Tin tức/(Trường THCS Yên Bắc)/THCS/
BỒI DƯỠNG HSG LỊCH SỬ 9 - Giai đoạn 2

BỒI DƯỠNG HSG LỊCH SỬ 9 - Giai  đoạn 2 

Chủ đề 2

Cuộc vận động chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám năm 1945.

A. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

1. Cao trào cách mạng 1930 - 1931.

    a. Nguyên nhân:

    Kinh tế: cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 - 1933) từ các nước tư bản đó lan nhanh sang cỏc nước thuộc địa và phụ thuộc, trong đó có Việt Nam. Thêm vào đó là chính sách áp bức, bóc lột của đế quốc và phong kiến làm cho đời sống của nhân dân càng thêm khổ cực. Mâu thuẫn xó hội trở lờn gay gắt.

    Chính trị: sau cuộc khởi nghĩa Yờn Bỏi, Phỏp tiến hành cuộc khủng bố trắng, khiến tỡnh hỡnh Đông Dương trở lên căng thẳng.

    Giữa lúc tình hình Đông Dương đang căng thẳng, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Đảng đã khéo léo kết hợp hai khẩu hiệu "Độc lập dân tộc" và "Ruộng đất dân cày", vỡ vậy đó đáp ứng phần nào nguyện vọng nhân dân, kịp thời tập hợp họ lại và phát động họ đấu tranh.

    Ba nguyên nhân trên đó dẫn tới bựng nổ phong trào cách mạng 1930-1931, trong đó nguyên nhân ĐCS VN ra đời là cơ bản, quyết định bùng nổ phong trào.

    b. Diễn biến:

    Phong trào trờn toàn quốc: phong trào đấu tranh của quần chúng, do Đảng Cộng sản lónh đạo, bùng lên mạnh mẽ khắp ba miền Bắc   - Trung - Nam, nổi lên là phong trào của công nhân và nông dân. Tiêu biểu là ngày 1-5-1930, dưới sự lónh đạo của Đảng, công nhân và nông dân cả nước đó tổ chức kỷ niệm ngày Quốc tế lao động dưới nhiều hỡnh thức để biểu dương lực lượng và tỏ rừ sự đoàn kết với vô sản thế giới.

    Phong trào ở Nghệ - Tĩnh: Nghệ-Tĩnh là nơi phong trào phát triển mạnh mẽ nhất. Mở đầu là cuộc đấu tranh ngày Quốc tế lao động 1-5-1930.

    + Từ sau ngày 1 tháng 5 đến tháng 9-1930, ở nhiều vùng nông thôn thuộc hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh nổ ra hàng loạt cuộc đấu tranh quy mô lớn của nông dân dưới hỡnh thức biểu tỡnh cú vũ trang tự vệ.

    + Tới tháng 9-1930, phong trào phát triển tới đỉnh cao. Phong trào quần chúng tập hợp dưới khẩu hiệu chính trị kết hợp với khẩu hiệu kinh tế diễn ra dưới hỡnh thức đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang tự vệ, tiến công vào cơ quan chính quyền địch ở địa phương.

    + Ngày 12-9-1930: hai vạn nông dân ở Hưng Nguyên (Nghệ An) đó biểu tình phản đối chính sách khủng bố của Pháp và tay sai.

    + Trong suốt hai tháng 9 và 10-1930, nông dân ở Nghệ-Tĩnh đó vũ trang khởi nghĩa, cụng nhõn đó phối hợp với nụng dõn, phản đối chính sách khủng bố của địch. Hệ thống chính quyền của đế quốc, phong kiến ở nhiều nơi tan rã

    + Để thay thế chính quyền cũ, dưới sự lónh đạo của các chi bộ đảng, các Ban Chấp hành nông hội xó đó đứng ra quản lý mọi mặt đời sống chính trị-xã hội ở nông thôn. Đây là một hỡnh thức chính quyền nhân dân theo kiểu Xô viết.

    + Chính quyền Xô viết ở các làng, xã đó thực hiện một số chính sách: Bãi bỏ sưu thuế, mở lớp học chữ Quốc ngữ, thành lập Nông hội, Công hội, hội Phụ nữ giải phóng. Mỗi làng có đội tự vệ vũ trang...

          + Xô viết Nghệ - Tĩnh diễn ra được 4-5 tháng thì bị đế quốc phong kiến tay sai đàn áp. Từ giữa năm 1931 phong trào tạm thời lắng xuống.

          C ý nghĩa:

          Phong trào cách mạng 1930-1931 mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh là một sự kiện lịch sử trọng đại trong lịch sử cách mạng Việtt Nam, đã giáng một đòn quyết liệt đầu tiên vào bè lũ đế quốc và phong kiến tay sai.

          Qua thực tiển phong trào cho thấy dưới sự lónh đạo của Đảng thỡ giai cấp cụng nhõn, nụng dõn đoàn kết với các tầng lớp nhân dân khác có khả năng lật đổ nền thống trị của đế quốc và phong kiến tay sai.

          Phong trào để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý giá: Bài học về vai trò lãnh đạo của Đảng; Bài học về xây dựng khối liên minh công nông; Bài học về sử dụng bạo lực cách mang; Bài học về xây dựng chính quyền.

          Chính vì những lẽ trên n, phong trào cách mạng 1930-1931 mà đỉnh cao là Xô- Viết Nghệ - Tĩnh là cuộc diễn tập đầu tiên chuẩn bị cho cách mạng tháng tám 1945.

2. Cuộc vân động dân chủ 1936-1939.

    a. Nguyên nhân:

    - Tình hình thế giới:

    + Chủ nghĩa phát xít lên nắm quyền ở một số nước (Đức-Italia-Nhật) đe doạ nền dân chủ và hoà bình thế giới.

    + Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản (tháng 7 năm 1935 ở Liên Xô) chỉ ra kẻ thù nguy hiểm trước mắt của nhân dân thế giới và vận động thành lập ở mỗi nước Mặt trận nhân dân, tập hợp các lực lượng tiến bộ để chống phát-xít.

    + Năm 1936, Mặt trận Nhân dân Pháp lên nắm chính quyền ở Pháp, ban bố những chính sách tiến bộ áp dụng cho cả thuộc địa.

          - Tình hình trong nước:

          + Do có những thay đổi ở Pháp, nhất là trong chính phủ cầm quyền, bọn cầm quyền ở Đông Dương buộc phải có những thay đổi trong chính sách cai trị. Một số tù chính trị được thả, cách mạng có điều kiện phục hồi và chuyển sang thời kỳ đấu tranh mới.

          + tháng 7 năm 1936, Hội nghị trung ương lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương họp, đề ra chủ trương chỉ đạo chiến lược và sách lược mới:

  • Xác định kẻ  thù cụ thể trước mắt là bọn phản động Pháp và tay sai.
  • Xác định nhiệm vụ trước mắt của nhân dân Đông Dương là chống phát xít, chống chiến tranh đế quốc, đũi tự do dõn chủ, cơm áo hoà bỡnh.
  • Thành lập Mặt trận Nhân dân phản đế Đông Dương (sau đổi là Mặt trận Dân chủ Đông Dương).
  • Hỡnh thức phương pháp đấu tranh: hợp pháp, nửa hợp pháp, công khai, nửa công khai.

     

b. Diễn biến:

          - Chủ trương mới của Đảng đáp ứng yêu cầu và nguyện vọng bức thiết của quần chúng, đó dấy lờn trong cả nước phong trào đấu tranh sôi  nổi, mạnh mẽ nhằm vào mục tiêu trước mắt là tự do, dân chủ, cơm áo, hoà bỡnh.

          - Giữa 1936, Đảng chủ trương phát động phong trào đấu tranh công khai, vận động thành lập “Ủy ban trù bị Đại hội Đông Dương” nhằm thu thập nguyện vọng của quần chúng, tiến tới Đại hội Đông Dương (5-1936). Hưởng ứng chủ trương trên, các “Ủy ban hành động” nối tiếp nhau ra đời ở nhiều địa phương trong cả nước.

    - Đầu 1937, nhân việc đón phái viên Chính phủ Mặt trận nhân dân Pháp và viên toàn quyền mới xứ Đông Dương là Gô-đa, dưới sự lónh đạo của Đảng, quần chúng khắp nơi trong nước, đông đảo hăng hái nhất là công nhân và nông dân, biểu dương lực lượng qua các cuộc mít tinh, biểu tỡnh , đưa “dân nguyện”.

          - Những cuộc đấu tranh của công nhân, nông dân, nhân dân lao động ở thành phố: tổng bãi công của công nhân Công ty than Hòn Gai, cuộc mít tinh ngày Quốc tế lao động 1-5-1938 tại khu Đấu Xảo - Hà Nội (với sự tham gia của 2,5 vạn người)...

          - Xuất bản sỏch báo công khai của Đảng, của Mặt trận Dân chủ Đông Dương và các đoàn thể (Tiền phong, Dân chủ, Lao động, Bạn dân, Tin tức..)

          - Một số cuốn sách phổ thông giới thiệu về chủ nghĩa Mác-Lênin và chính sách của Đảng cũng được lưu hành rộng rói...

          Tới cuối năm 1938 phong trào bị thu hẹp, tới tháng 9 năm 1939 khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ thỡ chấm dứt.

          c. Ý nghĩa:

          + Cuộc vân động dân chủ 1936-1939 là một phong trào dân tộc dân chủ rộng lớn.Qua đó Đảng ta đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền giáo dục râu rộng tư tưởng Mác-Lê Nin, đường lối chính sách của Đảng, tập hợp đông đảo quần chúng trong mặt trận dân tộc thống nhất xây dựng được đội quân chính trị đông đảo.

          + Qua phong trào uy tín và ảnh hưởng của Đảng được mở rộng và ăn sâu trong quần chúng, trỡnh độ chính trị và khả năng công tác của cán bộ được nâng lên, tổ chức Đảng được củng cố và phát trển.

          + Phong trào đó để lại nhiều bài học kinh nghiệm như bài học về sử dụng các hỡnh thức và khẩu hiệu đấu tranh, vận động tổ chức quần chúng đấu tranh, xõy dựng Mặt trận nhõn dõn thống nhất.

          Với những ý nghĩa đó phong trào dân chủ 1936-1939 được xem là cuộc diễn tập lần thứ hai của nhân dân Việt Nam chuẩn bị cho sự thắng lợi của Cách mạng tháng Tám.

3. Mặt trận Việt Minh ra đời. (19/5/1941)

          a. Hoàn cảnh ra đời:

          + Thế giới: chiến tranh thế giới thứ hai bước sang năm thứ ba. Tháng 6-1941, phát xít Đức mở cuộc tấn công Liên Xô. thế giới hỡnh thành hai trận tuyến, một bờn là cỏc lực lượng dân chủ do Liên Xô dẫn đầu, một bên là khối phát xít Đức-í-Nhật. Cuộc đấu tranh của nhân dân ta là một phần trong cuộc đấu tranh của lực lượng dân chủ.

          + Trong nước: Nhật vào Đông Dương, Pháp - Nhật câu kết với nhau để gây áp bức, thống trị nhân dân Đông Dương, vận mệnh của dân tộc nguy vong hơn bao giờ hết.

          + Ngày 28-1-1941, lónh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước, triệu tập Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (từ ngày 10 đến ngày 19-5-1941), Hội nghị đó chủ trương đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết và chủ trương thành lập “Việt Nam độc lập đồng minh” gọi tắt là Việt Minh.

          b. Sự phát triển lực lượng cách mạng của Mặt trận Việt Minh.

          - Xây dựng lực lượng chính trị:

          + Mục tiêu là xây dựng khối đoàn kết toàn dân, tập trung nhân dân vào các Hội cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh. Cao Bằng là nơi thí điểm chủ trương này, đến năm 1942 khắp các châu ở Cao Bằng đều có Hội cứu quốc. Tiếp đó Uỷ ban Việt Minh tỉnh Cao Bằng và Uỷ ban Việt Minh liên tỉnh Cao - Bắc - Lạng được thành lập. Năm 1943, Uỷ ban thành lập ra 19 ban xung phong "Nam tiến", liên lạc với Căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai và mở rộng lực lượng cách mạng xuống miền xuôi.

          + Ở các nơi khác: Đảng tranh thủ tập hợp rộng rói cỏc tầng lớp nhõn dõn như học sinh, sinh viên, trí thức, tư sản dân tộc vào mặt trận cứu quốc.

          + Đảng và Mặt trận Việt Minh đó xuất bản một số tờ bỏo để tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng.

          - Về xây dựng lực lượng vũ trang:

          + Sau khởi nghĩa Bắc Sơn, đội du kích Bắc Sơn được duy trì và phát triển lên thành đội Cứu  quốc quân. Cứu quốc quân phát động chiến tranh du kích, sau đó phân tán vào trong quần chúng để chấn chỉnh lực lượng và tuyên truyền vũ trang.

          + Ở Cao Bằng, theo chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, Ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập. Ngay khi mới ra đời, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đó đánh thắng liên tiếp hai trận ở Phay Khắt và Nà Ngần (Cao Bằng) mở đầu cho truyền thống bách chiến, bách thắng của quân đội nhân dân Việt Nam.

          + Ở Thái Nguyên, đội cứu quốc quân phát động chiến tranh du kích. Chính quyền nhân dân được thành lập một vùng rộng lớn xuống tận tỉnh lị Thái Nguyên và Vĩnh Yên.

4. Cách mạng tháng Tám năm 1945.

    a. Hoàn cảnh lịch sử:

    Thế giới (Khách quan): Chiến tranh thế giới thứ hai đang tới những ngày cuối. Ở Châu Âu, tháng 5/1945 phát xít Đức đầu hàng quân đồng minh không điều kiện. Ở Châu Á –Thái Bỡnh Dương, tháng 8/1945 Nhật cũng đầu hàng vô điều kiện. Khi đó, các nước đồng minh chưa kịp vào Đông Dương để giải giáp quân đội Nhật.

    Trong nước (Chủ quan): quân Nhật và bè lũ tay sai của chúng hoang mang đến cực độ, lính Nhật mất hết tinh thần chiến đấu. Trong khi đó, lực lượng cách mạng của ta lớn mạnh, nhân dân đó sẵn sàng, Đảng ta có sự chuẩn bị chu đáo trong suốt 15 năm.

    Như vậy, Cách mạng tháng Tám nổ ra trong điều kiện khách quan và chủ quan hoàn toàn chín muồi. Đó là thời cơ ngàn năm có một (vỡ nú rất hiếm và rất quớ nếu bỏ qua thỡ thời cơ không bao giờ trở lại nữa). Nhận thức rừ thời cơ có một không hai này,  Hồ Chí Minh đó chỉ rừ: “Đây là thời cơ ngàn năm có một cho dân tộc ta vùng dậy.Lần này dù có phải thiêu cháy dóy Trường Sơn cũng quyết giành độc lập cho đất nước”.

    Đứng trước hoàn cảnh thuận lợi ấy, Đảng và Hồ Chủ Tịch kịp thời phát lệnh Tổng khởi nghĩa trong cả nước. Điều này được thể hiện qua Hội nghị toàn quốc của Đảng, Quốc dân Đại hội Tân Trào và thư gửi đồng bào cả nước của Hồ Chủ Tịch.

    b. Những diễn biến chính: (từ 14/8 đến 28/8/1945)

    + Từ ngày 14/8/1945, tuy chưa nhận được lệnh Tổng khởi nghĩa, nhưng khởi nghĩa đã nổ ra ở nhiều địa phương thuộc các tỉnh đồng bằng sông Hồng và miền Trung.

    + Chiều ngày 16/8/1945, theo lệnh của Uỷ ban khởi nghĩa, một đơn vị giải phóng do Vỗ Nguyên Giáp chỉ huy, xuất phát từ Tân Trào tiến về giải phóng thị xã Thái Nguyên, mở đường về Hà Nội.

    + Từ 14 đến 18/8/1945 có 4 tỉnh giành được chính quyền sớm nhất là Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh và Quảng Nam.

    + Tại Hà Nội: từ ngày 15 đến 18/8 phong trào chuẩn bị khởi nghĩa của quần chúng ngày càng sôi sục. Ngày 19/8/1945 Hà Nội giành được chính quyền.

    + Ngày 23/8 ta giành chớnh quyền ở Huế.

    + Ngày 25/8 ta giành chớnh quyền ở Sài Gũn.

    + Ngày 28/8 hầu hết các địa phương trong cả nước giành được chính quyền.

    + Ngày 30/8 vua Bảo Đại thoái vị.

    Như vậy chỉ trong vũng 15 ngày (từ 14/8 đén 28/8/1945) tổng khởi nghĩa tháng Tám đó thành cụng trong cả nước. Lần đầu tiên trong cả nước chính quyền về tay nhân dân.

Ngày 2/9/1945 tại quảng trường Ba Đỡnh chủ tịch Hồ Chớ Minh thay mặt chớnh phủ lõm thời đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ Cộng hũa.

    c.Ý nghĩa lịch sử, Nguyên nhân thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám.

    *Ý nghĩa lịch

    Đối với dân tộc:

    + Cách mạng tháng Tám thành công là .một biến cố lịch sử vĩ đại mở ra một bước ngoặc lớn trong lịch sử dân tộc, vỡ phỏ tan hai xiềng xớch nụ lệ của Phỏp- Nhật, lật nhào chế độ quân chủ khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hũa, đưa nước ta từ một nước thuộc địa trở thành một nước độc lập, nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ nước nhà.

     Mở ra một kỹ nguyên mới trong lịch sử dân tộc: Kỷ nguyên độc lập tự do gắn liền với chủ nghĩa xó hội.

    Đối với thế giới: Lần đầu tiên trong lịch sử, một dân tộc thuộc địa nhỏ bé đó tự giải phúng khỏi ỏch đế quốc thực dân, thắng lợi này góp phần đánh bại chủ nghĩa phát xít, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa và nửa thuộc địa trên thế giới nhất là Châu Á và châu Phi.

    * Nguyên nhân thắng lợi

    Nguyên nhân chủ quan:

    + Dân tộc ta giàu truyền thống yêu nước và đấu tranh chống giặc ngoại xâm.

    + Sự lónh đạo sáng suốt tài tình của Đảng đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh với đường lối đúng đắn sáng tạo, xây dựng được khối liên minh công nông vững chắc, tập hợp được các lực lượng yêu nước trong mặt trận thống nhất. Đảng ta đó cú quỏ trỡnh chuẩn bị chu đáo cho thắng lợi của cách mạng tháng tám trong suốt 15 năm với ba cuộc diễn tập 1930-1931; 1936-1939; 1939-1945.

          Nguyên nhân khách quan: Lực lượng đồng minh và quân đội Xô viết đánh bại phát xit Nhật, tạo thời cơ thuận lợi cho cách mạng giành thắng lợi.

          Trong các nguyên nhân trên, nguyên nhân quan trọng và mang tính quyết định nhất là nguyên nhân chủ quan bởi vỡ: Nếu quần chúng nhân dân không sẵn sàng đứng lên, nếu Đảng không sáng suốt tài tỡnh nhận định đúng thời cơ thỡ thời cơ sẽ qua đi.

          Vì thế nguyên nhân chủ quan mang tính chất quyết định còn nguyên nhân khách quan chỉ là sự hổ trợ là thời cơ để Đảng sáng suốt phát động quần chúng nhân dân đứng lên giành chính quyền trong thời gian ngắn.

B. KIẾN THỨC MỞ RỘNG - NÂNG CAO

          So sánh phong trào cỏch mạng 193 -1931 với phong trào 1936-1939 ở các mặt sau:

 

Nội dung so sánh

1930 - 1931

1936 - 1939

Kẻ thù

- Đế quốc, phong kiến

- Phản động Pháp và tay sai

Nhiệm vụ

- Chống đế quốc, giành độc lập dân tộc

- chống phong kiến, giành ruộng đất cho dân cày.

- Chống phát xít, chống chiến tranh đế quốc, phản động tay sai, đũi tự do, dõn chủ, cơm áo hũa bỡnh.

Mặt trận

 

- Mặt trận nhân dân phản đế Đông Dương, sau đổi thành mặt trận dân chủ Đông Dương.

Hình thức và phương pháp đấu tranh

- Bớ mật, bất hợp phỏp.

- Bạo động vũ trang.

- Hợp phỏp, cụng khai, bỏn cụng khai.

C. CÂU HỎI LUYỆN TẬP

1. Nguyên nhân, diễn biến chính và ý nghĩa của phong trào cách mạng 1930-1931.

          - Gợi ý: mục 1 - phần kiến thức trọng tâm.

  1. Nêu những nét chính về phong trào cách mạng 1936-1939. ý nghĩa của phong trào.

          - Gợi ý: mục 2 - phần kiến thức trọng tâm.

  1. So sánh phong trào cỏch mạng 193 -1931 với phong trào cách mạng 1936-1939.

          - Gợi ý: phần kiến thức mở rộng, nâng cao.

  1. Vì sao Đảng chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh? Sau khi thành lập, Mặt trận Việt Minh phát triển lực lượng như thế nào?

          - Gợi ý: mục 3 - phần kiến thức trọng tâm.

  1. Trình bày hoàn cảnh lịch sử, diễn biến chính, ý nghĩa lịch sử, nguyên nhân thành công của Cách mạng tháng Tám.

          - Gợi ý: mục 4 - phần kiến thức trọng tâm.

--------------------------------------------------------------------------------------------------------

 

 

Chủ đề 3

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hũa sau ngày độc lập đến toàn quốc kháng chiến.

 

A. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

1. Những thuận lợi và khó khăn của nước VN DCCH sau ngày độc lập.

    a. Khó khăn:

    Vừa  mới ra đời nước ta đứng trước muôn vàn những khó khăn tưởng chừng như không thể vượt qua, đó là:

    Giặc ngoại xâm: sau Cỏch mạng thỏng Tỏm  thỡ quõn đội các nước quân đồng minh lần lược kéo vào nước ta với âm mưu là bao vây và can thiệp cách mạng nước ta:

    + Từ vĩ tuyến 16 trở ra 20 vạn quânTưởng kéo vào với âm mưu thủ tiờu chớnh quyền cỏch mạng.

    + Từ vĩ tuyến 16 trở vào có hơn một vạn quân Anh chúng đó dung tỳng và giỳp đỡ cho Pháp quay trở lại xâm lược Nam Bộ.

    + Lúc này trên nước ta còn hơn 6 vạn quân Nhật đang chờ giải giáp trong đó có một bộ phận giúp Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng ở Nam Bộ.

    + Thực dân Pháp muốn khôi phục lại nền thống trị cũ, đó xõm lượcổtở lại nước ta ở Nam Bộ.

    Nội phản: các lực lượng phản cách mạng ở cả hai miền đều ngóc đầu dậy hoạt động chống phá cách mạng như cướp bóc, giết người, tuyên truyền kích động, làm tay sai cho Pháp…

    Khó khăn về kinh tế, tài chính: kinh tế nghèo nàn lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, thiên tai, lũ lụt nạn đói đang đe dọa nghiêm trọng. Ngân sách nhà nước trống rỗng, lạm phát gia tăng, giá cả đắt đỏ ….

    Khó khăn về chính trị- xã hội: chính quyền còn non trẻ , lực lượng mỏng, thiếu kinh nghiệm quản lí. Trong khi đó, hơn 90% dân số mù chử, các tệ nạn xã hội như rượu chè, cờ bạc, nghiện hút tràn lan.

    Những khó khăn trên làm cho cách mạng nước ta đang đứng trước những thử thách hết sức hiểm nghèo, trực tiếp đe dọa sự tồn vong của chính quyền cách mạng. vận mệnh Tổ Quốc đứng trước tình thế “Ngàn cân treo sợi tóc”.

    b. Thuận lợi:

    + Ta đã giành được chính quyền, nhân dân tin tưởng vào Hồ Chí Minh, tích cực xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng. Mặt trận Việt Minh đã thực hiện khối đoàn kết toàn dân làm hậu thuẫn cho chính phủ.

    + Đảng ta đã được rèn luyện và trưởng thành, có lãnh tụ thiên tài và có uy tín trong nhân dân.

    + Trên thế giới, Liên Xô và các lực lượng dân chủ đã chiến thắng phát xít trong chiến tranh thế giới thứ hai, cổ vũ và ủng hộ nhân dân ta.

2. Những chủ trương và biện pháp nhằm giải quyết khó khăn, bảo vệ thành quả Cách mạng tháng Tám.

    a. Xây dựng chính quyền: Nhiệm vụ trung tâm là phải xây dựng và củng cố chính quyền dân chủ nhân dân.

    + Ngày 6/1/1946 tổ chức tổng tuyển cử bầu Quốc hội.

    + Ngày 2/3/1946 Quốc hội họp phiên họp đầu tiên, bầu ban dự thảo Hiến pháp và bầu chính phủ chính thức do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu.

    + Sau bầu cử Quốc hội là bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp để củng cố chính quyền ở địa phương.

    b. Giải quyết nạn đói, nạn dốt, những khó khăn về  tài chính:

    + Nạn đói: trước mắt thực hiện nhường cơm xẻ áo, thực hiện hũ gạo tiết kiệm, ngày đồng tâm. Về lõu dài thỡ đẩy mạnh tăng gia sản xuất. Kết quả là chỉ trong thời gian ngắn nạn đói được đẩy lùi.

    + Nạn dốt: mở cỏc lớp học bình dân, kêu gọi nhân dân tham gia xóa nạn mù chữ. thành lập cơ quan bình dân học vụ(8/9/1945)...

    + Giải quyết khó khăn về tài chính: kêu gọi tinh thần tự nguyên đóng góp của nhân dân, thông qua quỹ độc lập và tuần lễ vàng. Phát hành tiền Việt Nam(23/11/1946).

    c. Chống giặc ngoai xâm: diễn ra qua hai thời kì .Trước và sau 6/3/1946:

    + Trước 6/3/1946: ta chủ trương hũa với quõn Tưởng ở miền Bắc để tập trung lực lượng chống Pháp ở miền Nam.

    + Sau ngày 6/3/1946: ta chủ trương hòa với Pháp để đuổi nhanh quân Tưởng, tranh thủ thời gian để chuẩn bị kháng chiến lâu dài. Chủ chương này của ta được thể hiện việc ta ký Hiệp định sơ bô ngày 6/3/1946 và tạm ước 14/9/1946.

    Đây là những chủ trương sáng suốt và tài tính, mềm dẻo về sỏch lược nhưng cứng rắn về nguyên tắc, biết lợi dụng mâu thuẩn trong hàng ngũ của kẻ thù không cho chúng có điều kiện tập trung lực lượng chống phá ta….Đưa nước ta vượt qua mọi khó khăn và thoát khỏi tỡnh thế hiểm nghốo, sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu lâu dài với pháp.

B. CÂU HỎI LUYỆN TẬP

  1. Tại sao nói nước Việt Nam Dân chủ Cộng hũa ngay sau khi giành độc lập đó ở vào tình thế ngàn cân treo sợi tóc?

- Gợi ý: phần 1.

  1. Đảng và Nhà nước ta có những chủ trương và biện pháp gỡ nhằm giải quyết khó khăn, bảo vệ thành quả Cách mạng tháng Tám?

- Gợi ý: phần 2.

  1. Tại sao ta ký với Pháp Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946 và tạm ước 14/9/1946?

      + Chính phủ ta kí Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1945 nhằm mục đích: mượn tay Pháp nhanh chóng đuổi 20 vạn quân Tưởng về nước, tránh được một cuộc chiến đấu bất lợi vì cùng một lúc phải chống nhiều kẻ thù, tranh thủ thời gian chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến sau này.

      + Tạm ước 14/9: nhằm kéo dài thời gian hoà hoón để  xây dựng và củng cố lực lượng, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến mà ta biết chắc là không thể tránh khỏi.

--------------------------------------------------

 

Chủ đề 4

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954)

 

 

A. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

1. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ.

    a. Nguyên nhân:

          Thực dân Pháp bội ước tấn công ta: Sau khi ký Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946 và Tạm ước 14-9-1946, Pháp khiêu khích ta ở Hải Phũng, Lạng Sơn. Tại Hà Nội, thực dân Pháp liên tiếp gây xung đột vũ trang, ngày 18-12-1946, Pháp gửi tối hậu thư buộc Chính phủ ta giải tán lực lượng tự vệ chiến đấu và giao quyền kiểm soát thủ dô cho quân đội Pháp.

          Trước âm mưu và hành động trắng trợn của Pháp, Đảng ta đứng trước lựa chọn một trong hai con đường: đầu hàng hoặc chiến đấu. Ta chọn con đường chiến đấu để bảo vệ độc lập dân tộc và chính quyền vừa giành được. Ban thường vụ Trung ương Đảng quyết định phát động cuộc chiến toàn quốc kháng chiến. Tối 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Cuộc cháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ.

          * Nội dung đường nối kháng chiến:

    +  Đường lối kháng chiến chống Pháp của ta được thể hiện qua những văn kiện chính sau đây: Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của chủ tịch Hồ Chí Minh (19/12/1946), bản Chỉ thị Toàn dân kháng chiến của Ban thường vụ trung ương Đảng (22/12/1946), và tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi của Trường Chinh (9/1947).

    + Nội dung đường lối kháng chiến chống Pháp của ta là: Toàn dân, toàn diện, trường kỡ, tự lực cỏch sinh, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế.  

 2. Chiến dịch Việt Bắc thu - đông năm 1947.

    a. Nguyên nhân:

    + Pháp ngày càng khó khăn, lúng túng trong âm mưu đánh nhanh thắng nhanh.

    + Tháng 3/1947 Pháp cử Bô-la-éc sang làm cao ủy Đông Dương thay cho Đác-giăng-li-ơ.Thực dân Pháp chuẩn bị mở cuộc tấn công quy mô lớn lên Việt Bắc.

    Âm mưu Pháp tấn công quy mô lớn lên Việt Bắc: Phá tan cơ quan đầu nóo khỏng chiến của ta. Tiêu diệt phần lớn bộ đội chủ lực. Khóa chặt biên giới Việt Trung nhằm ngăn chặn sự liên lạc giữa ta với quốc tế. Dùng thắng lợi về quân sự để thúc đẩy sự thành lập chính quyền bù nhỡn trờn toàn quốc và nhanh chúng kết thỳc chiến tranh.

    Chủ trương của ta: Ngày 15/10/1947 Ban thường vụ TW Đảng ra chỉ thị “Phải phá tan cuộc tấn công mùa Đông của giặc Pháp”.

    b. Diễn biến:

    Về phía Pháp: ngày 7/10/1947 Pháp huy động 12.000 quân tấn công lên Việt Bắc theo 3 hướng:

    + Cánh quân dù : sáng ngày 7/10/1947 Pháp cho bộ phận quân nhảy dù nhảy xuống Bắc Cạn, Chợ Mới, Chợ Đồn.

    + Cánh quân bộ: cùng ngày 7/10/1947 một binh đoàn bộ binh từ Lạng Sơn theo đường số 4 tiến lên Cao Bằng; một bộ phận khác theo đường số 3 vũng xuống Bắc Cạn tạo thành gọng kỡm thứ nhất kẹp chặt Việt Bắc ở phớa Đông và phía Bắc.

    + Cánh quân thủy: ngày 9/10/1947 binh đoàn hỗn hợp từ Hà Nội ngược sông Hồng, sông Lô tiến lên Tuyên Quang, Chiêm Hóa tạo thành gọng kỡm thứ hai bao võy Việt Bắc từ phớa Tây. Chúng dự định hai gọng kỡm sẽ gặp nhau và khộp chặt ở Đài Thị (Đông Bắc Chiêm Hóa).

    Về phía ta:

    + Tại Bắc Cạn: Quân địch vừa nhảy dù xuống đó bị ta bao ây tiêu diệt.

    + Ở hướng Đông (cỏnh quõn bộ): quõn ta chặn đánh địch trên đường số 4, lập nhiều chiến công, tiêu biểu là trận đèo Bông Lau (30/10/1947). Sau trận này, địch khiếp sợ. Đường số 4 trở thành ''con đường chết của giặc Pháp"

    + Ở hướng Tây (cánh quân thủy): Ta phục kớch và đánh chìm nhiều tàu chiến của địch trên sông Lô, tiêu biểu tại Đoan Hùng, Khoan Bộ, Khe Lau...

    + Phối hợp với chiến trường Việt Bắc quân và dân cả nước phối hợp chiến đấu phá tan âm mưu của địch. Đến ngày 19/12/1947quân Pháp rút khỏi Việt Bắc.

    c. Kết quả và ý nghiã lịch sử:

    + Kết quả: Loại khỏi vũng chiến đấu 6000 tên địch, 16 máy bay, 11 tàu chiến và ca nô... Căn cứ địa Việt Bắc được giữ vững, cơ quan đầu nóo khỏng chiến được bảo vệ an toàn, bộ đội ta trưởng thành.

    + Ý nghĩa lịch sử:

    - Là cuộc phản công lớn đầu tiên của ta có ý nhĩa chiến lược quan trọng trong năm đầu toàn quốc kháng chiến.

    - Làm thất bại hoàn toàn âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của chúng buộc chúng phải chuyển sang đánh lâu dài.

    - Chứng minh sự đúng đắn của đường lối kháng chiến lâu dài của Đảng và sự vững chắc của căn cứ địa Việt Bắc.

    - Là mốc khởi đầu của sự thay đổi về tương quan lực lượng cú lợi cho ta.

3. Chiến dịch Biên giới thu - đông năm 1950.

    a. Hoàn cảnh:

    Trong nước: Sau chiến thắng Việt Bắc ta giành được nhiều thắng lợi: chính quyền cách mạng ngày càng được củng cố, chiến tranh du kích phát triển mạnh ở vùng sau lưng địch, lực lượng cách mạng được phát triển, hậu phương được xây dựng vững chắc. Trong khi đó Pháp ngày càng sa lầy và gặp nhiều khó khăn trong cuộc chiến tranh ở Đông Dương.

    Tình hình thế giới: Có nhiều chuyển biến có lợi cho ta song bất lợi cho Pháp. Ngày 1/10/1949 Cách mạng Trung Quốc thành công, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời… Từ tháng 1/1950, Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN lần lược công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với ta.

    Âm mưu của Pháp:  Đứng trước tình hình trên, nhờ sự giúp sức của Mỹ thực dân Pháp thực qua kế hoạch Rơ-ve nhằm:

    + Khóa chặt biên giới Việt Trung bằng cách tăng cường hệ thống phòng ngự trên đường số 4.

    + Thiết lập hành lang Đông Tây để cắt đứt sự liên lạc giữa Việt Bắc với Liên khu III và liên khu IV.

    Với hai hệ thống phòng ngự trên, thực dõn Phỏp chuẩn bị mở cuộc tấn cụng qui mô lớn lên Việt Bắc lần hai.

    Chủ trương và sự chuẩn bị của ta: Chủ động mở chiến dich Biên Giới nhằm tiêu diệt sinh lực địch, khai thông biên giới Việt - Trung, củng cố và mở rộng căn cứ địa Việt Bắc, tích cực chuẩn bị cho chiến dịch.

    b. Diễn biến:

    + Sáng ngày 16/9/1950 ta tấn công cứ điểm Đông Khê đến ngày 18/9 ta hoàn toàn tiêu diệt cụm cứ điểm Đông Khê đẩy địch vào tình thế nguy khốn: uy hiếp Thất Khê, Cao Bằng bị cô lập, hệ thống phũng ngự trên đường số 4 bị lung lay.

    + Pháp rút khỏi Cao Bằng theo đường số 4, đồng thời cho một cánh quân từ Thất Khê lên đánh chiếm lại Đông Khê.

    + Đoán được ý đồ của địch ta bố trí quân mai phục, kiên nhẫn chờ đợi đánh quân tiếp viện. Sau 8 ngày chiến đấu (từ ngày 1/10 đến  8/10/1950) ta đó tiêu diệt gọn hai binh đoàn của địch làm sụp đổ hoàn toàn kế hoạch rút quân của chúng.

    + Từ ngày 10 đến 22/10/1950 địch hốt hoảng rút khỏi các cứ điểm còn lại trên đường số 4. Chiến dịch kết thúc thắng lợi.

    c. Kết quả và ý nghĩa lịch sử:

    + Kết quả: Loại khỏi vòng chiến đấu 8.300 tên địch, thu và phá hủy 3.000 tấn vũ khí và phương tiện chiến tranh; Khai thông biên giới Việt Trung dài 750 Km; Chọc thủng hành lang Đông Tây; Căn cứ địa Việt Bắc được giữ vững và mở rộng.

    +Ý nghĩa: Đây là thất bại lớn của địch cả về quân sự lẫn chính trị, địch bị đẩy vào thế phòng ngự bị động; Đánh dấu bước chuyển biến quan trọng trong cục diện chiến trường, ta bắt đầu giành quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính.

4. Kế hoạch Na-va và bước đầu sự phá sản của nó.

    a. Kế hoạch Na-va.

    * Hoàn cảnh ra đời:

    Sau gần 8 năm tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược trở lại VN, Pháp ngày càng sa lầy vào cuộc chiến tranh ở Đông Dương. Lợi dụng tình hình này, Mĩ ngày càng can thiệp sâu vào cuộc chiến tranh Đông Dương.

    Ngày 7/5/1953, với sự thỏa thuận của Mỹ, Pháp cử tướng Na-va sang Đông Dương làm tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp. Na-va vạch ra kế hoạch Na-va nhằm xoay chuyển cục diện chiến tranh Đông Dương, với hy vọng trong 18 tháng "kết thúc chiến tranh trong danh dự".

    * Nội dung kế hoạch Na-va: được chia làm hai bước:

    Bước 1: Từ thu - Đông 1953 tới Xuân 1954, giữ thế phũng ngự chiến lược ở chiến trường miền Bắc, thực hiện tiến công chiến lược miền Nam, mở rộng ngụy quân và xây dựng lực lượng cơ động mạnh.

    Bước hai: Từ thu - đông 1954, Chuyển lực lượng ra chiến trường miền Bắc thực hiện tiến công chiến lược giành lấy thắng lợi quân sự quyết định buộc ta phải đàm phán theo những điều có lợi cho chúng.

    Trọng tâm của kế hoạch Na-va là đồng bằng Bắc Bộ. Lực lượng co động ở đây là 44 tiểu đoàn (trong tổng số 84 tiểu đoàn trên toàn Đông Dương).

    Tóm lại: kế hoach quân sự Na-va là kế hoạch chiến lược có quy mô rộng lớn, thể hiện sự cố gắng lớn nhất và cũng là cuối cùng của thực dân Pháp có sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn của Mĩ trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương. Kế hoạch này ra đời trong hoàn cảnh bị động, trong thế thua, nên nó chứa đựng đầy mâu thuẩn và nảy sinh mầm mống thất bại ngay từ đầu. Vì vậy sự thất bại là không hề tránh khỏi.

    b. Chiến cuộc Đông-Xuân 1953-1954, kế hoạch Na-va bước đầu bị phá sản.

    * Chủ trương của ta:

    Chủ trương của ta là tập trung lực lượng mở những cuộc tiến công vào những hướng quan trọng về mặt chiến lược mà địch tương đối yếu, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng đất đai, đồng thời buộc chúng phải bị động phân tán lực lượng đối phó với ta ở những địa bàn xung yếu mà chúng không thể bỏ, tạo điều kiện thuận lợi để ta tiêu diệt chúng.

    Phương châm tác chiến của ta là: “Tích cực , chủ động, cơ động linh hoạt", "đánh ăn chắc, đánh chắc".

    * Kế hoạch Na-ba bước đầu bị phá sản:

    Trong Đông xuân 1953 - 1954, thực hiện chủ trương chiến lược của Đảng ta chủ động mở hàng loạt các chiến dịch tấn công địch trên nhiều hướng, trên khắp chiến trường Đông Dương như Tây Bắc, Thượng Lào, Thượng Lào, Trung Lào và Bắc Tây Nguyên, buộc chúng phải phân tán lực lượng thành 5 nơi: Đồng bằng Bắc Bộ, Điện Biên Phủ, Sê-nô, Plây-cu, Luông-pha-băng.

    Giữa tháng 11/1953, ta tiến cụng Tây Bắc giải phóng Lai Châu, uy hiếp Điện Biên Phủ, Na-va phải điều quân tăng cường cho Điện Biên Phủ, biến Điện Biên Phủ  thành nơi tập trung quân thứ hai của địch sau đồng bằng Bắc bộ.

    Đầu tháng 12/1953, liên quân Việt Lào tấn công Trung Lào, giải phóng tỉnh Thà Khẹt, bao vây uy hiếp Sê-nô. Na-va phải tăng cường quân cho Sê-nô biến  Sê-nô thành nơi tập trung quân thứ ba của địch.

    Đầu năm 1954, liên quân Việt Lào tiến công địch ở Thượng Lào giải phóng tỉnh Phong-xa-lì uy hiếp Luụng-Pha-băng. NaVa vội vó điều quân tăng cường cho Luông-Pha-băng biến nơi đây thành nơi tập trung quân thứ tư của địch.

    Cũng đầu tháng 2/1954, quân ta tấn công địch ở Bắc Tây Nguyên giải phóng tỉnh Kom Tum, uy hiếp Plây Cu. Na-va lại phải điều quân tăng cường cho Plây Cu, biến Plây Cu thành nơi tập trung quân thứ năm của địch.

    Như vậy, trong Đông Xuân 1953-1954, quân và dân ta đó chủ đông tấn công địch trên mọi hướng chiến lược khác nhau. Qua đó ta tiêu diệt nhiều sinh lực đich giải phóng nhiều vùng đất đai rộng lớn đồng thời buộc chúng phải phân tán khối quân cơ động ở đồng bằng Bắc Bộ ra 5 nơi: Đồng bằng Bắc Bộ, Điện Biên Phủ, Sê nô, Plây cu, Luông –pha- băng làm cho kế hoạch Na Va bước đầu bị pha sản, tạo thời cơ thuận lợi để mở trận quyết chiên chiến lược ở Điện Biên Phủ.

5. Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ (1954)

    a. Nguyên nhân:

          Trong tình thế kế hoạch Na Va bước đầu bị phá sản, Pháp và Mỹ tập trung xây dựng Điên Biên Phủ thành một một tập đoàn cứ điểm mạnh, một “Pháo đài không thể công phá”, nhằm thu hút lực lượng của ta vào đây để tiêu diệt. Lực lượng địch ở đây gồm 16200 tên đủ các binh chủng và phương tiện chiến tranh, được bố trí thành một hệ thống phòng ngự mạnh, gồm 49 cứ điểm, chia thành 3 phân  khu. Phân khu trung tâm, phân khu Bắc, phân khu Nam.

          Tháng 12/1953, Bộ chính trị họp, quyết địch mở chiến dịch Điện Biên Phủ, tích cực chuẩn bị cho chiến dịch.Mục tiêu ta mở chiến dịch là tiêu diệt lực lượng địch, giải phóng vùng Tây Bắc, tạo điều kiện giải phóng Bắc Lào.

          b. Diễn biến chiến dịch Điện Biên Phủ:

          Chiến dịch bắt đầu ngày 13-3-1954 đến hết 7-5-1954 chia làm 3 đợt:

          + Đợt 1 (13 đến 17-3-1954): ta tấn công Him Lam và toàn bộ phân khu Bắc.

          + Đợt 2 (30-3 đến 26-4): Ta tấn công khu Đông phân khu trung tâm, cuộc chiến diễn ra ác liệt ở đồi A1,C1.

    + Đợt 3 (1-5 đến 7-5-1954): Ta đồng loạt tấn công khu Trung tâm và phân khu Nam. Chiều ngày 7/5 quân ta đánh vào sở chỉ huy địch. Đến 17h30 ngày 7/5/1954 lá cờ quyết chiến quyết thắng bay trên nóc hầm Đơ Cát. Tướng Đơ Cat và toàn bộ Bộ tham mưu của địch ra hàng. Chiến dịch toàn thắng.

          c. Kết quả, ý nghĩa:

          Kết quả: ta tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch ở tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ: 16200 tên, hạ 62 máy bay, thu toàn bộ vũ khí, cơ sở vật chất, kĩ thuật, đập tan kế hoạch Na-va và mọi mưu đồ chiến lược của đế quốc Pháp-Mĩ.

     Ý nghĩa lịch sử: Đối với dân tộc, chiến thắng Điện Biên Phủ đã đánh bại hoàn toàn kế hoạch Na-va của Pháp - Mĩ,làm xoay cục diện chiến tranh, tạo điều kiện thuận lợi cơ bản cho cuộc đấu tranh ngoại giao của ta, buộc Pháp - Mĩ phải kí Hiệp định Giơ-ne-vơ. Đối với thế giới, chiến thắng Điện Biên Phủ góp phần làm tan rã hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, tác động mạnh đến tình hình thế giới, làm "chấn động địa cầu", cổ vũ các dân tộc thuộc địa đấu tranh tự giải phóng mình.

6. Ý nghĩa lịch sử, nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp.

     *Ý nghĩa lịch sử:

     Đối với dân tộc: chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược và ách thống trị của thực dân Pháp trong gần một thế kĩ trên đất nước ta. Miền Bắc được giải phóng, chuyển sang giai đoạn cách mạng XHCN, tạo cơ sở để nhân dân ta giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc.

     Đối với thế giới: giáng đũn nặng nề vào tham vọng xõm lược và âm mưu nô dịch của chủ nghĩa đế quốc sau chiến tranh thế giới thứ hai, góp phần làm tan rã hệ thống thuộc địa của chúng, cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, trước hết là các nước ở châu Á, châu Phi và Mĩ La-tinh.

     * Nguyên nhân thắng lợi:

+ Có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, với đường lối đúng đắn: giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

+ Được  tiến hành trong điều kiện có hệ thống chính quyền dân chủ nhân dân trong cả nước, có mặt trận dân tộc thống nhất, có lực lượng vũ trang ba thứ quân không ngừng lớn mạnh, có hậu phương vững chắc.

          + Có tinh thần đoàn kết giữa ba nước Đông Dương và sự đồng tình ủng hộ, giúp đỡ của Trung Quốc và Liên Xô, các nước dân chủ nhân dân khác, của nhân dân Pháp và loài người tiến bộ.

B. KIẾN THỨC MỞ RỘNG - NÂNG CAO

  • Chiến thắng Điện Biên Phủ đã chấm rứt cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp ở Đông Dương?

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã đập tan kế hoạch Na-va và ý chí xâm lược của thực dân Pháp, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh, tạo điều kiện cho cuộc đấu tranh ngoại giao giành thắng lợi

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã góp phần làm tan rã hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, tác động mạnh đến tình hình thế giới, làm "chấn động địa cầu", cổ vũ các dân tộc thuộc địa đấu tranh tự giải phóng.

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã góp phần quyết định việc kí Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 về việc lập lại hoà bình ở Đông Dương. Các nước tham dự Hội nghị buộc phải công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Đông Dương, Pháp buộc phải rút quân về nước, Mĩ thất bại trong âm mưu kéo dài, mở rộng, quốc tế hoá chiến tranh xâm lược Đông Dương, miền Bắc nước ta hoàn toàn giải ohóng, chuyển sang giai đoạn cách mạng XHCN.

C. CÂU HỎI LUYỆN TẬP

  1. Vì sao cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ? Nội dung cơ bản của lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.

          - Gợi ý: mục 1 - phần kiến thức trọng tâm.

  1. Âm mưu của địch, chủ trương của ta. Diễn biến chính, ý nghĩa chiến dịch Việt Bắc thu - đông năm 1947.

          - Gợi ý: mục 2 - phần kiến thức trọng tâm.

  1. Tại sao ta mở chiến dịch Biên giới thu - đông năm 1950? Nêu diễn biến chính chiến dịch này.

          - Gợi ý: mục 3 - phần kiến thức trọng tâm.

  1. Cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954 đã bước đầu làm phá sản kế hoạch Na-va như thế nào?

          - Gợi ý: + Nêu ngắn gọn hoàn cảnh ra đời kế hoạch Na-va.

                      + Phần b, mục 4 - phần kiến thức trọng tâm.

  1. Trình bày hoàn cảnh, diễn biến, kết quả chiến dịch Điện Biên Phủ.

          - Gợi ý: mục 5 - phần kiến thức trọng tâm.

  1. Ý nghĩa lịch sử, nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp (1953-1954)

          - Gợi ý: mục 6 - phần kiến thức trọng tâm.

-----------------------------------------------

 

 

Chủ đề 5

Cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1954 - 1975)

 

 

I. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

1. Phong trào "Đồng khởi" (1959-1960)

    "Đồng khởi" (nghĩa là đồng loạt khởi nghĩa) là cuộc nổi dậy của quần chúng miền Nam. Đầu tiên diễn ra dưới hình thức khởi nghĩa từng phần ở nông thôn trong hai năm 1959-1960, nhằm đánh đánh vào chế độ Mĩ - Diệm, giành chính quyền. Sau đó phong trào Đồng khởi diễn ra  dưới hình thức những cuộc nổi dậy.

    a. Nguyên nhân:

    Để dập tắt phong trào cách mạng miền Nam, trong những năm 1957-1959, Mĩ - Diệm mở rộng chiến dịch "tố cộng", "diệt cộng", tăng cường khủng bố, đàn áp, thực hiện "đạo luật 10-59" lê máy chém đi khắp miền Nam giết hại người vô tội. Cách mạng tổn thất nặng nề.

    Đứng trước bối cảnh đó, tháng 1/1959, Đảng triệu tập Hội nghị TW lần thứ 15, xác định con đường cơ bản của cách mạng miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân bằng đấu tranh chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với đấu tranh vũ trang nhân dân.

    b. Diễn biến:

    Có nghị quyết của Đảng so sáng, phong trào nổi dậy của quần chúng lúc đầu nổ ra lẻ tẻ ở từng địa phương thuộc các tỉnh Bình Định, Ninh Thuận, tới Trà Bồng - Quảng Ngãi, sau lan ra khắp miền Nam thành cao trào "Đồng khởi", tiêu biểu ở Bến Tre

    Tại Bến Tre, ngày 17/1/1960, với các loại vũ khí thô sơ, nhân dân ở ba xã thuộc huyện Mỏ cày đồng loạt nổi dậy phá đồn bốt, diệt bon ác ôn, giải tán chính quyền địch. Cuộc nổi dậy nhanh chóng lan ra toàn huyện Mỏ cày và tỉnh Bến Tre, phá vỡ từng mảng lớn bộ máy cai trị của địch ở thôn xã. Uỷ ban nhân dân tự quản được thành lập, lực lượng vũ trang ra đời và phát triển, ruộng đất của địa chủ được tịch thu chia cho dân cày nghèo...

    Từ Bến Tre, phong trào "Đồng khởi" lan ra khắp Nam Bộ, Tây Nguyên và một phần miền Trung Nam Bộ.

    c. Kết quả: Ta phỏ 2/3 chớnh quyền địch ở thụn xó, chính quyền cách mạng được thành lập dưới hình thức là những UBND tự quản.

    d. Ý nghĩa:

    Phong trào "Đồnn khởi" đã  giáng đòn mạnh vào chính sách thực dân Mĩ ở miền Nam, làm lung lay tận gốc chính quyền Ngô Đình Diệm.

    Đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của cỏch mạng miền Nam: chuyển từ giữ gìn lực lượng sang tiến công. Ngày 20/12/1960: Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, tập hợp nhân dân miền Nam đấu tranh.

2. Miền Nam chiến đấu chống chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của Mĩ (1961-1965).

    a. Bối cảnh lịch sử:

    Sau thắng lợi của phong trào "Đồng khởi" (1959-1960), phong trào chống chế độ Mĩ và chính quyền Sài Gòn của quần chúng miền Nam tiếp tục phát triển. Trong khi đó, phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới dâng cao mạnh mẽ, trực tiếp đe doạ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc.

    Để đối phó lại, ngay khi vừa lên làm Tổng thống Ken-nơ-đi đề ra chiến lược toàn cầu 'Phản ứng linh hoạt". Chiến lược này được Mĩ thực hiện thí điểm ở miền Nam Việt Nam, dưới hình thức chiến lược "Chiến tranh đặc biệt".

    "Chiến tranh đặc biệt" là một loại hình chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của Mĩ, được tiến hành bằng quân đội tay sai, do ''cố vấn" Mĩ chỉ huy, dựa vào vũ khí, trang bị kĩ thuật, phương tiện chiến tranh của Mĩ.

    b. Âm mưu và thủ đoạn của Mĩ trong chiến lược "Chiến tranh đặc biệt":

    Âm mưu: Đây không phải là cuộc nội chiến mà là một cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của Mỹ, bởi vì Mĩ đề ra kế hoạch, cung cấp đô la, vũ khí và phương tiện chiến tranh, chỉ huy bằng hệ thống "cố vấn",  nhằm chống lại nhân dân ta, tiêu diệt lực lượng cách mạng miền Nam phục vụ cho lợi ích của Mĩ. Đây là một cuộc chiến tranh xâm lược vô cùng thâm độc, gây cảnh nồi da xáo thịt "dùng người Việt đánh người Việt".

    Thủ đoạn: 

    + Tiến hành những cuộc hành quân càn quét để tiêu diệt lực lượng cách mạng, tăng lực lượng quân đội Sài Gũn. đây được coi là công cụ của chiến lược ''Chiến tranh đặc biệt''.

    + Dồn dân, lập "Ấp chiến lược", đây được coi là xương sống của chiến lược Chiến tranh đặc biệt. Mục đích là tách dân khỏi cách mạng, bỡnh định miền Nam.

    + Tiến hành phá hoại miền Bắc, phong tỏa biên giới, vùng biển nhằm ngăn chặn sự chi viện từ bên ngoài vào miền Bắc và chi viện từ miền Bắc vào Nam.

    c. Miền Nam chiến đấu chống chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của Mĩ.

    Dưới ngọn cờ cứu nước của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam  do Đảng lãnh đạo, quân giải phóng miền Nam cùng nhân dân đẩy mạnh đấu tranh chống Mĩ và chính quyền Sài Gòn, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, sử dụng ba thứ quân (Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích), tiến công địch trên ba vùng chiến lược (rừng núi, đồng bằng và đô thị), bằng ba mũi giáp công (Chính trị, quân sự và binh vận).

    Ta đã giành được những thắng lợi quan trọng:

    + Trên mặt trận dấu tranh vũ trang: đánh bại cuộc hành quân càn quét của quân đội Sài Gòn vào chiến khu D, căn cứ U Minh...(1962); đánh bại một lực lượng địch đông hơn ta 10 lần tại Ấp Bắc (Mĩ Tho) ngày 2/1/1963, chiến thắng này đã khẳng định khả năng đánh bại "Chiến tranh đặc biệt" của Mĩ. Sau trận Ấp Bắc, khắp miền Nam dấy lên phong trào "Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công"; cùng với đó là chiến thắng ở Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài... đã làm tan rã từng bộ phận quân đội Sài Gòn - công cụ của chiến lược ''Chiến tranh đặc biệt''.

    + Trên mặt trận chống phá bình định: ta và địch đấu tranh rằng co giữa lập và phá"Ấp chiến lược", kết quả là ta phá từng mảng, tới cuối năm 1964 đầu năm 1965, chúng chỉ còn lại 1/3 ấp chiến lược. Với kết quả này, ta đã đánh bại kế hoạch bình định miền Nam của Mĩ - xương sống của chiến lược ''Chiến tranh đặc biệt''.

    + Đấu tranh chính trị: năm 1963, phong trào đấu tranh ở các đụ thị - hậu cứ của chiến lược ''chiến tranh đặc biệt'' diễn ra sôi động. Như phong trào của các tăng li, phật tử Huế, cuộc biểu tình của 70 vận quần chúng Sài Gòn...Phong trào đấu tranh của quần chúng đã làm chính quyền Sài Gòn lung lay tận gốc rễ.

    Đến giữa 1965, ba chổ dựa chủ yếu của chiến tranh đặc biệt bị lung lay tận gốc, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mĩ bị phá sản.

    d. Ý nghĩa:

    Cách mạng miền Nam luôn ở tư thế chủ động. Góp phần làm thất bại âm mưu của Mỹ trong việc dùng miền Nam để  thực hiện thí điểm một loại hình chiến tranh mới để đàn áp cách mạng thế giới

3. Miền Nam chiến đấu chống chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của Mĩ (1965-1968).

    a. Hoàn cảnh lịch sử:

    Đầu năm 1965 đứng tước nguy cơ thất bại hoàn toàn của chiến lược Chiến tranh đặc biệt, đế quốc Mỹ dưới thời tổng thống Giôn-xơn đó chuyển sang thực hiện chiến lược “Chiến tranh Cục bộ” ở miền Nam đồng thời gây chiến tranh phá hoại miền Bắc.

    Chiến tranh Cục bộ là một hình thức chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới được tiến hành bằng quân viễn chinh Mỹ, quân chư hầu và quân đội Sài Gòn trong đó quân Mỹ giữ vai trò quan trọng, cộng với vũ khí và phương tiện chiến tranh của Mỹ.

    b. Âm mưu và thủ đoạn của Mĩ trong chiến lược "Chiến tranh cục bộ":

    Âm mưu: Đẩy mạnh chiến tranh xâm lược, đàn áp và bình định cho được miền Nam, phá hoại miền Bắc đồng thời cứu nguy cho quân đội Sài Gòn.

    Thủ đoạn:

+ Ồ ạt đưa quân viễn chinh Mỹ, quân chư hầu cùng với vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đai vào miền Nam. Lúc đông nhất lên tới 1,5 triệu tên (1969)

+ Mở hàng loạt cuộc hành quân "tìm diệt" và "bình định" miền Nam.

+ Dùng không quân và hải quân bắn phá miền Bắc.

So với chiến lược Chiến tranh cục bộ", chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" cũng là chiến lược chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mĩ, nhằm biến miền Nam VN thành thuộc địa, căn cứ quân sự của Mĩ nhưng về quy mô và tính chất thì nó rộng lớn, ác liệt hơn nhiều...

    c. Miền Nam chiến đấu chống chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của Mĩ:

    - Trên mặt trận quân sự:

    Dựa vào sức mạnh quân sự, ngay khi vừa đặt chân tới miền Nam Việt Nam, Mĩ đã mở ngay cuộc tấn công vào căn cứ của ta ở Vạn Tường- Quảng Ngãi (18/8/1965) với lực lượng mạnh (9.000 quân, trang bị hiện đại. Nhưng với tinh tinh thần chiến đấu anh dũng, quân dân Vạn Tường đã đẩy lùi cuộc tấn công của Mĩ. Chiến thắng Vạn  Tường đã mở đầu cao trào "Tìm Mĩ mà đánh, lùng nguỵ mà diệt" trên khắp miền Nam.

    Sau chiến thắng Vạn Tường, quân dân miền Nam đập tan hàng loạt cuộc hành quân "tìm diệt" và "bình định" trong 2 mùa khô 1965 - 1966 và 1966 - 1967 của quân đội đồng minh và quân đội Sài Gòn. Qua đó bẻ gãy gọng kìm tìm diệt của địch, đẩy địch vào thế phòng ngự, tạo điều kiện cho ta tiến lên tổng công kích, nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.

    Bước vào năm 1968, trên cơ sở so sánh lực lượng thay đổi có lợi cho ta, ta mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy vào hầu khắp các đô thị trong dịp Tết Mậu Thân. Tuy sau cuộc tấn công Tết Mậu Thân (1968) ta có những tổn thất, nhưng cuộc nổi dậy có ý nghĩa to lớn: làm lung lay ý chí xâm lược của Mĩ, buộc Mĩ phải tuyên bố "phi Mĩ hoá" chiến tranh xâm lược, chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc, chấp nhận trở lại bàn đàm phán ở Pa-ri. 

    Trên mặt trận chống phá"bình định": Phá tan từng mảng "ấp chiến lược", mở rộng vùng giải phóng.

    Trên mặt trận đấu tranh chính trị: ở hầu khắp các đô thị, giai cấp công nhân, học sinh, sinh viên, phật tử, thậm chí cả binh sĩ Sài Gòn... đấu tranh đòi Mĩ cút về nước, đòi tự do, dân chủ. Những cuộc đấu tranh đó làm cho uy tín của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam được nâng cao, làm khủng hoảng chính quyền Sài Gòn.

    d.Ý nghĩa:

    + Cách mạng miền Nam tiếp tục phát triển, uy tín của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam được nâng cao trên trường quốc tế.

    + Làm lung lay ý chí xâm lược của quân viễn chinh Mỹ, làm thất bại chiến lược ''Chiến tranh Cục bộ'', của Mĩ, buộc Mĩ trở lại bàn đàm phán ở Pa ri để bàn về việc chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam.

4. Miền Nam chiến đấu chống chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" và "Đông Dương hoá chiến tranh" của Mĩ. (1969-1973)

    a. Hoàn cảnh lịch sử.

    Do bị thất bại nặng nề trong chiến tranh cục bộ ở miền Nam và chiến tranh phá hoại ở miền Bắc. Đế quốc Mỹ dưới thời tổng thống Ních-xơn chuyển sang thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh'' ở Việt Nam và mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương, thực hiện chiến lược "Đông Dương hoá chiến tranh".

    Việt Nam hóa chiến tranh là hình thức chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của Mỹ, được tiến hành bằng quân đội Sài Gòn là chủ yếu, cú sự hỗ trợ của một lực lượng chiến đấu Mỹ, do cố vấn Mỹ chỉ huy cùng với vũ khí và phương tiện chiến tranh của Mỹ.

b. Âm mưu và thủ đoạn:

          - Âm mưu: Tiếp tục thực hiện chớnh sỏch dựng “người việt trị người Việt”, tận dụng triệt để xương máu của người Việt Nam để giảm xương máu của người Mỹ trên chiến trường. Thay màu da trên xác chết.

           Xoa dịu dư luận của nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới để tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược.

          - Thủ đoạn:

          Sử dụng quân đội Sài Gòn làm lực lượng xung kích ở Đông Dương, tiến hành xâm lược Lào và Cam-pu-chia nhằm thực hiện mưu đồ "Dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương", mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc, tiến hành hoạt động ngoại giao để cô lập cách mạng miền Nam.

c. Những diến biến chính:

+ Ngày 6/6/1969: Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đời. Vừa ra đời, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đời đã được 23 nước công nhận, trong đó 21 nước đặt quan hệ ngoại giao. Đây là một thắng lợi không nhỏ trong cuộc chiến chống chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh'' của Mĩ.

+ Ngày 2/9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời. Đây là một tổn thất to lớn của cách mạng nước ta. Nhưng với quyết tâm thực hiện di trúc của Người, nhân dân hai miền đã biến đau thương thành hành động cách mạng.

+ Tháng 4/1970: Hội nghị cấp cao ba nước Đông dương được triệu tập thể hiện sự đoàn kết chiến đấu của ba nước trong chống kẻ thù chung.

+ Cuối tháng 6 năm 1970 đập tan cuộc hành quân xâm lược Cam-pu-chia của 10 vạn quân Mĩ và quân đội Sài Gòn, giải phóng một vùng đất đai rộng lớn.

+ Đập tan cuộc hành quân "Lam Sơn 1719" trên đường 9 - Nam Lào của 4,5 vạn quân Mĩ và quân đội Sài Gòn (3/1971).

+ Phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, học sinh, sinh viên cũng phát triển mạnh mẽ, đặc biệt ở Huế Đà Nẵng, Sài Gòn.

+ Tại các vùng nông thôn, đồng bằng, rừng núi, ven thị, quần chúng nổi dậy chống phá "bình định", phá "ấp chiến lược" của địch.

+ Đặc biệt, với cuộc tiến công chiến lược năm 1972 và trận "Điện Biên phủ trên không'' (18 đến 29/12/1972) ta đó tạo lờn bước ngoặt của chiến tranh.

          d. Ý nghĩa.

          - Giáng một đòn nặng nề vào ngụy quân và quốc sách bình định của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, tạo ra bước ngoặc cho cuộc kháng chiến chống Mỹ.

          - Buộc Mỹ phải tuyên bố Mỹ hóa trở lại cuộc chiến tranh, tức là thừa nhận sự thất bại của chiến lược ''Việt Nam hóa chiến tranh''.

4. Cuộc Tổng tiến cụng và nổi dậy Xuõn 1975.

          a. Chủ trương, kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam.

          * Hoàn cảnh.

Sau Hiệp định Pari tình hình so sánh lực lượng ở miền Nam thay đổi có lợi cho cách mạng: Mĩ và quân đồng minh rút quân về nước, quân đội Sài Gòn mất chỗ dựa, viện trở Mĩ giảm mạnh. Về phía ta, miền Bắc đẩy mạnh sản xuất, tăng chi viện cho miền Nam. ở miền Nam, vùng giải phóng được mở rộng, sản xuất được đẩy mạnh, tăng nguồn lực tại chỗ.

          * Chủ trương, kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Trên cơ sở dự đoán thời cơ, Bộ chính trị Trung ương Đảng đề ra kế hoạch giải phóng miền Nam trong hai năm 1975 - 1976, nhưng lại nhấn mạnh "cả năm 1975 là thời cơ" và chỉ rừ "Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thỡ lập tức giải phúng miền Nam trong năm 1975". Bộ Chính trị nhấn mạnh cần tranh thủ thời cơ đánh nhanh để đỡ thiệt hại về người và của cho nhân dân, giữ gìn tốt cơ sở kinh tế, công trình văn hoá... giảm bớt sự tàn phá của chiến tranh.

          b. Những Diễn biến chớnh của cuộc Tổng tiến cụng và nổi dậy Xuõn 1975:

          Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 diễn ra trong gần hai tháng (từ ngày 4/3 đến ngày 2/5/1975) qua ba chiến dịch lớn: Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng và Chiến dịch Hồ Chí Minh đánh vào thành phố Sài Gòn.

* Chiến dich Tây Nguyên. (Từ ngày 4/3 đến ngày 24/3/1975)

Tây Nguyên là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng. Từ Tây Nguyên có thể tỏa xuống các tỉnh ven biển miền Trung, và Nam Bộ. Vì vậy, ta đánh Tây Nguyên, then chốt  là Buôn Ma Thuột, vì lực lượng của địch ở đây tương đối yếu.

+ Đầu tháng 3/1975 ta đánh nghi binh ở Plâyku, Kom Tum, đồng thời bí mật bao vây Buôn Ma Thuột.

+ 10/3/1975, ta bất ngờ tấn công Buôn Ma Thuột và giành thắng lợi nhanh chúng.

+ 14/3/1975, địch rút chạy khỏi Tây Nguyên về giữ miền duyên hải miền Trung.

+ Ngày 24/3/1975, ta giải phóng hoàn toàn Tây Nguyên.

Chiến dịch Tây Nguyên đó mở ra quá trình sụp đổ hoàn toàn của ngụy quân, ngụy quyền. Đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ chuyển sang một thời kỳ mới: từ tiến công chiến lược ở Tây Nguyên phát triển thành Tổng tiến công chiến lược trên toàn chiến trường miền Nam.

* Chiến dich Huế - Đà Nẵng ( từ ngày 21/3 đến ngày  29/3/1975)

Nhận thấy thời cơ chiến lược đến nhanh, thuận lợi, ngay khi chiến dịch Tây Nguyên Đang tiếp diễn, Bộ Chính trị quyết định thực hiện kế hoạch giải phóng Sài Gòn và toàn miền Nam, trước tiên là giải phóng Huế - Đà Nẵng.

+ Ngày 21/3 ta tấn công Huế, đến 10h30' ngày 25/3 ta giải phóng Huế.

+ Cùng thời gian này, ta giải phóng thị xã Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Chu Lai... uy hiếp Đà Nẵng từ phía nam.

+ Ngày 29/3: ta tấn công Đà Nẵng. 3 giờ chiều cùng ngày, Đà Nẵng được giải phóng.

Chiến thắng Huế -Đà Nẵng đã gây nên tâm lí tuyệt vọng của ngụy quân đưa cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta tiến lên một bước mới với sức mạnh áp đảo.

* Chiến dịch Hồ Chí Minh Lịch sử:

Sau thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng, Bộ Chính trị quyết định tập trung tất cả sức người và sức của để tiến lên giải phóng miền Nam trước mùa mưa. Bộ Chính trị quyết định chiến dịch giải phóng Sài Gòn mang tên " Chiến dịch Hồ Chí Minh".

Trước khi chiến dịch bắt đầu, quân ta tấn công Xuân Lộc và Phan Rang - hai tuyến phòng thủ vòng ngoài bảo vệ Sài Gòn từ phía đông. Ngày 21/4/1975 quân địch ở Xuân Lộc tháo chạy, bộ đội ta áp sát Sài Gòn. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, Dương Văn Minh lên thay.

17 giờ ngày 26/4/1975 ta nổ súng mở đầu chiến dịch Hồ Chí Minh, năm cánh quân của ta cùng lúc tiến vào trung tâm Sài Gòn.

10 giờ 45 phút ngày 30/4/1975, xe tăng của ta tiến thẳng vào Dinh độc lập, bắt sống toàn bộ Chính phủ Trung ương Sài Gòn. Tổng thống Việt Nam Cộng hoà Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng không điều kiện.

11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975 lá cờ cách mạng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập. Báo hiệu Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng.

Ngày 2/5/1975, địa phương cuối cùng(Châu Đốc - An Giang) được giải phóng. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 kết thúc thắng lợi.

5. Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

          a. Ý nghĩa lịch sử:

          Đối với dân tộc: cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước kết thức thắng lợi đã kết thúc 21 năm chiến đấu chống Mĩ và 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ Quốc từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945. Chấm dứt ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc ở nước ta. Trên cơ sở đó, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thống nhất đất nước. Mở ra kỉ nguyên mới cho lịch sử dân tộc - kỉ nguyên đất nước độc lập, thống nhất đi lên của chủ nghĩa xã hội.

          Đối với thế giới: Tác động mạnh đến tình hình nước Mĩ và thế giới, là nguồn cổ vũ to lớn đối với phong trào cách mạng thế giới, nhất là phong trào giải phóng dân tộc.

          b. Nguyên nhân thắng lợi:

          + Sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng với đường lối chính trị, quân sự độc lập, tự chủ, đường lối tiến hành đồng thời cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam.

          + Nhân dân hai miền đoàn kết yêu nước, lao động cần cù, chiến đấu dũng cảm với sự nghiệp giải phúng miền Nam, xây dựng và bảo vệ miền Bắc, thống nhất nước nhà.

          + Nhờ có hậu phương miền Bắc không ngừng lớn mạnh, có khả năng đáp ứng kịp thời các yêu cầu của cuộc chiến đấu ở hai miền.

          + Nhờ có sự phối hợp chiến đấu, đoàn kết giúp đỡ nhau trong đấu tranh chống kẻ thù chung của ba dân tộc ở Đông Dương.

          + Nhờ có sự đồng tình ủng hộ, giúp đỡ to lớn của các lực lượng cách mạng thế giới, nhất là Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN khác.

B. KIẾN THỨC MỞ RỘNG - NÂNG CAO

1. Tình hình nước ta sau Hiệp định Giơ-ne-vơ và Nhiệm vụ của cách mạng mỗi miền:

* Tình hình nước ta sau Hiệp định Giơ-ne-vơ:

+ Chiến tranh chấm dứt, hoà bình được lập lại, miền Bắc được giải phúng.

+ Phá phá hoại Hiệp định, Mĩ tìm cách nhảy vào thế Pháp ở miền Nam, thành lập chính quyền tay sai Ngô Đỡnh Diệm với âm mưu biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mĩ ở Đông Dương và Đông Nam Á.

Như vậy, đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị - xã hội khác nhau.

* Nhiệm vụ tiếp theo của cách mạng mỗi miền:

+ Miền Bắc: tiến hành xây dựng CNXH, làm hậu phương cho CMMN.

+ Miền Nam: đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, tự do, dân chủ, hoà bình.....

+ Nhiệm vụ chung: xây dựng miền Bắc vững mạnh, đấu tranh đòi hoà bình, độc lập, dân chủ trong cả nước, tiến tới tổng tuyển cử tự do thống nhất đất nước.

2. Điểm giống và khác nhau giữam hai chiến lược ''Chiến tranh cục bộ'' và "Chiến tranh đặc biệt" của Mĩ ở miền Nam.

          - Giống nhau:

          + Đều là chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mĩ, nhằm biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mĩ.

          + Đều thực hiện âm mưu chống lại cách mạng và nhân dân miền Nam.

          - Khác nhau:

          + Quy mô chiến tranh: "Chiến tranh đặc biệt" ở miền Nam, còn "Chiến tranh cục bộ" mở rộng ra cả hai miền Nam - Bắc.

          + Tính chất: "Chiến tranh cục bộ" ác liệt hơn, thể hiện ở mục tiêu, lực lượng tham chiến, vũ khí, hoả lực, phương tiện chiến tranh.

          + "Chiến tranh đặc biệt được tiến hành bằng quân đội tay sai dưới sự chỉ huy của cố vấn Mĩ, dựa vào vũ khí, trang bị kỹ thuật, phương tiện chiến tranh của Mĩ nhằm thực hiện mưu đồ cơ bản là ''Dùng người Việt đánh người Việt'', ''Thay màu ra cho xác chết''. Chúng mở nhiều cuộc hành quân càn quét, mục tiêu là chống phá cách mạng và bình định miền Nam. Chúng coi ''ấp chiến lược" là ''quốc sách'' nhằm tách cách mạng ra khỏi dân để thực hiện cái gọi là ''tát nước bắt cá''.

          + "Chiến tranh cục bộ", mục tiêu là vừa tiêu diệt quân chủ lực vừa bình định miền Nam, phá hoại miền Bắc. Lực lượng tham chiến đông, gồm cả Mĩ, quân đội đồng minh, quân đội Sài Gòn, trong đó quân Mĩ đóng vai trò chủ yếu và không ngừng tăng lên về số lượng và trang bị. Chúng sử dụng cả vũ khí hiện đại, hoả lực mạnh cả trên bộ, trên không, trên không, trên bộ, trên biển, tốc độ nhanh và mở liên tục nhiều chiến dịch nhằm tìm diệt và bình định vào đất thánh Việt cộng.

II. CÂU HỎI LUYỆN TẬP

  1. Trình bày nguyên nhân, diễn biến, kết quả, ý nghĩa của phong trào ''Đồng khởi''?

          - Mục 1 - phần kiến thức trọng tâm.

  1. Thế nào là ''Chiến tranh đặc biệt''? ''Chiến tranh đặc biệt'' được Mĩ thực hiện trong bối cảnh lịch sử nào? Cho biết âm mưu và thủ đoạn của Mĩ?

          - Phần a, b mục 2 - phần kiến thức trọng tâm.

  1. Quân dân miền Nam đấu tranh chống chiến lược ''Chiến tranh đặc biệt'' như thế nào?

          - Phần c, d mục 2 - phần kiến thức trọng tâm.

  1. Thế nào là ''Chiến tranh cục bộ''? ''Chiến tranh cục bộ'' được Mĩ thực hiện trong bối cảnh lịch sử nào? Cho biết âm mưu và thủ đoạn của Mĩ?

          - Phần a, b mục 3 - phần kiến thức trọng tâm.

  1. Quân dân miền Nam đấu tranh chống chiến lược ''Chiến tranh cục bộ'' như thế nào?

          - Phần c, d mục 3 - phần kiến thức trọng tâm.

  1. Thế nào là ''Việt Nam hoá chiến tranh''? ''Việt Nam hoá chiến tranh'' được Mĩ thực hiện trong bối cảnh lịch sử nào? Cho biết âm mưu và thủ đoạn của Mĩ?

          - Phần a, b mục 4- phần kiến thức trọng tâm.

  1. Quân dân miền Nam đấu tranh chống chiến lược ''Việt Nam hoá chiến tranh'' như thế nào?

          - Phần c, d mục 4 - phần kiến thức trọng tâm.

  1. Cho biết chủ trương và kế hoạch giải phóng miền Nam?

          - Phần a mục 5 - phần kiến thức trọng tâm.

  1. Nêu những diễn biến chính của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân năm 1975?

          - Nêu sơ qua mục a. Nêu toàn bộ mục b -  phần kiến thức trọng tâm.

  1. Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước?

----------------------------------------

 

Chủ đề 6

Việt Nam thời kì đổi mới

 

1. Vì sao phải đổi mới?

          Qua 10 năm thực hiện cách mạng XHCN (1976 - 1975), bên cạnh những thành tựu đạt được, đất nước vẫn gặp nhiều khó khăn và yếu kém, đất nước dơi vào khủng hoảng.

          Trước sự tác động của cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật, những sự thay đổi của tình hình thế giới, nhất là sự khủng hoảng ở Liên Xô.

          => Yêu cầu: Đảng và Nhà nước ta phải đổi mới đất nước.

2. Nội dung đường nối đổi mới.

          Đường nối đổi mới được Đảng đề ra đầu tiên tại Đại hội Đảng VI (12/1986), sau đó được phát triển qua các Đại hội Đảng VII (6/1991), VIII (6/1996), IX (4/2001). Nội dung cơ bản là:

          Đổi mới đất nước đi lên CNXH không phải là làm thay đổi mục tiêu của CNXH, mà làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả bằng những quan điểm đúng đắn về CNXH với những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp.

          Đổi mới phải toàn diện, đồng bộ, từ kinh tế, chính trị đến tổ chức, tư tưởng, văn hoá. Đổi mới kinh tế phải gắn với đổi mới chính trị, nhưng trọng tâm là đổi mới kinh tế.

3. Thành tựu sau 15 năm đổi mới. (1986 - 2000)

          - Trong 15 năm thực hiện đường lối đổi mới với 3 kế hoạch 5 năm 1986-1990; 1991-1995; 1996-2000, nhân dân ta đó đạt được nhiều thành tựu về mọi mặt:

          + Tăng cường sức mạnh tổng hợp - làm thay đổi bộ mặt đất nước và cuộc sống của nhân dân.

          + Củng cố độc lập dân tộc và chế độ XHCN

          + Nâng cao vị thế, uy tín của nước ta trên trường quốc tế.

          - Khó khăn, yếu kém sau 15 năm đổi mới:

          + Kinh tế phát triển chưa vững chắc, chưa có hiệu quả và sức cạnh tranh thấp.

          + Một số vấn đề xã hội còn bức xúc và gay gắt, chậm được giải quyết.

          + Tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức của một số bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên.

          Tình hình đó đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân không ngừng phấn đấu mạnh mẽ hơn nữa để vươn tới những mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văm minh theo định hướng XHCN.

------------------------------------------------------------------------

 

 

 

Tác giả: Ứng Hồng Huệ
Gần lắm trường xa
Ngày hội đến trường
Nơi ấy con tìm về
  • Ba công khai
  • Thông báo
Website Đơn vị