấn đề về Biển Đông. Các bạn hãy tích cực tìm hiểu trên các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là trên mạng Internet về lịch sử và những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta.

 Với các bậc cha mẹ học sinh chúng em mong muốn cha mẹ hãy có sự nhìn nhận và đánh giá đúng mức về vai trò của môn học Lịch sử trong nhà trường để có sự định hướng đúng đắn cho các con học tập. Tránh trường hợp chỉ định hướng cho các con tập trung học các môn như Toán, Lí, Hóa, Anh…

Theo em nên đưa môn Lịch sử là môn thi bắt buộc.

Với những suy nghĩ đó, em hi vọng rằng các bạn học sinh sẽ yêu thích môn Lịch sử hơn.

Tác giả: Trường THCS Thanh Hương

Xem thêm

Bài giảng thi GVG tỉnh, môn Vật lí 6, Nguyễn Văn Cộng
Ngữ văn 6 -bài giảng thi GV dạy giỏi cấp Huyện năm 2017
Tiếng anh -bài giảng thi GV dạy giỏi cấp huyện năm 2017
Toán 8 -Tiết 25 -Qui đồng mẫu thức nhiều phân thức - bài giảng thi giáo viên dạy giỏi cấp huyện 2017
Bàn tay nặn bột -Vật lí 8-Bài 7 Áp suất - GV Nguyễn Văn Cộng