tin tức-sự kiện

Cuộc thi vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các tình huống trong thực tiễn năm học 2015 - 2016

     

           Năm học 2015 - 2016 trường THCS Thanh Hương đã tổ chức cuộc thi vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các tình huống trong thực tiễn cấp trường và đã lựa chọn được 4 sản phẩm dự thi cấp Huyện. Có 2 sản phẩm tiếp tục được dự thi cấp Tỉnh.

         Nội dung bài dự thi được lựa chọn thi cấp Tỉnh

1. 

BÀI DỰ THI

VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN

ĐỂ GIẢI QUYẾT CÁC TÌNH HUỐNG THỰC TIỄN

LÀM THẾ NÀO ĐỂ CHẾ TẠO ĐƯỢC HỆ THỐNG MÁY PHÁT ĐIỆN, MÁY BƠM ĐA NĂNG GIÁ THÀNH THẤP

 

I. TÊN TÌNH HUỐNG

          Làm thế nào để chế tạo được "Hệ thống máy phát điện - máy bơm đa năng" đáp ứng được nhu cầu sử dụng của người nông dân với giá thành thấp.

II. MỤC TIÊU GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG

Thiết kế Hệ thống máy phát điện - máy bơm đa năng” cho vùng nông thôn Việt Nam với mục tiêu:

- Thuận tiện sử dụng điện khi mất điện.

- Thuận tiện tưới tiêu, phun thuốc bảo vệ thực vật cho cây (Đặc biệt là cây lúa), phun thuốc diệt muỗi, khử trùng,....trong nhà ở, các trang trại,...

- Giảm sức người, nâng cao năng suất lao động.

-  Tận dụng các thiết bị phế liệu.

III. TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG

          Qua thực tế chúng em quan sát thực trạng việc sử dụng điện, tưới tiêu, phun thuốc của người nông dân. Quan sát các loại máy nổ, máy phát điện, phun thuốc trừ sâu trên thị trường. Từ những quan sát đó kết hợp với bài giảng của các thầy giáo, cô giáo; nghiên cứu sách giáo khoa; các tài liệu liên quan các loại máy nổ, máy phát điện, máy phun thuốc, máy bơm nước,.... Nhóm chúng em có ý tưởng sử dụng các phế liệu như máy nổ cũ, cuộn dây,... để thiết kế ra một "Hệ thống máy phát điện - máy bơm đa năng" đạt được các mục tiêu trên.

IV. GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG

- Vận dụng kiến thức liên môn của các môn:

          + Môn Toán: Tính toán chiều cao, chiều rộng, chiều dài,…. (Các bài liên quan như: Chương IV: Hình trụ, hình nòn, hình cầu, Bài 1: Hình trụ - lớp 9;...)

          + Môn Hóa học: Sự biến đổi chất (hóa 8,9)

          + Môn Vật lý: Mạch điện (Vật lí 7, 9)

          + Môn Công nghệ: Vẽ kĩ thuật và Cơ khí. (Các bài liên quan như: Phần I: Vẽ kĩ thuật, Phần II: Cơ khí – lớp 8;...)

          + Môn Giáo dục công dân: Ý thức trách nhiệm với cộng động, ý thức lao động. (Bài liên quan như: Bài 11: Lao động tự giác và sáng tạo – lớp 8; Bài 8: Năng động, sáng tạo – lớp 9;....)

V. THUYẾT MINH TIẾN TRÌNH THỰC HIỆN TÌNH HUỐNG

          1. Thời gian giải quyết tình huống

                    Từ tháng 9 năm 2015 đến tháng 11 năm 2015.

          2. Tư liệu sử dụng trong việc giải quyết tình huống

          - Sách giáo khoa thuộc chương trình THCS (Môn toán, vật lí, hóa học, công nghệ, giáo dục công dân.)

          - Thông tin trên mạng internet về các loại máy: phát điện, bơm nước.

          3. Các thiết bị sử dụng trong việc giải quyết tình huống

          - Máy nổ hon đa cũ, cuộn dây máy giặt cũ, bộ phận bơm li tâm.

          - Ampeke, vonke, dây dẫn điện, bóng điện.

          - Kìm, tuavit, bút thử điện, kéo.

          - Máy tính, máy in, máy ảnh.

          .............

          4. Bài viết để giải quyết tình huống

            Vận dụng kiến thức các môn học, chúng em có ý tưởng chế tạo ra một "Hệ thống máy phát điện - máy bơm đa năng"  bằng những vật liệu, thiết bị cũ để có thể vừa tận dụng được thiết bị, vật liệu cũ, vừa có thể cung cấp điện, bơm nước tưới tiêu, phun thuốc bảo vệ thực vật... phù hợp với túi tiền của người nông dân.

          4.1. Phương pháp nghiên cứu.

          4.1.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu

          - Nghiên cứu sách giáo khoa vật lí 9

          - Tìm hiểu các thông tin trên mạng về máy phát điện, máy bơm.

          4.1.2. Phương pháp thực nghiệm 

          Chúng em vận dụng kiến thức các thầy, cô giáo đã giảng dạy (đặc biệt kiến thức của môn Vật lí), chúng em đã thử nghiệm bằng cách dùng tay quay cuộn dây của động cơ máy bơm (có nam châm vĩnh cửu), khi nối hai đầu dây của cuôn dây với bóng đèn LED thì thấy đèn sáng. Như vậy, nếu lấy một động cơ của xe máy cũ nào đó làm quay cuộn dây xung quanh nam châm thì có thể phát ra điện và lấy nguồn điện đó để sử dụng.

          4.1.3 Phương pháp quan sát

          Qua thực tế chúng em thấy người nông dân trồng lúa phải phun thuốc trừ sâu cho cây lúa theo từng thời điểm . Khi phun người nông dân phải mang đeo trên mình bình thuốc sâu 20 lít, đã độc hại lại phải mang vác nặng nề.

          Ở nông thôn khi mất điện đa số sử dụng nến để thắp sáng, một số gia đình sử dụng bình ác quy để thắp sáng, chạy quạt,..., gia đình nào có điều kiện hơn sử dụng máy phát điện (rất ít gia đình có điều kiện sử dụng).

          Khi bơm nước tưới tiêu cho cây lúa, người nông dân hay sử dụng máy bơm nước có sẵn trên thị trường giá khoảng 1500 000 đồng/1 chiếc. Với mức giá này, người nông dân có thể mua được nhưng nếu chỉ sử dụng để tưới tiêu thì rất lãng phí.

          Từ thực tế đó, nhóm chúng em có ý tưởng tận dụng các loại máy cũ (phế liệu) không còn phù hợp với chức năng vốn có của nó như: máy nổ của xe Hon đa, cuộn dây của máy giặt, máy bơm nước...để chế tạo "Hệ thống Máy phát điện - Máy bơm đa năng" giúp cho các bác nông dân giảm chi phí trong sản xuất, giải phóng sức lao động, góp phần nâng cao năng suất lao động.

          4.2. Quy trình thực hiện.

 

 

Ảnh chụp Hệ thống Máy phát điện - Máy bơm đa năng

           

 

 

 

 

4.2.1 Nối lại các đầu dây trong cuộn dây máy giặt (phần phát điện)

          a. Cách nối lại dây trong cuộn dây máy giặt cũ

          Trong cuộn dây máy giặt cũ có 36 cuộn được nối tiếp với nhau. Để có dòng 12V ổn định và cường độ dòng điện tăng lên so với cách nối nguyên bản thì phải nối lại các cuộn dây như hình dưới dây.

                                       

         

 

 

          b. Cách chuyển đổi dòng xoay chiều 3 pha thành dòng DC

          Mục đích: chuyển đổi dòng xoay chiều 3 pha thành dòng DC 12V bằng 6 điốt để tạo ra hiệu điện thế và dòng điện phù hợp với máy bơm cao áp.

 

 

Sơ đồ mạch điện chuyển đổi dòng 3 pha thành dòng DC

 

          4.2.2 Lắp ráp các bộ phận

          a. Lắp ráp động cơ nổ với phần phát điện (hình 1)

          Sử dụng động cơ nổ làm quay cuộn dây (phần phát điện) thông qua hệ thống dây xích và đĩa.

          b. Lắp ráp bộ phận bơm li tâm vào máy nổ (hình 2)

          Gắn bộ phận bơm vào máy nổ bằng trục kim loại

 

             

 

       
 

Hình 1: Máy nổ và cuộn dây

 

Hình 2: Máy nổ và bơm li tâm

 

 

 

 

 

     

c. Lắp ráp hệ thống máy bơm cao áp và phần quấn dây bơm (hình 3)

          Trục quấn dây được làm rỗng và quay nhờ hai vòng bi. Trục được nối với máy bơm cao áp bằng dây dẫn nước có khớp động.

 

Hình 3: Phần quấn dây và bơm cao áp

                                       

 

 

4.3. Vận hành máy

          4.3.1 Chức năng 1: Phát điện

          - Bước 1: Đổ xăng vào bình, nổ máy, vào số 4.

          - Bước 2: Lấy nguồn điện từ ổ cắm cung cấp cho các thiết bị điện hoạt động theo yêu cầu sử dụng.

          4.3.2. Chức năng 2: Bơm cao áp.

- Bước 1: Bơm nước vào bình chứa, pha thuốc.

          - Bước 2: Thực hiện như bước 1, 2 của chức năng phát điện.

          - Bước 3: Cắm phích điện của máy bơm vào nguồn điện để máy bơm cao áp hoạt động. Kéo vòi, cần phun và phun thuốc.

          4.3.3. Chức năng 3:  Bơm li tâm

- Bước 1: Đặt ống hút của máy bơm vào nguồn nước. Mồi nước vào ống máy bơm.

- Bước 2: Nổ máy cho máy bơm hoạt động.

            4.4. Kết quả

4.4.1. Số liệu/kết quả nghiên cứu

a. Chức năng 1: Phát điện

          Dòng điện 3 pha chuyển thành dòng DC/12V bằng đi ốt cầu (công suất khoảng 300w).

          b. Chức năng 2: Bơm cao áp

Nhiên liệu: xăng (lít)

Thể tích chất lỏng bơm được (lít)

Diện tích phun (m2)

Thời gian phun (phút)

0,03

16

360

5 - 6

          c. Chức năng 3: Bơm li tâm

Nhiên liệu: xăng (lít)

Thể tích chất lỏng bơm được (lít)

Diện tích bơm (m2)

Thời gian bơm (phút)

0,4

36.000

360

180

4.4.2. Xử lý, phân tích số liệu

Chức năng 1: Dòng DC 12V ổn định, có thể dùng để sạc bình ắc quy 12V, thắp đèn 12V....

          Chức năng 2: Bơm thuốc bảo vệ thực vật hiệu suất cao: dùng vòi phun 10 bec (mắt ra), áp lực phun lớn.

          Chức năng 3: Bơm nước thuận tiện. Lưu lượng nước 200 lít/phút.

                        4.5. Kết luận:

Như vậy, nhóm chúng em đã vận dụng kiến thức của nhiều môn học đã chế tạo được "Hệ thống Máy phát điện - Máy bơm đa năng"  hoạt động đa năng:

          Động cơ nổ dùng để hoạt động các bộ phận: phát điện, bơm nước lưu lượng 200 lít/phút (bơm li tâm). Máy phát điện ra dòng 3 pha chuyển đổi thành dòng DC 12V cung cấp cho máy bơm cao áp hoạt động, dùng để phun thuốc, tưới tiêu, rửa xe...

Các chức năng có thể hoạt động độc lập hoặc có thể hoạt hoạt động cùng một lúc. Đặc biệt 2 chức năng: bơm nước li tâm và phun thuốc trừ sâu có thể hoạt động đồng thời rất thuận tiện cho nhà nông.

Khi vận chuyển có thể tháo rời các bộ phận hoặc vận chuyển cả hệ thống máy bằng các bánh xe.

Tóm lại, hệ thống máy đã giải quyết được ba vấn đề chính:

Phát điện (Công suất khoảng 300W): Sử dụng dòng điện 1 chiều 12V để thắp sáng, chạy quạt, sạc ắc quy,...

Bơm cao áp: Dùng dòng điện 1 chiều ở chức năng 1 cung cấp cho máy bơm cao áp hoạt động để phun thuốc bảo vệ thực vật, phun thuốc diệt muỗi, thuốc khử trùng, rửa xe, cứu hỏa…

Bơm li tâm: Dùng để tưới tiêu.

VI. Ý NGHĨA CỦA VIỆC GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG

- Ở tình huống này khi vận dụng kiến thức liên môn của những môn học Toán, Lý, Hóa, Công Nghệ, GDCD sẽ giúp chúng em đem kiến thức đã học vận dụng vào thực tế có hiệu quả. Từ đó giúp chúng em yêu thích các môn học hơn làm tăng hứng thú, niềm say mê học tập.

- "Hệ thống máy phát điện - máy bơm đa năng" đã giả quyết vấn đề mất điện; giúp cho người nông dân đỡ vất vả khi chăm sóc hoa mầu.

- Từ việc giải quyết tình huống này giúp cho chúng em có ý thức trách nhiệm với bản thân và quan tâm tới cộng đồng nhiều hơn.

 

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

 

 

 

 

Thanh Hương, ngày 17 tháng 12 năm 2015

NHÓM TÁC GIẢ

 

 

 

 

 

XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG

HIỆU TRƯỞNG

 

2. 

 

BÀI DỰ THI

VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN

ĐỂ GIẢI QUYẾT CÁC TÌNH HUỐNG THỰC TIỄN

BẢO TỒN THIÊN NHIÊN, DI TÍCH LỊCH SỬ, VĂN HÓA

NÚI CẤM - ĐỀN TRÚC - NGŨ ĐỘNG THI SƠN

           (Thôn Quyển Sơn, xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam)

 

1. Tên tình huống:

          Bảo tồn thiên nhiên, di tích lịch sử, văn hóa: Núi Cấm - Đền Trúc - Ngũ Động Thi Sơn.

2. Mục tiêu giải quyết tình huống:

           - Giới thiệu chung về di tích lịch sử, văn hóa Núi Cấm - Đền Trúc - Ngũ Động Thi Sơn:

          + Vị trí địa lí

          + Lịch sử hình thành.

          - Đặc điểm của di tích - Thực trạng về cảnh quan của di tích

          + Đặc điểm tự nhiên

          + Đặc điểm kiến trúc

          + Gắn với sự kiện - nhân vật lịch sử, phong tục tập quán hoặc nét văn hóa nào.

          - Ý nghĩa của di tích - Bảo tồn và phát triển.

3. Tổng quan về các nghiên cứu liên quan đến việc giải quyết tình huống:

          - Lịch sử hình thành di tích lịch sử, văn hóa Núi Cấm - Đền Trúc - Ngũ động Thi Sơn

          - Vị trí địa lí

          - Đặc điểm tự nhiên, kiến trúc của di tích; Thực trạng về cảnh quan của di tích

          - Giá trị lịch sử, văn hóa tâm linh của Núi Cấm - Đền Trúc - Ngũ động Thi Sơn. Hướng bảo tồn và phát triển.

4. Giải pháp giải quyết tình huống:

          Vận dụng các kiến thức liên môn để giới thiệu về Núi Cấm - Đền Trúc - Ngũ động Thi Sơn; Bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan của di tích.

          - Môn Lịch sử: Nguồn gốc hình thành (gắn với sự kiện - nhân vật lịch sử)

          - Môn Ngữ văn:

          + Tác giả bài thơ “Sông núi nước Nam” (Ngữ văn 7, tập I).

          + Chương trình địa phương Ngữ văn 7: Tiết 133: Khái quát về tục ngữ, ca dao, dân ca Hà Nam; Tiết 134: Tìm hiểu và sưu tầm ca dao, dân ca Hà Nam.

          + Sử dụng các phương thức biểu đạt: Tự sự, Miêu tả, Biểu cảm, Thuyết minh.

          - Môn Âm nhạc: Hát Dậm Quyển Sơn - Dân ca Hà Nam.

          - Môn Địa lí: Vị trí địa lí, địa hình núi non, hang động.

          - Môn GDCD: Bài học về tình yêu quê hương, đất nước, nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc; Yêu thiên nhiên, sống hòa hợp với thiên nhiên; Ý thức, trách nhiệm về bảo tồn di tích lịch sử, văn hóa, thắng cảnh của địa phương nói riêng và của đất nước nói chung.

5. Thuyết minh tiến trình giải quyết tình huống:

 5.1. Quá trình thực hiện:

          - Tìm hiểu về di tích: Thông qua lời kể của người dân, qua mạng Internet và qua thực tế quan sát.

          - Trao đổi, thảo luận: Sau khi tìm hiểu và ghi chép lại những thông tin cần thiết về di tích, hai chúng em cùng trao đổi để đi đến thống nhất lựa chọn nội dung để viết bài.

          - Lập dàn ý cơ bản:

          a.  Đặt vấn đề: Giới thiệu chung về di tích

          b.  Giải quyết vấn đề: Giới thiệu cụ thể về di tích

          + Vị trí địa lý của di tích

          + Huyền tích Núi Cấm

          + Lễ hội Đền Trúc gắn liền với hát Dậm Quyển Sơn - Dân ca Hà Nam

          + Hệ thống hang động của Ngũ Động Thi Sơn.

          + Thực trạng và bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan của di tích.

          c. Kết thúc vấn đề:

          + Khẳng định ý nghĩa lịch sử, văn hóa của di tích.

          + Suy nghĩ, thái độ của bản thân.

          - Viết hoàn thiện bài.

 5.2. Tư liệu, thiết bị sử dụng:

          - Sách báo, tạp chí, tranh ảnh; Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Hà Nam môn Ngữ văn 7 - Sở GD&ĐT Hà Nam.

          - Ứng dụng công nghệ thông tin: Tìm kiếm thông tin trên mạng Internet.

          - Nghe người dân địa phương kể lại.

          - Máy tính, máy chụp ảnh...

5.3. BẢO TỒN THIÊN NHIÊN, DI TÍCH LỊCH SỬ, VĂN HÓA NÚI CẤM - ĐỀN TRÚC - NGŨ ĐỘNG THI SƠN

Nhà chúng em ở cách xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam không xa. Từ nhỏ chúng em đã được nghe kể về di tích Núi Cấm - Đền Trúc - Ngũ Động Thi Sơn. Lên lớp 7, khi học đến bài thơ “Sông núi nước Nam”, chúng em cùng có mong muốn tìm hiểu về địa danh này, nơi mang dấu ấn của vị anh hùng dân tộc thế kỉ XI: Thái úy Lý Thường Kiệt. Đồng thời đó cũng là cái nôi của một làn điệu dân ca Hà Nam: Hát Dậm Quyển Sơn.

        Đền Trúc - Ngũ Động Thi Sơn thuộc thôn Quyển Sơn, xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam thờ người anh hùng dân tộc Thái úy Lý Thường Kiệt. Đây không chỉ là di tích lịch sử mà còn là khu danh lam thắng cảnh với phong cảnh thiên nhiên sơn thủy hữu tình, núi non trùng điệp, có rừng trúc đẹp như trong thơ Nguyễn Trãi “Trong rừng có trúc bóng râm; Trong màu xanh mát ta ngâm thơ nhà” (“Bài ca Côn Sơn” - Nguyễn Trãi) và  nhiều hang động núi đá vôi có hình thù độc đáo.

         Từ thành phố Phủ Lý, đi đường 21A theo hướng Khả Phong - Kim Bảng khoảng 8km ta đến khu di tích này.

 

Vào cổng, nhìn về phía tay trái, có một quả núi nhỏ hình dáng con sư tử, được gọi là Núi Cấm. Truyện kể rằng,  năm 1069, đoàn thuyền chiến của Lý Thường Kiệt trên đường đi chinh phạt quân Chiêm Thành ở phương Nam, khi qua đây bỗng một trận gió lớn ào ào thổi tới, bẻ gãy cả cột buồm rồi cuốn lá cờ lớn của đoàn quân lên đỉnh núi. Cùng lúc có 3 sự kiện: Cột buồm gãy, trời về chiều và đổ mưa lớn, đoán là có điềm báo, ông bèn mở sách binh pháp ra xem và quyết định cho thuyền dừng lại, cùng quân sĩ lên bờ sửa lễ tế trời đất, tế thần linh để cầu đại thắng. Lần đó, thắng lớn trở về, Lý Thường Kiệt đã cùng đoàn quân lập doanh trại tại đây để làm lễ tạ ơn, khao thưởng ba quân và mở hội cho dân làng ăn mừng chiến thắng. Lễ hội kéo dài hàng tháng với rất nhiều trò vui. Sự kiện lá cờ bị gió cuốn đã khiến Lý Thường Kiệt đặt tên cho ngọn núi là Cuốn Sơn. Do cảnh quan ở đây rất đẹp và linh thiêng, sợ quân sĩ của mình (lúc này có tới hơn một vạn quân sĩ) và dân làng lên núi phóng uế hoặc làm ảnh hưởng thiên nhiên, môi trường nên Lý thường Kiệt ra lệnh cấm lên núi. Lệnh cấm đó tự nhiên trở thành tên gọi khác của núi Cuốn Sơn (núi Cấm) và được sử dụng cho đến ngày nay.

 

Núi Cấm

(Thi Sơn - Kim Bảng - Hà Nam)

       

Về sau, để tưởng nhớ công lao của vị tướng tài “túc trí đa mưu” - tác giả của bài thơ thần nổi tiếng “Sông núi nước Nam” - Bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của nước ta, dân làng Cuốn Sơn đã lập đền thờ Thái úy Lý Thường Kiệt ở chính nơi ông đã mở hội ăn mừng, đó là Đền Trúc.

 

Lối vào Đền Trúc - Bạt ngàn trúc xanh

 

 

Đền Trúc - Nằm cạnh sông Đáy

 Đền Trúc được dựng bằng gỗ lim, cao trên 6m. Nhà tiền đường là một công trình 5 gian. Hệ thống vì kèo biến thể kiểu giá chiêng đồng rường con nhị xuất hiện vào cuối thế kỷ 17 và phổ biến vào cuối thế kỷ 19. Ba gian hậu cung được xây dựng cùng một phong cách với nhà tiền đường, có 2 đầu bịt đốc, lợp ngói nam, xây bằng gạch thất, bắt mạch để trần. Trên hệ thống cửa có chạm trổ theo các đề tài tứ quý.

Về thăm Đền Trúc, mọi người đừng quên thắp nén nhang thơm để tưởng nhớ vị anh hùng dân tộc - Thái úy Lý Thường Kiệt.

 

Đền Trúc (Phía trước)

 

Đền Trúc (Hậu cung)

 

Hằng năm, lễ hội Đền Trúc được mở vào dịp đầu xuân từ mùng 10 tháng Giêng đến mùng 6 tháng Hai âm lịch. Tại đây, nhiều hoạt động tín ngưỡng, văn hóa diễn ra và nét nổi bật nhất của lễ hội là trò hát Dậm gồm 30 tiết mục với hơn 1.000 câu thơ, tương truyền do Lý Thường Kiệt sáng tác. Hát Dậm (hay còn gọi là hát Dặm) – loại hình ca múa nhạc độc đáo chỉ có ở làng Quyển Sơn, xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng (Hà Nam). Trải qua hàng trăm năm, hát Dậm vẫn tồn tại với những nét độc đáo riêng. Đến nay những điệu hát Dậm được các nghệ nhân mang đi giới thiệu tại 16 quốc gia trên thế giới. Đây một loại hình ca múa nhạc  dân gian vô cùng độc đáo, qua hơn 1000 năm, đến nay đã sưu tập được 38 làn điệu. Mỗi làn điệu lại có một nội dung và nghệ thuật thể hiện khác nhau. Chính sự phong phú đa dạng này đã tạo nên nét độc đáo, quyến rũ của hát Dậm. Có vui, có buồn; có bi, có hùng; có dài, có ngắn; có êm xuôi phẳng lặng; có gập ghềnh trắc trở; có thực tế, lãng mạn bay bổng hay nội tâm thẳm sâu hun hút, y như hiện thực cuộc sống của con người. Toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội, tôn giáo của người  dân xưa kia đã được phản ánh đầy đủ và rõ nét trong những làn điệu phiêu linh ấy ...

 

 

Ông Đỗ Trí Viễn - Cựu chiến binh - Thành viên Ban quản lí khu di tích

Kể về anh hùng Lý Thường Kiệt, huyền tích Núi Cấm - Đền Trúc và hát Dậm

 

 

 

Một cảnh Hát Dậm Quyển Sơn

HÁT DẬM QUYỂN SƠN

(Trích)

Khách về thăm Ngũ Động Sơn

                                      Thăm khu đền Trúc, gió vờn tóc mây

                                            Thi Sơn Ngũ Động là đây

                                       Nghe câu hát Dậm càng say lòng người

                                             Cảnh quan thiên tạo tuyệt vời

                                       Bên sông, bên lộ núi ngồi ung dung

                                              Ngàn xưa dấu tích oai hùng

                                       Chiến công oanh liệt ghi trong sử vàng

                                              Vào mùa hoa nở xuân sang

                                       Gần xa nô nức hội làng chung vui

                                              Trên hát Dậm, dưới thuyền bơi

                                       Cụ già tế lễ, thần ngồi kiệu hoa.

                          (Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Hà Nam - Ngữ văn 6 -7)

          Ca dao Hà Nam cũng có nhiều bài nhắc đến khu di tích này với các nét đẹp văn hóa, các tục hát, trò chơi dân gian...và phong cảnh sơn thủy hữu tình nơi đây:

                                      Quyển Sơn vui thú nhất đời

                                 Dốc lòng trên Dậm, dưới bơi ta về

                                      Đôi bên núi tựa sông kề

                                 Ngược xuôi tiện nẻo, lắm nghề làm ăn. (Ca dao)

          (Thôn Quyển Sơn - xã Thi Sơn - huyện Kim Bảng. Quyển Sơn nằm bên bờ sông Đáy, tựa lưng vào dãy núi lớn. Cảnh trí rất đẹp, nơi đây có tục hát Dậm và tục bơi chải (trên dậm, dưới bơi) vào dịp đầu xuân).

Đình Uyển Sơn và Đền Trúc là nơi thờ thần thành hoàng làng và thánh của dân làng chính là vị anh hùng dân tộc lừng danh Thái úy Lý Thường Kiệt. Nơi đây, đất cổ, làng cổ, phong cảnh hữu tình, địa hình phong phú. Chính tại mảnh đất thiêng có huyệt đế vương, Lý Thường Kiệt trên đường đi đánh quân Chiêm Thành đã dừng chân lại, để từ đó, ông vừa là thần thành hoàng, vừa là thánh của dân làng vì đã có công rất lớn trong thuở ban đầu khai thiên lập địa và từ ông những làn điệu dân ca hát Dậm độc nhất vô nhị Việt Nam đã ra đời để từ đó cho đến nay, trải qua hơn một ngàn năm lịch sử đã trở thành di sản văn hóa phi vật thể  của Việt Nam và thế giới, là viên ngọc quý long lanh trong kho tàng âm nhạc cổ truyền của dân tộc.

          Cùng với hát Dậm Quyển Sơn, những là điệu dân ca Hà Nam và dân ca Bắc Bộ cũng luôn được người dân Hà Nam trân trọng, giữ gìn và phát triển. Đến trường, ngoài việc học chúng em còn được tham gia các hoạt động trải nghiệm sáng tạo như: Học hát dân ca, thi hát dân ca, chơi các trò chơi dân gian mà mình yêu thích.

 Gần đây nhất, em (Đỗ Thị Hoàng Vân) được cùng mẹ tham dự “Đêm nghệ thuật diễn xướng hát Văn - hát Chầu văn” tại rạp Biên Hòa - Thành phố Phủ Lý. Đây là một hoạt động thiết thực nhằm bảo tồn và phát huy di sản văn hóa nói chung và hát Chầu văn nói riêng.

 

Một cảnh sinh hoạt văn hóa dân gian tại rạp Biên Hòa - Phủ Lý - Hà Nam

 

Lại nói về núi Cuốn Sơn (núi Cấm). Có lẽ vì gắn bó với điềm linh ứng năm xưa nên ngọn núi có ý nghĩa tâm linh với dân trong vùng. Cũng vì thế mà núi Cấm vẫn giữ được nhiều nét nguyên sơ với hệ sinh thái phong phú. Trên đỉnh núi Cấm có một bàn cờ thiên tạo bằng đá - nơi các vị tiên thường rủ nhau về mở hội, uống rượu chơi cờ và ngắm cảnh trần thế. Ngay cạnh bàn cờ còn có một ô vuông được gọi là huyệt đế vương.

 

Đường lên đỉnh núi Cấm - nơi có bàn cờ thiên tạo

 

Bàn cờ thiên tạo - Trên đỉnh núi Cấm

Núi Cấm còn có hệ thống hang động độc đáo gồm 5 hang nối liền nhau, tạo thành động liên hoàn, gọi là Ngũ Động Thi Sơn. Cấu trúc và hình thù của các động vô cùng đa dạng với nhiều loại thạch nhũ muôn hình vạn trạng, gợi cho du khách nhiều sự tưởng tượng phong phú. Có nhũ đá như bầu sữa mẹ thánh thót những giọt nước trong vắt, mát lành. Chúng em nghe nói, nếu ta hứng được giọt nước đó là đã đón nhận được sự may mắn. Có nhũ đá hình thù như nồi cơm mở vung hoặc hình con voi, con hổ, con rùa... Màu sắc và độ xốp của những nhũ đá cũng khác nhau. Có nhũ màu xanh rêu đá, màu hanh vàng, màu nâu, màu trắng. Có nhũ ẩn sâu trong bóng tối, gặp ánh đuốc hoặc đèn pin rọi vào bỗng rực lên như châu, như ngọc. Có nhũ mang hình chiếc trống nằm, trống treo, dàn mõ, mà thật đặc biệt, khi đánh lên, âm vang như thật. Cửa động không rộng lắm nhưng khi ta đã đi qua cửa hang vào trong lòng động thì rất rộng và sâu hun hút. Có đường lên trời và có cả đường xuống dưới âm nữa.

 

Đường xuống Ngũ Động Thi Sơn

Một số hình ảnh về hang động - Ngũ Động Thi Sơn

 

 

 

 

 

 

 

 

Có thể nói, cùng với Chùa Bà Đanh, Bát Cảnh Sơn, Kẽm Trống,… Núi Cấm - Đền Trúc - Ngũ Động Thi Sơn không những là khu danh lam thắng cảnh - một món quà thiên nhiên ban tặng cho con người mà còn là một di tích lịch sử, văn hóa nổi tiếng. Đó cũng là niềm tự hào của mỗi người dân nơi đây. Tuy nhiên, khu du lịch này còn rất vắng khách tham quan, vãng cảnh. Khi chúng em đến, ngoài mấy bác trong Ban quản lí khu di tích thì chỉ có vài người chuẩn bị cho một khóa lễ sắp tới ở Đền Trúc. Ngôi đền này được xây dựng từ năm 1117 và được công nhận Di tích lịch sử cấp Quốc gia ngày 29/1/1994. Đến năm 2011, Nhà nước và nhân dân địa phương đã trùng tu, nâng cấp khu du lịch Đền Trúc - Ngũ Động Thi Sơn. Một số cảnh quan thiên nhiên cây cỏ, đường đi lối lại và môi trường vẫn chưa được chăm chút chu đáo. Vệ sinh môi trường chưa đảm bảo Xanh - Sạch - Đẹp xứng với tầm của khu di tích này. Đường xuống và lên động còn tối do thiếu ánh sáng nhân tạo. Theo chúng em, cần phải có những giải pháp tích cực vừa để bảo tồn cảnh quan thiên nhiên nơi đây đúng với sự linh thiêng của nó, vừa xây dựng và cải tạo để khu di tích này trở thành điểm đến hoặc điểm dừng chân trong hành trình về Động Hương Tích - Hà Nội.  Chúng em mong rằng, Núi Cấm - Đền Trúc - Ngũ Động Thi Sơn mãi là một điểm đến lý thú, hấp dẫn du khách về du lịch tâm linh. Mai đây, dù có đi xa, chúng em vẫn nhớ về quê hương yêu dấu nơi có những địa danh, những anh hùng, những làn điệu dân ca đã đi vào huyền thoại.

6. Ý nghĩa của việc giải quyết tình huống:

  6.1. Đối với thực tiến học tập:

          * Giúp học sinh:

          - Hiểu biết hơn về lòng yêu nước, truyền thống chống giặc ngoại xâm của ông cha ta từ thời nhà Lý. Từ đó có ý thức kế thừa và phát huy lòng yêu nước, đạo lí “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây; Uống nước nhớ nguồn” trong thời đại ngày nay.

          - Hiểu biết hơn về những danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hóa tâm linh, phong tục tập quán của địa phương nói riêng và của đất nước nói chung. Từ đó có ý thức trân trọng, giữ gìn, bảo tồn và phát triển những giá trị đó.

          - Có thêm những kĩ năng sống, biết vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết tình huống thực tiến một cách thỏa đáng. Từ đó, có hứng thú với các môn học và có những động cơ học tập đúng đắn; có phương pháp học hiệu quả.

  6.2. Đối với đời sống kinh tế - xã hội:

          - Góp phần tuyên truyền, giáo dục về lòng yêu nước, truyền thống lịch sử, văn hóa cho mọi người dân nhất là thế hệ trẻ; Góp phần tôn vinh, giữ gìn và phát triển những địa danh, những di tích lịch sử, văn hóa của quê hương.

          - Quảng bá được hình ảnh của địa phương nhằm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đến với Núi Cấm - Đền Trúc - Ngũ Động Thi Sơn nói riêng và Hà Nam nói riêng ngày một đông.

          Trong thời gian có hạn, bài viết của chúng em không thể tránh khỏi những hạn chế. Chúng em rất mong được đón nhận sự nhận xét, đánh giá của Ban tổ chức cuộc thi và của các thầy giáo, cô giáo.

          Chúng em xin trân trọng cảm ơn!

                                                           

      

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Thanh Hương, ngày 17 tháng 12 năm 2015

NHÓM TÁC GIẢ

 

 

 

 

 

 

XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG

HIỆU TRƯỞNG

 


 

 

Tác giả: thcsthanhhuong

Xem thêm

bài giảng thi GVG - Nguyễn Văn Cộng 2019-2020 THCS Thanh Hương
bài giảng thi GVG - Nguyễn Thu Hà 2019-2020 THCS Thanh Hương
Phút sinh hoạt truyền thống trong lễ Khai giảng năm học 2019-2020
Đón học sinh trong Lễ khai giảng năm học 2019-2020
Bài giảng thi GVG tỉnh, môn Vật lí 6, Nguyễn Văn Cộng