tin tức-sự kiện

Phương pháp 'Bàn tay nặn bột' trong môn Khoa học 4

PHẦN MỞ ĐẦU

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

1. Môn tiếng Việt trong nhà trường tiểu học chiếm 40,7% tổng số tiết thực học trong chương trình (1610/3955 tiết). Nó vừa là đối tượng nhận thức, vừa là công cụ nhận thức giúp cho học sinh có được năng lực sử dụng tiếng Việt văn hoá để học tập và giao tiếp, đồng thời thông qua việc học tiếng Việt rèn luyện cho học sinh năng lực trí tuệ, năng lực tư duy, bồi dưỡng tư tưởng lành mạnh trong sáng. Nói cách khác “Chất lượng dạy học tiếng Việt ở trường phổ thông có quan hệ trực tiếp tới năng lực ngôn ngữ, năng lực tư duy của các hệ nối tiếp và ảnh hưởng trực tiếp đến vận mệnh văn hoá Việt Nam”.

2. Mở rộng vốn từ trong phân môn luyện từ và câu là một môn đặc biệt quan trọng trong bộ môn tiếng Việt ở nhà trường tiểu học. Trong hệ thống tín hiệu ngôn ngữ, từ là đơn vị tín hiệu địch thực, tạo điều kiện cho ngôn ngữ trở thành phương tiện giao tiếp của xã hội loài người. Vì vậy, thiếu từ vựng thì sẽ không có bất cứ ngôn ngữ nào. Các thành phần ngữ âm, thành phần ngữ pháp, ngữ nghĩa đều được thể hiện trong từ. Nhà trường tiểu học phải có nhiệm vụ trang bị và sử dụng vốn từ trong học tập và trong giao tiếp. Phân môn luyện từ và câu trong bộ môn tiếng Việt đảm nhận nhiệm vụ quan trọng này. Quá trình dạy từ ngữ ở trường tiểu học có nhiệm vụ làm phong phú, chính xác, tích cực hoá vốn từ đồng thời cung cấp cho học sinh một số khái niệm cơ bản về từ vựng, giúp các em hoàn thiện vốn kiến thức, nắm vững tiếng mẹ đẻ, tạo điều kiện để học tập các môn học khác và giao tiếp được tốt hơn.

3. Thực tiễn của việc dạy học luyện từ và câu ở nhà trường tiểu học nói chung, lớp 4 nói riêng còn gặp rất nhiều khó khăn và hạn chế. Người giáo viên có nhiều lúng túng khi dạy bài từ ngữ phần lớn lệ thuộc vào tài liệu có sẵn chưa kích thích được tính chủ động, sáng tạo, không gây hứng thú học tập cho học sinh. Học sinh nghe nhưng chưa kịp hiểu, nhớ từ nhưng chưa được thực hành chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của môn luyện từ và câu.

4. Những năm gần đây, đổi mới phương pháp dạy học là xu thế của thời đại, là nhiệm vụ, yêu cầu mà Đảng, Nhà nước đặt ra cho ngành giáo dục đào tạo. Vì vậy, trong giáo dục nói chung và nhà trường nói riêng có sự đổi mới về nội dung chương trình và phương pháp dạy học. Giáo sư Trần Hồng Quân đã khẳng định: “Cần đổi mới mạnh mẽ về phương pháp dạy học theo hướng giáo dục tích cực, lấy người học làm trung tâm”.

Tuy nhiên, việc thực hiện quan điểm đổi mới trong từng môn học, từ bài học cụ thể là vấn đề cần phải nghiên cứu bàn bạc và làm sáng tỏ. Cho đến thời điểm này việc đưa ra quy trình, cấu trúc, nói rộng hơn là phương pháp dạy học theo hướng đổi mới các môn ở tiểu học chưa được nghiên cứu một cách cụ thể. Phân môn luyện từ và câu ở tiểu học nói chung và ở lớp 4 nói riêng cũng nằm trong tình trạng đó.

Xuất phát từ tất cả những điều kiện đã trình bày ở trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Dạy học kiểu bài mở rộng vốn từ phân môn luyện từ và câu lớp 4 theo hướng đổi mới” mong muốn hiện thực hoá, cụ thể hóa đổi mới phương pháp dạy học ở một môn học cụ thể trong nhà trường tiểu học.

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP

DẠY HỌC LUYỆN TỪ VÀ CÂU Ở TRƯỞNG TIỂU HỌC

I. CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN

Phương pháp dạy học tiếng Việt nói chung, phương pháp dạy luyện từ và câu nói riêng dựa trên cơ sở phương pháp lý luận hết sức quan trọng đó là triết học Mác - Lênin. Một số luận điểm của triết học Mác - Lênin về phương pháp luận khoa học, về ngôn ngữ và quá trình nhận thức có ảnh hưởng trực tiếp, quan trọng tới phương pháp dạy tiếng Việt.

a. Trước hết triết học biện chức đã chỉ rõ rằng: phương pháp là phạm trù gắn liền với hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người đó, phương pháp là một trong những yếu tố, phương pháp quyết định thành công hay thất bại trong hoạt động nhận thức và cải tạo thực hiện. Phương pháp càng đúng đắn thì kết quả thực hiện lại càng cao và ngược lại. Phương pháp không phảI là những nguyên tắc có sẵn bất biến. Nó phụ thuộc vào đối tượng nghiên cứu và mục đích đặt ra. Phương pháp được xác định rõ và đúng thì các điều kiện khác đều nhằm phục vụ cho việc thực hiện các nội dung theo phương pháp đã xác định. Nói cách khác, bất kỳ hoạt động nào cũng phải tìm ra con đường đi đến mục đích ngắn nhất. Việc nghiên cứu của phương pháp dạy bài từ ngữ lớp 4 theo hướng đổi mới chính là xuất phát từ quan điểm tìm ra con đường ngắn nhất để đạt mục đích dạy học từ ngữ có hiệu quả cao nhất.

Dựa vào quan điểm nói trên của triết học Mác - Lênin phương pháp dạy học tiếng Việt - phương pháp dạy học luyện từ và câu đã vận động phát triển phù hợp với mục đích hiện tại: phát huy tính tích cực của học sinh đạt hiệu quả tích cực trong quá trình dạy học.

a. Chúng ta thấy rằng: "ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người" (B.L.Lênin). Không có ngôn ngữ thì con người không thể tồn tài được vì vậy phải khi nghiên cứu của ngôn ngữ cần phải đặt nó trong hệ thống trong hoạt động chức năng. Việc học tập ngôn ngữ trong nhà trường nhằm giúp học sinh có khả năng sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện giao tiếp. Quá trình dạy học bộ môn tiếng Việt nói chung, phân môn luyện từ và câu nói riêng nhằm mục đích giúp học sinh tiểu học sử dụng đúng, chính xác tiếng Việt trong giao tiếp cũng như trong hoạt động dạy học.

Mặt khác triết học Mác - Lênin cũng khẳng định ngôn ngữ gắn bó chặt chẽ với tư duy. Tư duy con người không thể phát triển nếu thiếu ngôn ngữ. Việc chiếm lĩnh ngôn ngữ chính là tạo ra những tiền đề để phát triển tư duy. Dạy học các bài từ ngữ nhằm giúp cho học sinh có khả năng diễn đạt tư duy của mình bằng những ngôn ngữ khác nhau. Do vậy việc dạy bài luyện từ và câu lớp 4 theo hướng đổi mới là nhằm giúp học sinh hiểu và thiết lập được mối quan hệ tương hỗ giữa lời nói và tư duy.

c. Lý luận nhận thức Mác - Lênin đã khẳng định rằng con đường biện chức của nhận thức chân lý khách quan là: từ trực quan sinh động đến tư duy trìu tượng, tư duy trìu tượng trở về thực tiễn. Ngôn ngữ là phương tiện của hoạt động nhận thức. Vì vậy giáo dục ngôn ngữ cho học sinh cần phải đi trước một bước và đồng thời phải tiến hành song song với việc rèn luyện tư duy.

Dựa trên những kinh nghiệm sống, những thói quen sử dụng ngôn ngữ hàng ngày việc dạy tiếng Việt trong nhà trường trước hết nhằm phát triển khả năng nhận thức cảm tính của học sinh - đó chính là cơ sở cho bài học tiếng Việt. Học sinh từ việc quan sát tiếng nói trong đời sống, thông qua việc phân tích, tổng hợp đến khái quát hoá định nghĩa, các qui tắc và từ đó lại được vận dụng trong giao tiếp hàng ngày ở cả dạng nói và dạng viết. Từ đó, học sinh tiếp nhận được những quy tắc, những mẫu lời nói có ý thức.

Dạy học luyện từ và câu theo hướng đổi mới thoát ly được cách truyền đạt giáo điều áp đặt chỉ có lý thuyết mà không có thực tiễn nhằm đạt được mục đích cuối cùng của việc dạy học luyện từ và câu là học sinh hiểu từ và sử dụng được từ trong các hoạt động thực tiễn.

1.2. CƠ SỞ TÂM LÝ HỌC

1.2.1. Dạy học luyện từ và câu theo hướng tích cực phải dựa trên đặc điểm tâm lý của quá trình nhận thức của học sinh tiểu học

* Về tri giác

Tri giác của học sinh tiểu học mang tính chất đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và mang tính không chủ động, do đó mà việc phân biệt các đối tượng còn thiếu chính xác, dễ mắc sai lầm, có khi còn lẫn lộn. Ở các lớp đầu ở bậc tiểu học tri giác của học sinh thường gắn với cảm xúc. Những sự vật, những dấu hiệu, những đặc điểm nào trực tiếp gây nên những xúc cảm thì các em tri giác tốt hơn. Tri giác về không gian và thời gian của học sinh tiểu học còn hạn chế.

* Chú ý

- Ở học sinh tiểu học chú ý chủ định còn yếu, khả năng điều chỉnh chú ý một cách có ý trí chưa mạnh. Chú ý không chủ định được phát triển mạnh. Những gì mang tính chất mới lạ, bất ngờ, rực rỡ khác thường làm cho các em chú ý tập trung nhiều hơn. Vì vậy, việc sử dụng đồ dùng dạy học là điều kiện quan trọng để tổ chức sự chú ý. Nhu cầu hứng thú có thể kích thích và duy trì sự chú ý không có chủ lực, vì vậy giáo viên cần tìm cách làm cho giờ học được hấp dẫn và lý thú.

- Sự tập trung chú ý học sinh lớp 1, lớp 2 còn chưa cao. Các công trình nghiên cứu chú ý đã khẳng định học sinh tiểu học chỉ tập trung khoảng 30 đến 35 phút. Sự chú ý của học sinh tiểu học còn phụ thuộc vào nhịp độ học tập. Nhịp độ học tập quá nhanh hoặc quá chậm đến không thuận lợi cho tính bền vững và sự tập trung chú ý.

- Khả năng phát triển của chú ý có chủ định bền vững. Tập trung của học sinh tiểu học trong quá trình học tập là rất cao. Bởi vì bản thân quá trình học tập đòi hỏi các em phải rèn luyện thường xuyên sự chú ý có chủ định. Rèn luyện ý trí.

* Trí nhớ.

- ở học sinh tiểu học, hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất chiếm ưu thế nên trí nhớ trực quan - hình tượng được phát triển hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic. Việc nhớ các sự vật, hiện tượng cụ thể sẽ nhanh hơn những định nghĩa khái niệm.

- Học sinh tiểu học chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết sử dụng sơ đồ lôgíc, và dựa vào các điểm tựa đề ghi nhớ.

* Tưởng tượng.

- Tưởng tượng của học sinh tiểu học được hình thành và phát triển trong hoạt động học và các hoạt động khác. Tưởng tượng của học sinh tiểu học phát triển và ngày càng phong phú hơn song nhìn chung tưởng tượng cảm của các em còn tản mạn ít có tổ chức. Hình ảnh của tưởng tượng còn đơn giản hay thay đổi hay chưa bền vững.

Ở các lớp cuối bậc (lớp 4, lớp 5) tưởng tượng của các em gần với hiện thực hơn, các em có khả năng nhào nặc, gọt dũa những hình tượng cũ để sáng tạo ra hình tượng mới. Có được điều này là những học sinh lớp 4, lớp 5 đã biết dựa vào ngôn ngữ để xây dựng hình tượng mang tính khái quát và trìu tượng hơn. Tưởng tượng của các em đã gắn liền với sự phát triển của tư duy và ngôn ngữ.

* Tư duy.

- Tư duy của học sinh tiểu học là tư duy cụ thể mang tính hình thức dựa vào những đặc điểm chủ quan của đối tượng và hiện tượng cụ thể.

- Nhờ ảnh hưởng của việc học tập, học sinh tiểu học chuyển dần việc nhận thức các mặt bên ngoài của các sự vật, hiện tượng đến nhận thức các thuộc tính và dấu hiệu bản chất của sự vật, hiện tượng và tư duy từ đó tạo thành khả năng khái quát đầu tiên so sánh, xây dựng những suy luận siêu đẳng.

- Kỹ năng phân biệt các dấu hiệu để nhận biết thuộc tính bản chất còn hạn chế, việc phân biệt giữa các dấu hiệu bên ngoài với những thuộc tính bản chất chưa rõ ràng.

- Khả năng khái quát hoá của học sinh tiểu học còn hạn chế nếu không có sự hướng dẫn của người lớn. Hoạt động phân tích - tổng hợp còn sơ đẳng ở các lớp đầu bậc tiểu học tiến hành hoạt động phân tích - trực quan - hành động khi tri giác trực tiếp đối tượng. Ở các lớp cuối bậc tiểu học, học sinh có thể phân tích được đối tượng, các em có thể phân biệt được những dấu hiệu, những khía cạnh khác nhau của đối tượng dưới dạng ngôn ngữ. Việc học tiếng Việt và số học sẽ giúp học sinh biết phân tích và tổng hợp.

Từ những đặc điểm nhận thức của các học sinh tiểu học như đã trình bày ở trên ta thấy rằng khi dạy luyện từ và câu cho học sinh tiểu học nhất thiết phải dựa trên những quy luật và đặc điểm tâm lý của học sinh. Những quy luật này là cơ sở đáng tin cậy cho việc xem xét khả năng nhận thức và thực hành từ ngữ ở tiểu học. Việc nghiên cứu đặc điểm tâm lý lứa tuổi cho thấy rõ khả năng tiếp nhận tri thức và hình thành kỹ năng khác nhau ở những độ tuổi là có sự khác nhau. Từ đó quá trình dạy học luyện từ và câu sẽ "tránh" tình trạng (quá tải) hoặc ngược lại nếu không căn cứ vào độ tuổi mà đưa ra những kiến thức quá dễ sẽ làm cho học sinh chán, không hứng thú. Vì lẽ đó mà chương trình bộ môn tiếng Việt nói chung, phân môn luyện từ và câu ở tiểu học chủ yếu dựa vào trực cảm ngôn ngữ của học sinh do đặc điểm tư duy trực quan của các em tâm lý học đưa ra những số liệu cụ thể và quá trình nắm lời nói, nắm ngữ pháp do đó ta có thể xác định được mức độ và của tài liệu học tập.

1.2.2. Dạy học luyện từ và câu cần dựa vào kết quả nghiên cứu tâm lý ngôn ngữ học.

Tâm lý ngôn ngữ học nghiên cứu những vấn đề vô cùng quan trọng đối với phương pháp dạy tiếng Việt. Đó là quá trình sản sinh và tiếp nhận lời nói quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ ở học sinh ở tiểu học.

Những thành tựu nghiên cứu về hoạt động lời nói là cơ sở để việc đề xuất nội dung phương pháp phát triển 4 dạng hoạt động lời nói: đọc, nghe, nói, viết cho học sinh tiểu học được tốt hơn. Các quy luật trong quá trình xuất hiện ngôn ngữ ở học sinh tiểu học, khả năng chiếm lĩnh các mặt ngữ âm, từ vừng, ngữ pháp ở lứa tuổi này sẽ là cơ sở cho việc đề xuất nội dung phương pháp rèn luyện, phát triển vốn từ, vốn ngữ pháp và khả năng vận dụng chúng trong giao tiếp.

1.2.3. Dạy học luyện từ và câu theo hướng tích cực dựa trên cơ sở lý luận chung về hứng thú.

- "Hứng thú là thái độ đặc thù của cá nhân đối với đối tượng nào đó do ý nghĩa của nó trong đời sống và trong sự hấp dẫn của nó về mặt tình cảm" (A.G.Covalinốp).

Tâm lý học Mác Xít đã chỉ rõ: hứng thú của cá nhân được biểu hiện cụ thể như sau:

- Cá nhân nhận thức được ý nghĩa tầm quan trọng của đối tượng đó đối với chính bản thân mình.

- Cá nhân có những tình cảm đặc biệt, những cảm xúc nhất định về đối tượng. Nó tạo thành nguồn kích thích cá nhân say mê hoạt động, hành động và hoạt động đạt được kết quả.

- Hứng thú cá nhân biểu hiện tập trung chú ý cao độ nghe giảng hay tìm tòi suy nghĩ; đặt cho thấy, bạn nhiều câu hỏi trong giờ học, tích cực sáng tạo trong học tập, trong thực tiễn, hay giải thích cho mình, cho bạn các hiện tượng sự kiện, thích tìm ra cái mới.

Trong hàng loạt những hứng thú của con người đối với học sinh tiểu học hứng thú nhận thức được đặc biệt coi trọng. Hứng thú bao giờ cũng có tính tích cực (nhưng không phải sự tích cực nào cũng có hứng thú). Nhà giáo dục học Uxinxki đã khẳng định: "sự học tập nào không có hứng thú gì cả mà chỉ biết hành động cưỡng bức thì giết chết lòng ham muốn học tập của cá nhân".

Hứng thú nhận thức nâng cao tính nhận thức tích cực của cá nhân làm tăng thêm hiệu quả của quá trình nhận thức, làm nảy sinh khát vọng hành động sáng tạo. Mặt khác hứng thú là một hiện tượng tâm lý được nảy sinh trong quá trình hoạt động và giao tiếp.

- Quá trình dạy luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 theo hướng tích cực đã coi hứng thú nhận thức là một trong những yếu tố cơ bản quyết định hiệu quả của giờ dạy học ở cả hai phương diện tổ chức dạy học và chất lượng giờ học. Trên cơ sở lý luận về hứng thú, quá trình thiết kế và thể hiện bài dạy học luyện từ vâu lớp 4 theo hướng đổi mới đã tác động làm nảy sinh và phát triển hứng thú, kích thhích hoạt động của học sinh, nảy sinh mong muón tìm tòi phát hiện và góp phần phát huy một trong những năng lực quý giá nhất của con người là năng lực thích thú tập trung vào hoạt động say mê với công việc.

Tóm lại, phương pháp dạy học luyện từ và câu nói chung và dạy học luyện từ và câu lớp 4 theo hướng đổi mới nói riêng phải dựa trên những thành tựu nghiên cứu của tâm lý học (tâm lý học cá nhân, hứng thú, tâm lý học lứa tuổi, tâm lý ngôn ngữ…) để xác định nội dung và phương pháp dạy học.

1.3. CƠ SỞ GIÁO DỤC HỌC

1.3.1. Dạy học luyện từ và câu lớp 4 theo hướng đổi mới dựa trên những cơ sở lý luận dạy học hiện đại.

Lý luận dạy học nghiên cứu của những phạm trù chung nhất của việc dạy học. Phương pháp giảng dạy tiếng Việt nói chung và phương pháp giảng dạy luyện từ và câu nói riêng là một bộ phận của khoa học giáo dục nên nó phải tuân thủ theo những quy luật chung của quá trình giáo dục. Giáo dục học nói chung và lý luận học nói riêng sẽ cung cấp cho phương pháp dạy học tiếng Việt những quy luật chung của việc dạy học môn học nhằm phát triển trí tuệ, hình thành thế giới quan khoa học, phát trển tư duy sáng tạo, giáo dục tư duy tưởng đạo đức, phát triển óc thẩm mỹ… trên cơ sở mục tiêu dạy học phương pháp giảng dạy luyện từ và câu cụ thể hoá thành nhiệm vụ cụ thể đó là:

- Về lý thuyết: trang bị cho học sinh một số khái niệm lý thuyết về cấu tạo tiếng, cấu tạo từ, từ đơn, từ phức, từ ghép, từ láy, nghĩa của từ, các lớp từ. Hoặc DT,ĐT,TT. Từ đó cho học sinh nắm được nghĩa của từ, biết hệ thống hoá vốn từ.

- Về thực hành: dạy thực hành luyện từ và câu cho học sinh chính là dạy từ theo quan điểm giao tiếp dạy từ trên bình diện phát triển lời nói. Nghĩa là làm giàu vốn từ cho học sinh, rèn luyện cho học sinh kỹ năng sử dụng từ ngữ. Có khả năng phân biệt được các từ loại.

Các nguyên tắc dạy học luyện từ và câu dựa trên tiền đề của các nguyên tắc phương pháp dạy học trong giáo dục.

- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa lý thuyết và thực tiễn.

- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa trìu tượng trong dạy học

- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất vừa sức chung và riêng

- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và giáo dục

- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất vai trò tự giác tích cực - động lập của học sinh đối với vai trò tổ chức hướng dẫn chủ đạo của giáo viên.

Dạy học luyện từ và câu ngoài việc tuân theo các nguyên tắc dạy học nói chung, còn phải tuân theo nguyên tắc dạy học tiếng Việt và các nguyên tắc đặc thù ngữ pháp (nguyên tắc trực quan, nguyên tắc đồng bộ, nguyên tắc thực hành, nguyên tắc tính đến đặc điểm của từ trong ngôn ngữ). Những nguyên tắc đặc thù này phản ánh những nét riêng biệt của việc dạy học luyện từ và câu đồng thời cũng thể hiện sự thống nhất dựa trên những nguyên tắc cung của quá trình giáo dục.

1.3.2. Dạy học luyện từ và câu lớp 4 theo hướng đổi mới dựa trên những thành tựu nghiên cứu về đổi mới nội dung và phương pháp dạy học của giáo dục học.

Đổi mới phương pháp dạy học là đưa các phương pháp học mới vào nhà trường trên cơ sở phát huy mặt tích cực của các phương pháp truyền thống để nâng cao chất lượng dạy học, nâng cao hiệu quả đào tạo của giáo dục.

Quá trình đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học nhất thiết phải được quán triệt trên các quan điểm chỉ đạo sau đây:

+ Quan điểm quán triệt mục tiêu giáo dục ở tiểu học

Việc đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học nhằm mục tiêu: góp phần đào tạo những người lao động tự chủ và sáng tạo (Nghi quyết hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành TW Đảng khoá VIII), những người sẵn sàng thích ứng với những đổi mới nền kinh tế – xã hội của đất nước, những người năng động linh hoạt, hài hoà với lối sống ngày càng đa dạng, phức tạp và hoà nhập vào xã hội hiện đại. Đó là nét đặc trưng, những điểm mới của mục tiêu giáo dục tiểu học cần phải quán triệt trong đổi mới phương pháp dạy học.

+ Quan điểm cá thể dạy học trong điều kiện phổ cập giáo dục tiểu học.

Cá thể hóa dạy học là phát triển năng lực của từng cá nhân trên cơ sở một nền giáo dục tiểu học toàn diện và cân đối. Cá thể hóa dạy học là góp phần thực hiện chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học đồng thời tạo điều kiện phát hiện, bồi dưỡng năng lực của từng học sinh.

Cá thể hóa dạy học là đòi hỏi cả giáo viên và học sinh phải tích cực, chủ động, linh hoạt và sáng tạo trong quá trình dạy học.

Giáo viên phải vận dụng các phương pháp dạy học và các hình thức tổ chức dạy học theo đặc điểm cả lớp và từng học sinh để dạy học cho phù hợp với từng đối tượng, đáp ứng với yêu cầu ngày càng cao của học sinh, xử lý linh hoạt các tình huống sư phạm.

Học sinh được phát triển đến mức cao nhất khả năng của mình. Đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học theo định hướng “tập trung vào người học”.

+ Quan điểm tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh bằng dạy học tự phát hiện.

Các phương pháp dạy học sẽ phát huy được mặt tích cức nếu giúp học sinh học tập bằng cách tự phát hiện nội dung mới của bài học. Mức độ tự phát hiện nội dung mới của bài, cửa từng học sinh tuy có khác nhau song vối cách hợp tác trong hoạt động học tập học sinh có thể tìm tòi, khám phá chiếm lĩnh tri thức mới theo sự hướng dẫn của giáo viên:

- Học sinh phải tự biết cách phát hiện vấn đề, biết cách giải quyết vấn đề theo tình huống có thực của cuộc sống cộng đồng.

- Dạy học tự phát hiện đòi hỏi mọi hoạt động dạy học đều hướng vào học sinh, người học phải độc lập suy nghĩ, tăng cường hợp tác với bạn để tìm ra cái mới, rèn hoc học sinh hình thành năng lực sáng tạo.

Để triển khai các quan điểm đổi mới phương pháp dạy học vào nhà trường tiểu học phải thực hiện các định hướng sau:

+ Đổi mới phương pháp dạy học tiểu học phải là một bộ phận của quá trình đổi mới đồng bộ và toàn diện của giáo dục tiểu học.

+ Đổi mới phương pháp dạy học tiểu học phải kế thừa các ưu điểm những sáng tạo của quá trình cải tiến phương pháp dạy học tiểu học ở nước ta, phải tiếp nhận và vận dụng đúng mức những thành công của đổi mới phương pháp dạy học tiểu học ở nước ngoài.

+ Đổi mới phương pháp dạy học phải phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của nhà trường Việt Nam, có bước đi phù hợp với từng giai đoạn, từng vừng địa phương, tránh nóng vội, bảo thủ.

Tất cả những thành tựu nghiên cứu về đổi mới phương pháp dạy học nói chung và ở bậc tiểu học nói riêng đã định hướng cho chúng tôi tiến hành nghiên cứu dạy học bài từ ngữ lớp 4, khi xây dựng phương án dạy học, thiết kế bài học và lựa chọn hình thức tổ chức dạy học cũng như khi đánh giá hiệu quả việc học dạy học luyện từ và câu ở học sinh lớp 4.

1.4. CƠ SỞ NGÔN NGỮ HỌC

Ngôn ngữ học nói chung và tiếng Việt nói riêng có quan hệ mật thiết với p dạy học tiếng Việt và phương pháp giảng dạy ngữ pháp, từ ngữ. Ngôn ngữ tiếng Việt tạo nên nền tảng của môn học tiếng Việt. Phương pháp giảng dạy tiếng Việt phát hiện được những quy luật riêng, đặc thù của dạy học tiếng Việt do chính khoa ngôn ngữ học quy định nét đặc thù này.

Những hiểu biết về bản chất của ngôn ngữ tiếng Việt có vai trò quan trọng trong việc định ra các nguyên tắc, nội dung và phương pháp dạy học tiếng Việt.

Những tri thức về cấu tạo từ tiếng Việt và quan hệ giữa chúng với nghĩa của từ, những hiểu biết về ngữ nghĩa của từ tiếng Việt là cơ sở khoa học tạo nên nội dung dạy học luyện từ và câu.

Từ bản chất tín hiệu của ngôn ngữ, dạy tiếng nói chung và dạy từ ngữ nói riêng phải giúp học sinh nắm được giá trí của từng hiện tượng ngôn ngữ. Tính hệ thống của ngôn ngữ là cơ sở để xây dựng hệ thống bài tập yêu cầu học sinh tìm các yếu tố khi biết một yếu tố khác hoặc tìm quan hệ khi biết các yếu tố, đó cũng là cơ sở để cung cấp từ theo chủ đề ở tiểu học.

Các bộ phận của ngôn ngữ học (bao gồm ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, phong cách) có vai trò quan trọng trong việc xác định nội dung và phương pháp dạy học tiếng Việt. Những hiểu biết về từ vựng học rất cần thiết đối với việc tổ chức dạy từ trong nhà trường, những bài tập phong phú với từ đồng nghĩa, khác nghĩa, các nhóm từ theo chủ điểm, từ nhiều nghĩa, những sắc thái nghĩa, những nét biểu cảm của từ.

Từ pháp học và cú pháp học giúp tạo ra những biểu tượng về cấu trúc ngôn ngữ, về hệ thống của nó. Kiến thưc ngữ pháp được sử dụng để hình thành kỹ năng, kỹ xảo trong dạng dấu câu. Đồng thời, ngữ pháp góp phần quan trọng trong việc dạy phát triển lời nói và đảm bảo quan hệ giữa các từ, cụm từ và việc câu đúng ngữ pháp.

Dạy từ nhất thiết phải tính đến đặc điểm của các loại hình ngôn ngữ tiếng Việt như một đơn vị ngôn ngữ quan hệ trực tiếp với thế giới bên ngoài. Dạy học từ ngữ không thể xem xét từ ngữ một cách cô lập mà phải thấy được hoạt động của nó, mối quan hệ của nó với những đơn vị bé hơn (tiếng) và đơn vị lớn hơn (câu, đoạn văn,… ngôn bản).

Trong hệ thống ngôn ngữ, từ không tồn tại cô lập mà luôn luôn nằm trong mối quan hệ với các từ khác. Mối quan hệ này được thể hiện ở 3 dạng: quan hệ ngữ nghĩa, hệ thống từ loại và quan hệ giữa chúng với các từ khác trong ngôn bản và các yếu tố của hoạt động giao tiếp. Có ý nghĩa là dạy từ phải tính đến quan hệ ý nghĩa của từ với các từ khác bao quanh, các phong cách chức năng khác nhau (tính khả năng kết hợp của từ). Như vậy cần tính đến cơ sở ngôn ngữ học của dạy từ, đó cũng là cơ sở của việc đề xuất nguyên tắc tính đến đặc điểm của từ trong hệ thống ngôn ngữ khi dạy học.

II. CƠ SỞ THỰC TIỄN

2.1. Thực tiễn dạy học bài từ ngữ lớp 4

2.1.1. Thực tiễn chuẩn bị bài dạy học của người giáo viên

Kết quả đọc, nghiên cứu một số giáo án và trao đổi với một số giáo viên dạy từ ngữ lớp 4 cho thấy:

+ Nội dung: Người dạy căn cứ (lệ thuộc) vào sách hướng dẫn (sách giáo viên)

+ Phương tiện: Sách tiếng Việt, phấn, bảng, ít và dường như không có các phương tiện hỗ trợ.

+ Hình thức: Soạn giáo án: các mục đảm bảo đủ – nội dung sơ sài, không có dự kiến các tình huống phát triển, ít và không có các bài tập nâng cao (một số giáo viên soạn giáo án sau khi dạy). Rất ít giáo viên chuẩn bị kỹ lưỡng phần giải thích của từ ngữ trong giáo án. Nói cách khác, nhiều giáo viên không có điều kiện tham khảo tài liệu, từ điển giải thích khi giảng nghĩa của từ cho học sinh lớp 4.

2.1.2. Thực tiễn thực hiện giờ dạy trên lớp:

Thực tiễn của việc dự giờ và quan sát hoạt động dạy học cho chúng tôi rút ra những nhận xét sau:

* Tiến hành lên lớp của người giáo viên: Đảm bảo đủ các bước trong dạy học truyền thống nhưng nhiều giờ dạy không đảm bảo thời gian của tiết học 40 phút. Vì thế, phần luyện tập không hoàn thành được ở lớp thì giao cho trò “về nhà làm” là rất phổ biến. Việc kiểm tra và đánh giá kỹ năng sử dụng từ của học sinh chưa được thực hiện một cách thực sự.

* Tổ chức dạy học: Theo lớp theo hình thức hoạt động giữa thầy và cộng đồng lớp học, người giáo viên làm chủ giờ dạy. Nhiều học sinh trong giờ học không có cơ hội phát huy khả năng, phát biểu ý kiến, quan điểm của mình.

* Thực hiện giờ học các phương pháp dạy học truyền thống: Nhóm phương pháp dùng lời chiếm ưu thế tuyệt đối trong giờ dạy. Nói cách khác giờ học, người giáo viên thường sử dụng phương pháp giải thích minh hoạ, phương pháp vấn đáp. Một số giáo viên có sử dụng phương pháp thực hành có ý khác. Có thể thấy phương pháp dạy từ ngữ của người giáo viên tiểu học đơn điệu, ít sáng tạo.

Phương pháp dạy học truyền thống hiện hành đã trở thành thói quen của người giáo viên. Mặt tích cực của nó là đảm bảo cho thầy trò thực hiện đầy đủ trình tự bài dạy, học sinh có thể ghi chép nội dung bài học. Nhưng mặt khác, cách dạy học nói trên làm cho giờ dạy học luyện từ và câu vào “khuôn khổ” vào dạng “tĩnh”, tức là người học thiếu tích cực chủ động sáng tạo. Mọi hoạt động của trò đều nhằm vào mục đích: thực hiện đúng và đủ các yêu cầu của người giáo viên.

Hiệu quả giờ dạy: hoàn thành bài dạy nhưng hứng thú của trò chưa được “phát sinh”. Kỹ năng của trò chưa được đánh giá hoặc đánh giá chủ yếu bằng hình thức. Không có nhiều giáo viên “say mê” dạy giờ từ ngữ các giờ học khác (tập đọc, toán, v.v…)

2.1.3. Thực tiễn học tập giờ từ ngữ của học sinh lớp 4.

Đánh giá kết quả học tập từ ngữ của học sinh tức đánh giá kỹ năng dùng từ của học sinh lớp 4 là một việc khó bởi quá trình tích lũy và phát triển vốn từ, quá trình hiểu từ, biết dùng từ trong hoạt động giao tiếp là một quá trình lâu dài. Học sinh học từ không chỉ ở một phân môn luyện từ và câu mà ở các môn học khác và trong giao tiếp hàng ngày. Nhưng chắc chắn một điều, giờ dạy học luyện từ và câu là giờ dạy giúp cho học sinh có những kiến thức cơ bản về kỹ năng dùng từ một cách chính thức, hệ thống. Vì thế, khảo sát việc học từ ngữ của học sinh lớp 4 chúng tôi xem xét 2 phương diện: hứng thú và kết quả học tập từ ngữ.

Chúng tôi thấy rằng: Học sinh chưa hứng thú trong giờ từ ngữ, ít và dường như không thấy học sinh chủ động có phát hiện, tìm tòi, tranh luận trong giờ học. Hầu như hết học sinh trả lời các câu hỏi của giáo viên theo trật từ "bài bản" vì thế kết quả học tập (theo kiểu kiểm tra) nội dung rất thấp, đặc biệt là ở phương diện giải thích xác định nghĩa của từ.

2.2. Thực tiễn thực hiện đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học.

Gần đây, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học, vấn đề "dạy học lấy học sinh làm trung tâm" đã được triển khai đến các trường tiểu học. Người giáo viên đã làm quen với các thuật ngữ "đổi mới", "dạy học tích cực", dạy học lấy học sinh làm trung tâm", v.v… nhưng thực hiện đổi mới dạy học như thế nào trong các bài dạy, trong các môn học là một vấn đề khó khăn không chỉ đối với người giáo viên mà còn với cả những người chỉ đạo thực hiện.

Đặc biệt từ năm học 2004-2005 các trường tiểu học được đón nhận chương trình dạy môn tiếng Việt lớp 4 theo chương trình SGK mới do các tác giả (Nguyễn Minh Thuyết chủ biên), Hoàng Hoà Bình, Nguyễn Thị Hạnh, Trần Mạnh Hưởng, Bùi minh Toán, Nguyễn Trại,… Sách giáo khoa có nhiệm vụ thể hiện và tạo điều kiện để giáo viên và học sinh thực hiện phương pháp tích cực hoá hoạt động của người học, trong đó thầy, cô đóng vai trò là người tổ chức hoạt động của học sinh, mỗi học sinh đều được hoạt động, mỗi học sinh đều được bộc lộ mình và được phát triển.

Trong quá trình dạy theo chương trình sách giáo khoa mới, giáo viên còn lúng túng khi thể hiện bài dạy và thể hiện chưa được rõ hoạt động giao tiếp (đặc thù của môn tiếng Việt chương trình tiểu học mới) và hoạt động phân tích, tổng hợp thực hành lý thuyết cho nên giờ học chưa đạt kết quả cao như ý muốn tức là học sinh chưa phát huy được tính chủ động sáng tạo.

Vấn đề đặt ra là: Cần phải có hướng dẫn cụ thể trong việc thực hiện đổi mới ở các môn học. Nói cách khác: đổi mới là một vấn đề lớn được người giáo viên quan tâm nhưng chính thực tiễn dạy học đổi mới hiện nay đòi hỏi phải có thiết kế và chỉ dẫn dạy học cụ thể để khắc phục tình trạng dạy: Nửa mới nửa cũ không phối hợp được giữa phương pháp truyền thống và định hướng đổi mới trong giờ học.

2.3. Nhận xét đánh giá và đề xuất.

2.3.1. Nhận xét: Tất cả những điều đã trình bày ở trên và những kết quả khảo sát dạy học luyện từ và câu, khảo sát kỹ năng dùng từ của học sinh cho thấy:

Về phía giáo viên

- Người giáo viên còn lệ thuộc vào sách hướng dẫn, sách giáo khoa, tuân thủ máy móc một số phương pháp truyền thống: diễn giảng, vấn đáp.

- Do đặc thù dạy học ở tiểu học không có thời gian nghỉ giữa các tiết học nên có hiện tượng một số giáo viên cắt xén thời gian của giờ luyện từ và câu để dạy các tiết học khác.

- Giáo viên còn lúng túng trong việc lựa chọn các hình thức tổ chức dạy học vì vậy chưa phát huy được tính chủ động, sáng tạo của học sinh trong giờ học, hiệu quả của bài dạy chưa cao.

Về phía học sinh

- ít hứng thú với giờ luyện từ và câu, các em thường quan niệm đây là giờ học khó.

- Học sinh học tập thụ động không độc lập sáng tạo mà chỉ thực hiện theo yêu cầu của giáo viên, không phát huy vài trò của cá nhân.

- Hiện tượng học sinh xác định nghĩa của từ, dùng từ sai, diễn đạt khó khăn lúng túng ý nghĩ của mình tương đối phổ biến.

2.3.2. Đề xuất:

- Người giáo viên nên nhất thiết phải sử dụng đúng, đủ số thời gian quy định cho tiết dạy luyện từ và câu ở lớp 4 (40 phút)

- Để giúp học sinh nắm vững được các khái niệm và có khả năng vận dụng từ ngữ trong học tập, giao tiếp cần phải có sự phối hợp các phương pháp và cách thức dạy học sao cho phù hợp nhằm biến quá trình tiếp thu thụ động kiến thức của thầy thành quá trình học sinh tự học, tự phát hiện, chủ động nắm bắt kiến thức.

- Phải có phương án bài dạy học luyện từ và câu theo hướng đổi mới một cách cụ thể như: thiết kế bài học, cách thức tiến hành giờ dạy nhằm tích cực hoạt động của học sinh v.v..

- Cần chú ý đến điều kiện cơ sở vật chất cho giờ dạy học như không gian phòng học, bàn ghế, tài liệu (phiếu học tập).

CHƯƠNG II

DẠY HỌC BÀI LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 4

THEO HƯỚNG DẪN ĐỔI MỚI

I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

1. Quan điểm dạy học theo hướng đổi mới

Khái niệm "đổi mới" trong giáo dục được hiểu theo nghĩa là thường xuyên đưa cái mới vào giáo dục để tạo ra sự phát triển mới, nâng cao hiệu quả đào tạo nhưng vẫn giữ được sự ổn định. Như vậy, đổi mới không có nghĩa là phủ nhận cái hiện tại mà là kế thừa và phát huy những thành tựu của nhiều thế hệ, kết hợp một cái hài hoà, hợp lý giữa truyền thống với hiện đại để đáp ứng với yêu cầu đổi mới của sự nghiệp giáo dục.

Với quan niệm như vậy thì đổi mới phương pháp dạy học được hiểu là đưa nhân tố mới vào quá trình dạy học trên cơ sở phát huy những thành tựu và kinh nghiệm dạy học đã có, nâng cao chất lượng dạy học, hiệu quả đào tạo của giáo dục.

Đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học liên quan đến việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa, cơ sở vật chất và thiết bị dạy học, các hình thức tổ chức dạy học, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá kết quả dạy học, đào tạo và bồi dưỡng giáo viên.

2. Định hướng và đặc trưng của dạy học theo hướng đổi mới.

2.1. Định hướng chung.

* Không có một phương pháp dạy học vạn năng: Quá trình dạy học là quá trình sử dụng kết hợp nhuần nhuyễn phương pháp sao cho phù hợp và đạt được hiệu quả cao.

- Nói đến đổi mới phương pháp dạy học là đổi mới theo xu hướng không phủ định tuyệt đối cái cũ, đổi mới nhưng vẫn giữ nguyên được thế ổn định.

Quá trình đổi mới có thể tóm tắt theo sơ đồ sau:

* Định hướng cách thức làm việc của thầy trò:

Thầy

Trò

- Có thể giải thích ít

- Học tập cá nhân độc lập

- Thường xuyên làm việc với từng học sinh hoặc từng nhóm

- Tự tổ chức học tập cá nhân theo nhóm.

- Linh hoạt giải quyết các tình huống mới nảy sinh

- Giáo viên các tình huống do giáo viên đặt ra hoặc do các bạn nêu ra

- Không chỉ làm việc với sách giáo khoa, sách hướng dẫn mà còn phải học hỏi thêm

- Khả năng cá nhân được phát huy, có niềm hứng thú, say mê

* Đinh hướng đổi mới đã chỉ rõ cách thức làm việc của thầy và trò:

- Trò chủ động, độc lập, tích cực để tự phát hiện các tình huống có vấn đề, tự giải quyết các vấn đề, tự chiếm lĩnh những giá trị mới. Thông qua đó trò có nhu cầu và biết cách tự học có hiệu quả, hứng thú và say mê học tập phát triển các năng lực tiềm ẩn của mình, xây dựng được niềm tin.

- Thầy: Tổ chức, hướng dẫn do đó đòi hỏi người thầy không những phải vững vàng về chuyên mà phải có tài năng sư phạm mới có thể đáp ứng giải quyết những vấn đề, những tình huống nảy sinh trong quá trình học tập tích cực và chủ động của học sinh. Nói một cách cụ thể, dạy học theo hướng đổi mới người thầy phải quan tâm giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Chủ động lập kế hoạch dạy học của lớp.

- Giúp học sinh xác định những nhu cầu học tập.

- Chuẩn bị các tài liệu học tập cho học sinh

- Tổ chức môi trường học tập cá thể hoá, tự chiếm lĩnh.

- Huấn luyện cho học sinh học tập và thực hành, vận dụng theo năng lực, sở trường, cách học và cường độ học tập của học sinh.

- Chỉ đạo quá trình học tập tự phát hiện, tự chiếm lĩnh của học sinh

- Hướng dẫn, tổ chức, giải thích khi cần thiết.

2.2. Đặc trưng của dạy học theo hướng đổi mới

- Người học tự tìm ra kiến thức bằng chính hoạt động của mình.

- Người học tự thể hiện mình, tự đặt mình vào các tình huống học tập và thể hiện rõ thái độ của mình.

- Thầy là người hướng dẫn, tổ chức trò tự nghiên cứu, tìm ra kiến thức và tự thể hiện rõ thái độ của mình.

- Người học tự đánh giá, tự kiểm tra lại kết quả ban đầu sau khi đã trao đổi với bạn, căn cứ vào kết quả tự đánh giá của trò, thầy kiểm tra, đánh giá kết quả tự học của trò.

Như vậy định hướng và bản chất của dạy học theo hướng đổi mới là xác định mối quan hệ biện chứng giữa ba thành tố: trò - lớp - thầy và sự hợp tác giữa ba thành tố này.

Trò

Lớp

Thầy

1. VAI TRÒ

- Chủ thể của hoạt động giáo dục

- Là cộng đồng của các chủ thể, là môi trường trung gian giữa thầy và trò

- Không là người cùng cấp chân lý có sẵn mà chỉ là người định hướng, chỉ đạo hoạt động của học sinh

2. HOẠT ĐỘNG

- Học tập cá nhân độc lập, tích cực bằng các hoạt động của mình

- Tự tổ chức hoạt động học tập theo nhóm

- Có thể giảng giải ít, thường xuyên làm việc với từng học sinh, từng nhóm

3. NHIỆM VỤ

- Giải quyết các tình huống do giáo viên nêu ra hoặc do các bạn nêu ra.

- Trao đổi với các bạn trong nhóm, phân định đúng sai

- Linh hoạt giải quyết các tình huống nảy sinh trong quá trình hướng dẫn học sinh học tập.

- Tự điều kiển quá trình chiếm lĩnh tri thức dưới sự hướng dẫn của thầy.

- Giải quyết các nhiệm vụ học tập

- Hướng dẫn học sinh đi đến những kết luận đúng

4. HIỆU QUẢ

- Khả năng cá nhân được phát huy, trò có hứng thú, có niềm tin

- Học hỏi lẫn nhau, tạo lập tính cộng đồng, sự đa dạng trong học tập

- Có nhu cầu học tập thêm.

- Kích thích sự phát triển, sự "ganh đua" trong học tập

- Có kinh nghiệm sự phạm xử lý tình huống, tổ chức hoạt động học tập của học sinh .

3. Yêu cầu và điều kiện để dạy học luyện từ và câu (kiểu bài mở rộng vốn từ) lớp 4 theo hướng đổi mới.

3.1. Yêu cầu:

* Bồi dưỡng cho giáo viên cách thức tiến hành dạy học giờ luyện từ và câu theo hướng đổi mới ở 3 phương diện:

- Chuẩn bị bài dạy học (nghiên cứu phương án, các thiết kế bài dạy, dự kiến các khả năng).

- Cách thức tổ chức quản lý giờ dạy theo các hình thức: học cá nhân, học theo nhóm, học theo lớp.

- Cách đánh giá kết quả học tập của học sinh

* Đổi mới quan niệm và cách thỉ đạo

- Phải có sự chỉ đạo củ thể đúng hướng của các cấp có thẩm quyền: Việc tiến hành giờ học quen theo cách thức trò ngồi trật tự nghe thầy cô giảng. Đổi mới sẽ làm cho giờ học ồn ào, có một phần tự do sẽ làm cho các nhà chỉ đạo đánh giá dạy không đúng "bài bản 5 bước".

* Thay đổi hình thức tổ chức giờ dạy

Đây là yêu cầu rất quan trọng trong quá trình nhận thức thực hiện đổi mới bởi vì giáo viên và nhà trường đã quen với cách tổ chức giờ học: trò ngồi trật tự trong lớp nghe giảng - trả lời các câu hỏi các thầy. Đổi mới đòi hỏi hình thức tổ chức dạy học đa dạng hơn. Cụ thể:

Dạy học cá nhân (ở trên lớp)

+ Học sinh hoạt động theo yêu cầu tài liệu (phiếu học tập), đồ dùng học tập để chiếm lĩnh tri thức mới và tự đánh giá.

+ Giáo viên hướng dẫn, quan sát, theo dõi và kiểm tra việc tự học một số học sinh.

+ Học sinh có đồ dùng học tập, tài liệu học tập. Sĩ số học sinh trong lớp không nhiều quá quy định, lớp học được thiết kế theo đúng quy cách mới.

Dạy học theo nhóm

+ Tuỳ theo nội dung, tính chất của từng môn học, bài học mà chia nhóm theo trình độ (giỏi - trung bình - kém) không có sự cố định các nhóm trong suốt năm học, không cố định nhóm trưởng.

+ Trao đổi trong nhóm, do học sinh điều khiển, lựa chọn cách giải quyết của nhóm.

+ Cấu tạo các bài học phù hợp với hình thức dạy học theo nhóm. Cách sắp xếp chỗ ngồi phù hợp, thuận lợi cho việc học nhóm.

+ Làm việc theo nhóm (đóng vai, trao đổi, thuyết trình, làm mẫu, kiểm tra….)

Dạy học theo lớp

- Nghe giáo viên hướng dẫn học cá nhân, học theo nhóm

- Trao đổi, đánh giá kết quả học tập cá nhân, học theo nhóm

- Làm việc theo lớp (đóng vai, trao đổi, thuyết trình, làm mẫu, kiểm tra…)

- Củng cố kết quả học tập khẳng định tri thức.

3.2. Điều kiện dạy học theo hướng đổi mới

* Đảm bảo phưong tiện dạy học (đồ dùng học tập) như: Học sinh có đủ tài liệu học tập, phiếu học tập.

* Cơ sở vật chất đảm bảo: Lớp học đủ rộng để học sinh có thể trao đổi thảo luận, bàn ghế, ánh sáng đủ.

* Có các phương tiện hiện đại để tin các phiếu học tập, các bài thực hành, dễ sử dụng băng hình, băng tiếng…

* Việc kiểm tra đánh giá phải được đổi mới.

Việc đổi mới công tác kiểm tra và đánh giá phải được thực hiện trên cả người dạy và người học.

Đánh giá người dạy

Hoạt động dạy của người giáo viên cần phải được đánh giá ở các phương diện sau:

- Thực hiện mục tiêu từng tiết dạy học.

- Khả năng tổ chức, hướng dẫn các hoạt động dạy học của giáo viên để thực hiện cá thể hoá dạy học, dạy học tự phát hiện,… theo điều kiện của lớp học.

- Hiệu quả học tập sau mỗi tiết và hiệu quả học tập lâu dài (phương pháp tư duy, phương pháp dạy học, khả năng ứng xử trước các tình huống trong đời sống…) của học sinh

- Sự chuẩn bị và khả năng vận dụng về nội dung cũng như phương pháp dạy học thích hợp trong các tiết học cụ thể.

- Sử dụng các hình thức tổ chức dạy học mới, các kỹ thuật, các thiết bị dạy học nhằm mục đích tích cực hoá hoạt động của học sinh.

Đánh giá người học

Đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các phương diện sau:

- Kiểm tra và đánh giá kiến thức, kỹ năng vận dụng tri thức.

- Đánh giá rõ trình độ học tập của học sinh

- Thông báo kết quả kịp thời giúp học sinh sửa chữa được những sai sót

Để thực hiện đánh giá kết quả học tập của học sinh chính xác, phiếu kiểm tra cần đạt được các yêu cầu sau:

- Cơ bản và cập nhật.

- Toàn diện.

- Chuẩn mực

- Dễ đánh giá

- Đòi hỏi sự nỗ lực hợp lý của các đối tượng học sinh

4. Tiễn trình dạy học theo hướng đổi mới

Theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu:

Khi đổi mới phương pháp thì quy trình dạy học là tổ hợp các thao tác của trò và thầy được tiến hành theo trình tự 4 thời điểm nhằm đạt được mục tiêu giáo dục

Thời điểm 1: Nghiên cứu cá nhân theo trình tự các thao tác sau:

- Nhận biết vấn đề.

- Định nghĩa vấn đề

- Thu nhập và xử lý thông tin

- Phát hiện quy luật, thuộc tính, khái niệm, công thức

- Thử nghiệm các giải pháp, kết quả

- Đưa ra kết luận

- Ghi lại kết quả, cách nghiên cứu

Thời điểm 2: Hợp tác với bạn, học bạn

Gồm các thao tác:

- Tự đặt mình vào tình huống, đưa ra cách xử lý tình huống, giải quyết vấn đề.

- Tự thể hiện bằng văn bản, ghi lại kết quả xử lý của mình

- Tự trình bày, giới thiệu và bảo vệ chính kiến của mình

- Biểu hiện rõ thái độ đối xử với ý kiến của bạn (đúng - sai, hay - dở,..) sẵn sàng tham gia tranh luận.

- Tự ghi lại ý kiến của bạn theo nhận thức của mình.

- Khai mạc ý kiến của bạn, bổ sung điều chỉnh sản phẩm ban đầu thành sản phẩm tiến bộ hơn.

Thời điểm 3: Học thầy, hợp tác với thầy.

Thầy là trọng tài, kết luận cuộc thảo luận của lớp thành một bài khoa học thực sự từ những kiến thức trò tự tìm ra. Trò tích cực học thầy và biết cách học thầy theo các hoạt động như:

- Tự xử lý các tình huống theo sự hướng dẫn của thầy.

- Chủ động hỏi thầy về những gì mình có nhu cầu về cách học.

- Tự ghi lại ý kiến kết luận của thầy trong giờ thảo luận ở lớp.

- Học cách ứng xử của thầy trước những tình huống gay cấn nổi lên trong khi thảo luận.

Thời điểm 4: Tự kiểm tra, tự điều chỉnh

Bao gồm các thao tác cơ bản sau:

- So sánh đối chiếu kết luận của thầy và ý kiến của bạn với sản phẩm ban đầu của mình: đúng - sai, đủ - thiếu, hay - dở.

- Kiểm tra lý lẽ tìm kiếm luận cứ, thâm nhập thực tiễn để có chứng lý đúng - sai.

- Tổng hợp và chốt lại vấn đề.

- Tự sửa sai, điều chỉnh, bổ sung vào sản phẩm ban đầu

- Tự rút kinh nghiệm về cách học, cách xử lý tình huống, cách giải quyết vấn đề của mình.

II. PHƯƠNG ÁN DẠY HỌC BÀI LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 4 THEO HƯỚNG ĐỔI MỚI

1. Cấu trúc và tiến trình dạy học bài luyện từ và câu lớp 4 theo chương trình tiểu học mới

1.1. Cấu trúc bài học

Tên chủ đề

Hệ thống các bài tập mở rộng và hệ thống hoá vốn từ được thể hiện dưới hình thức bài tập thực hành. Những kiểu bài thực hành chủ yếu là:

- Xác định nét nghĩa đúng của các từ chủ đề theo các nét nghĩa cho sẵn.

- Chia từ theo các nhóm là nét nghĩa của từ chủ đề.

- Tìm từ theo các nét nghĩa và cấu trúc định vị.

- Tìm từ theo liên tưởng từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa.

- Điền từ thích hợp vào chỗ trống, nối từ với nghĩa.

- Đặt câu, viết đoạn văn với từ ngữ tìm được

- Tìm các thành ngữ, quán ngữ nói về các nét nghĩa của từ chủ đề.

1.2. Tiến trình lên lớp bài từ ngữ lớp 4 theo phương pháp truyền thống

Bài mở rộng vốn từ

1. ổn định tổ chức lớp

2. Kiểm tra bài cũ

3. Bài mới

a. Giới thiệu bài mới

b. Hướng dãn luyện tập

- Gọi học sinh đọc hần từ ngữ trong sách giáo khoa

- Tập giải nghĩa từ

- Luyện từ (dùng từ đặt câu, điền từ,…)

- Mở rộng vốn từ.

4. Dặn dò

2. Xây dựng phương án dạy học bài luyện từ và câu lớp 4 theo hướng đổi mới

2.1. Hướng xây dựng và thực hiện phương án dạy học

Việc dạy học giờ mở rộng vốn từ lớp 4 theo các bước lên lớp truyền thống (ổn định lớp, kiểm tra bài cũ, giảng bài mới, củng cố, dặn dò) không phát huy được tính tích cực trong học tập của học sinh cũng như khả năng sáng tạo chủ động của giáo viên trong soạn bài và trực tiếp giảng dạy.

Vì vậy, dạy học giờ mở rộng vốn từ theo hướng đổi mới cần thiết xây dựng phương án (thiết kế) giờ dạy học linh hoạt mềm dẻo và vận dụng sáng tạo các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học vào các giờ học cụ thể để đạt hiệu quả tích cực. Nói một cách cụ thể, giờ học mở rộng vốn từ phải được xây dựng theo hướng sau:

* Phương án dạy học (hay còn gọi là thiết kế dạy học) phải đa dạng phong phú, có thể thay đổi trình từ các bước, thay đổi hình thức tổ chức dạy học.

* Thiết kế bài dạy học cần linh hoạt, sáng tạo nhưng cụ thể, không theo công thức và mẫu có sẵn.

* Thiết kế bài dạy học phải phù hợp với người dạy, người học đảm bảo tính khoa học, tính khả thi, tính hiệu quả. Nghĩa là khi nhìn, đọc phương án dạy học, người giáo viên có thể tiến hành giờ dạy và thực hiện tốt giờ dạy như dự kiến.

Với định hướng nói trên, chúng tôi đề xuất hướng thực hiện giờ dạy học như sau:

2.1.1. Đặt nhiệm vụ học tập trước học sinh (5 phút)

Chuẩn bị cho các em nghiên cứu bài học mới. Hoạt động thu hút sự chú ý của học sinh đối với bài học, giúp các em tập trung theo dõi giờ học, kích thích được hoạt động trí tuệ, tính tích cực, sự hứng thú của các em đối với bài học sẽ nghiên cứu.

Hoạt động của giáo viên

- Kiểm tra bài cũ, định hướng bài học mới

- Giao nhiệm vụ cho học sinh: Phát phiếu học tập, nêu các yêu cầu học tập, tạo tình huống học tập.

2.1.2. Tổ chức cho học sinh giải quyết nhiệm vụ nhận thức (30 phút)

* Học cá nhân (từ 8-10 phút): Tự nghiên cứu và giải quyết các nhiệm vụ trên phiếu học tập. Hoạt động này do hỏi tối đa sự tìm tòi suy nghĩ của từng học sinh.

* Học theo nhớm (từ 10-12 phút): Trao đổi với các bạn trong nhóm thể hiện ý kiến của các cá nhân và cùng nhau giải quyết nhiệm vụ học tập. Hoạt động này phát huy tính tích cực chủ động và sự hứng thú của học sinh.

* Học theo lớp (từ 10-12 phút): Hoàn thiện kiến thức – xác định và khắc sâu kiến thức cơ bản của bài học. Thầy là người trọng tài phân định đúng/ sai tạo điều kiện cho học sinh nhận thức đúng tri thức và tự đánh giá được kết quả học tập của mình. Hoạt động này tạo ra niềm tin cho học sinh và khắc sâu tri thức, giải quyết được những mâu thuẫn trong học tập của học sinh.

Trong quá trình tổ chức cho học sinh giải quyết nhiệm vụ nhận thức người giáo viên phải biết kết hợp khéo léo khoa học giữa hoạt động độc lập của học sinh với việc trò làm việc với trò, trò làm việc với thầy. Thầy hướng dẫn học sinh phương pháp tiếp nhận kiến thức, giúp các em làm quen với phương pháp tự học, tự giải quyết các vấn đề dược đặt ra trong phiếu học tập, kích thích sự hứng thú của học sinh.

2.1.3. Kiểm tra đánh giá hoạt động nhận thức của học sinh (5 phút)

- Thực hiện giờ dạy mở rộng vốn từ theo hướng đổi mới, việc kiểm tra đánh giá hoạt động nhận thức của học sinh được tiến hành một cách khách quan theo quy trình, nội dung và mức độ như sau:

Như vậy để thực hiện giờ dạy học mở rộng vốn từ lớp 4 theo hướng đổi mới cần thiết phải có bài dạy + bài học (phiếu học tập). ở đây chúng tôi quan tâm đến việc thiết kế phiếu học tập. Trên cơ sở phiếu học tập, người giáo viên sẽ tự chuẩn bị bài dạy cho phù hợp.

Phiếu học tập là tên gọi chung để chỉ các loại phiếu sử dụng trong học tập. Phiếu học là loại phiếu chứa đựng thông tin và giải thích sự cần thiết để học sinh có thể tự đọc, tự học, tự tìm hiểu và tự vận dụng các thông tin đó.

+ Phiếu học tập phải thể hiện được các yêu cầu sau:

- Đảm bảo tính hấp dẫn

- Các câu hỏi, bài tập, hoạt động phải thôi thúc và thách thức học sinh

- Rõ ràng, dễ hiểu và phù hợp với trình độ học sinh

+ Về nội dung mỗi phiếu học tập phải thể hiện được 4 nội dung kiến thức sau:

- Khơi gợi kiến thức đã học

- Phân tích, nhận diện ngữ liệu.

- Xác nhận các kết luận.

- Vận dụng tri thức.

2.2. Thiết kế phiếu học tập kiểu bài mở rộng vốn từ

Trước khi thiết kế phiếu học tập kiểu bài mở rộng vốn từ người giáo viên cần nắm được mục tiêu về dạy từ ngữ ở lớp 4, cách xây dựng từng chủ đề để từ đó có thiết kế phù hợp. Cụ thể từ ngữ ở lớp 4 được xây dựng theo kiểu hệ thống hoá vốn từ không chỉ theo chủ đề mà còn theo liên tưởng từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa và những từ có cùng yếu tố cấu tạo.

Ở lớp 4 các chủ đề phản ánh những phương diện khác nhau về đời sống tinh thần của con người: cụ thể là tính cách, đạo đức, nănglực, sở thích… Được cụ thể hóa qua các chủ đề ý chí, nghị lực; trung thực, tự trọng, ước mơ; nhân hậu, đoàn kết, đồ chơi, lạc quan yêu đời; du lịch thám hiểm, dũng cảm, cái đẹp, tài năng, sức khoẻ…

Từ các chủ đề trên việc mở rộng vốn từ theo các chủ điểm và được xây dựng theo hệ thống các bài tập. Căn cứ vào các dạng bài tập để người giáo viên tổ chức cho học sinh hệ thống hoá vốn từ và rèn luyện kỹ năng dùng từ, đặt câu và có ý thức sử dụng tiếng Việt văn hoá trong giao tiếp và thích học tiếng Việt.

Từ đặc điểm quan điểm trên khi thiết kế phiếu học tập cần thể hiện rõ quan điểm biên soạn SGK và cách dạy học mới của bộ SGK tiếng Việt lớp 4 theo chương trình tiểu học mới.

* Trong quá trình dạy học bài luyện từ và câu lớp 4 (theo hướng dẫn đổi mới phương án dạy học nêu trên), người giáo viên có thể căn cứ vào nội dung từng bài để lựa chọn cách thực hiện cho phù hợp. Ví dụ có bài nên để học cá nhân và học theo lớp, có bài nên thảo luận nhóm toàn giờ và cho học sinh tự đánh giá… Tất cả những điều đã trình bày ở trên phải được thể hiện trong kế hoạch (dự án) dạy học của thầy.

CHƯƠNG III

THỰC NGHIỆM

I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU THỰC NGHIỆM

1.1. Mục đích

Thực nghiệm dạy học một số bài mở rộng vốn từ lớp 4 theo hướng đổi mới nhằm mục đích chính: Thẩm định hiệu quả của phương án dạy học đã nêu so với cách học truyền thống, kiểm tra tính thiết thực, mức độ đúng – sai, hay – dở, hợp lý hay không hợp lý của phương án dạy học mà chúng tôi đề xuất. Trên cơ sở đó đánh giá một cách khoa học, khách quan, chính xác giá trị lý luận và giá trị thực tiễn của vấn đề nghiên cứu.

Mặt khác, đề tài nghiên cứu của chúng tôi là đề xuất một hướng thực hành: dạy học một loại bài cụ thể theo thiết kế cụ thể. Vì vậy, thực nghiệm nhằm đánh giá tính khả thi của phương án đã đề xuất tức khả năng thực hiện đổi mới phương pháp dạy học ở môn học cụ thể. Nếu quá trình thực hiện giờ dạy có hiệu quả, học sinh hứng thú và đạt được kết quả học tập cao thì phương án mà chúng ta đề xuát có thể đưa vào nhà trường tiểu học.

1.2. Yêu cầu

- Tiến hành khách quan giờ dạy học thực nghiệm (đảm bảo thời gian quy định khối lượng kiến thức trong bài, trong chương trình). Thực hiện dạy học theo đúng thiết kế. Các bước được tiến hành theo đúng dự kiến. Thực nghiệm được tiến hành trên lớp 4 của một trường tiểu học.

- Đánh giá kết quả giờ dạy khách quan.

II. TIẾN HÀNH THỰC NGHIỆM.

1. Người dạy học thực nghiệm là giáo viên thực hiện đề tài. Người thực nghiệm cần phải nghiên cứu và hiểu kỹ nội dung thực nghiệm, nắm vững phương án dạy học thực nghiệm.

Để phát huy sự sáng tạo và chủ động của người dạy thực nghiệm, chúng tôi không áp đặt sẵn các câu trả lời theo phiếu học tập mà người giáo viên dự kiến tất cả các tình huống có thể xảy ra. Mỗi giờ học đều có thể xảy ra các tình huống học tập khác nhau đòi hỏi người giáo viên thực nghiệm phải xử lý.

2. Các phương tiện, điều kiện cho giờ học đã được chuẩn bị đầy đủ, các nhóm học đã được chuẩn bị (trò được tổ chức thành nhóm từ đơn vị tổ). Bàn ghế chỗ ngồi được chuẩn bị phù hợp với yêu cầu của giờ học.

3. Tất cả các diễn biến của giờ thực nghiệm được chúng tôi ghi lại cụ thể vào phiếu tường thuật tiết dạy để góp phần đánh giá kết quả thực nghiệm, đánh giá thực tiễn sáng tạo của giờ học, tức là đánh giá khả năng tìm tòi phát hiện sáng tạo của thầy trong giờ dạy học, theo hướng tích cực "tự tìm tòi, tự phát hiện".

4. Nội dung dạy thực nghiệm:

Do điều kiện thời gian hạn chế nên tôi chỉ xin trình bày tóm tắt tiến trình dạy thực nghiệm 1 tiết luyện từ và câu: Mở rộng vốn từ: Đồ chơi - trò chơi (Sách Tiếng Việt 4).

5. Đối tượng dạy thực nghiệm:

Tại lớp 4A - Trường tiểu học Duy Hải – Duy Tiên – Hà Nam

Tổng số học sinh: 35 em.

6. Các hoạt động dạy và học trong tiết dạy:

- Ổn định lớp, kiểm tra bài cũ, định hướng học bài mới.

- Giao nhiệm vụ học tập của học sinh: Phát phiếu học tập, nêu các yêu cầu học tập (hoặc tạo tình huống học tập) - 5 phút.

- Tổ chức, hướng dẫn và quan sát hoạt động của học sinh.

- Tự học 8 - 10 phút.

- Thảo luận nhóm: 10 - 12 phút

- Làm việc với lớp: 10 - 12 phút: Hoàn thiện kiến thức, rút ra các kết luận đúng và khắc sâu kiến thức.

- Đánh giá và cho học sinh tự đánh giá kết quả bài học.

- Chuẩn bị cho tiết học sau.

Trường: Tiểu học Duy Hải

PHIẾU HỌC TẬP

Lớp: 4A

LUYỆN TỪ VÀ CÂU

Họ và tên học sinh: ………………..

Mở rộng vốn từ: ĐỒ CHƠI - TRÒ CHƠI.

Bài 1: Tìm thêm các từ ngữ chỉ các đồ chơi hoặc trò chơi khác.

- Đồ chơi

……………………………………………………………………………….

……………………………………………………………………………….

- Trò chơi

……………………………………………………………………………….

……………………………………………………………………………….

Bài 2: Trong các trò chơi, đồ chơi kể trên:

a) - Những trò chơi nào mà các bạn trai ưa thích

a). M: Đá bóng, đấu kiếm ……………..

……………………………………………….

- Những trò chơi các bạn gái thường ưa thích

……………………………………………….

……………………………………………….

- Những trò chơi cả bạn gái lẫn bạn trai ưa thích.

……………………………………………….

……………………………………………….

b) - Những trò chơi, đồ chơi có ích. Có ích như thế nào?

b) ……………………………………………

……………………………………………….

- Chơi các đồ chơi ấy như thế nào thì chúng có hại

……………………………………………….

……………………………………………….

c) Những đồ chơi, trò chơi có hại. Có hại như thế nào?

c)……………………………………………..

……………………………………………….

Bài 3: Tìm các từ ngữ miêu tả, tình cảm, thái độ của con người khi tham gia các trò chơi?

M: Say mê, ……………………………………………………………………………………

- Đặt câu với các từ vừa tìm được: ………………………………………………………..

…………………………………………………………………………………………………..

……………………………......................................................................................................…

ĐÁP ÁN: PHIẾU HỌC TẬP

Bài 1: Tìm thêm các từ ngữ chỉ các đồ chơi hoặc trò chơi khác.

- Đồ chơi

Bóng, quả cầu, kiếm, quân cờ, súng phun nước, đu, cầu trượt, đồ hàng, que chuyền, bi, viên đá, tàu hoả, máy bay, ô tô,…

- Trò chơi

Đá bóng, đá cầu, đấu kiếm, cờ tướng, súng phun nước, đu quay, cầu trượt, bày cỗ trong đêm trung thu, chơi thuyền, chơi bi, đánh đáo, tàu hoả trên không, đua mô tô,…

Bài 2:

a) - Những trò chơi nào mà các bạn trai ưa thích

a). M: đá bóng, đấu kiếm, cờ tướng, lái máy bay trên không, lái ô tô…

- Những trò chơi các bạn gái thường ưa thích

- Búp bê, nhảy dây, chơi thuyền, trồng nụ trồng hoa, nhảy lê cò, bày cỗ,…

- Những trò chơi cả bạn gái lẫn bạn trai ưa thích.

- Thả diều, chơi điện tử, xếp hình, đu quay, bịp mắt bắt dê…

b) - Những trò chơi, đồ chơi có ích. Có ích như thế nào?

b) Thả diều (thú vị, vui khoẻ), rước đèn ông sao (vui), bày cỗ (rèn khéo tay)…

- Chơi các đồ chơi ấy như thế nào thì chúng có hại

- Nếu ham chơi quá, quên ăn, quên ngủ thì sẽ có hại hảnh hưởng đến sức khoẻ và học tập.

c) Những đồ chơi, trò chơi có hại. Có hại như thế nào?

c) Súng phun nước (làm ướt người khác), đấu kiếm (làm thương người khác).

Bài 3:

M: say mê, say sưa, đam mê, ham thích, hào hứng.

-Đặt câu:

+ Huy rất say mê chơi điện tử.

+ Chúng em say sưa học bài.

+ Hoa rất thích chơi xếp hình.

+ Hiên rất ham thích thả diều.

+ Mỗi khi có đội tuyển Việt Nam đá bóng, chúng em đều hào hứng xem.

IV. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ DẠY HỌC THỰC NGHIỆM

Sau khi tiến hành thực nghiệm giờ dạy luyện từ và câu theo phương pháp tích cực, căn cứ vào việc hoàn thành các bài tập cụ thể trong phiếu học tập, căn cứ vào bài kiểm tra thực hành trong giờ học thực nghiệm hoặc vào việc hoàn thành phiếu học tập trong thời gian thảo luận, chúng tôi tiền hành đánh giá một cách khách quan kết quả thực nghiệm.

1. Nội dung đánh giá:

1.1. Đánh giá kết quả chung (toàn diện) của bài dạy

1.2. Đánh giá từng mặt của giờ dạy theo nội dung bài tập:

- Hiểu nghĩa của từ, chia từ theo nhóm nghĩa (mở rộng vốn từ theo cấu tạo), dùng từ đặt câu (hoặc thaythế từ trong câu), mở rộng vốn từ theo chủ đề…

1.3. Đánh giá cách thức tổ chức giờ dạy.

- Học cá nhân

- Học theo nhóm.

- Học theo lớp.

2. Tiêu chí đánh giá

+ Đối với nội dung 1.1. và 1.2., chúng tôi thấy tiêu chí sau để đánh giá:

- Mức độ hoàn thành các công việc được giao.

- Khả năng ứng dụng tri thức

- Thang điểm đánh giá: 10 điểm

+ Giỏi: điềm 9 – 10

+ Khá: 7 – 8

+ Trung bình: 5 – 6

+ Yếu – kém: 4 – 0

+ Đối với nội dung 1.3, chúng tôi lấy tiêu chí hứng thú, bình thường, không hứng thú để đánh giá nhận thức, nhu cầu học sinh đối với cách thức học tập mới.

3. Kết quả các bài dạy thực nghiệm:

* Tất cả các bài thực nghiệm đều được đánh giá theo nội dung và tiêu chí đã nêu ở trên.

BIỂU ĐIỂM

Bài 1: 4 điểm

- Nêu được 5 từ ngữ nói về đồ chơi cho 2 điểm

- Nêu được 5 từ ngữ nói về đồ chơi cho 2 điểm

Bài 2: 3 điểm

- Làm được mỗi phần cho 1 điểm.

Bài 3: 3 điểm

Mỗi câu đúng mỗi ý về miêu tả, tình cảm, thái độ khi tham gia các trò chơi cho 0,5 điểm.

KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM

Loại giỏi: 14 bài chiếm 40%

Loại khá: 14 bài chiếm 40%

Loại trung bình: 7 bài chiếm 20%

Loại yếu: không có

4. Các nhận xét, kết luận và đề xuất sau thực nghiệm.

4.1. Nhận xét

Kết quả giờ dạy học thực nghiệm cho thấy:

* Học sinh học tập hứng thú và tích cực hơn rất nhiều so với phương pháp truyền thống hiện hành mà giáo viên tiểu học trước đây sử dụng. Trong giờ học 100% học sinh đều tự giác hoàn thành các yêu cầu giờ học mặc dù kết quả học tập phụ thuộc vào năng lực của từng học sinh. Không khí lớp học sôi nổi. Học sinh không những chủ động, tích cực trong học tập mà còn được rèn luyện khả năng giao tiếp trình bày ý kiến của mình trước các bạn. Lớp học có phần ồn ào hơn những khuyến khích được học sinh phát biểu tự do, thể hiện được sự tìm tòi sáng tạo của mình. Giờ học theo hướng đổi mới luôn ở trạng tháI "động"

* Trong thời gian học cá nhân (từ 8 đến 10 phút) học sinh khá giỏi đã có thể hoàn thành hầu hết các yêu cầu cần thiết. Học sinh trung bình có thể hoàn thành được 3/4 khối lượng công việc và học sinh yếu kém cũng được 1/2.

* Trong thời gian học theo nhóm, học sinh chủ động, mạnh dạn trình bày ý kiến của mình. Hầu hết học sinh được "Thể hiện quan điểm" trước các vấn đề học tập. Từ rụt rè đến mạnh dạn và năng động, các em làm chủ được bản thân. Ngoài ra, quá trình thảo luận nhóm học tập còn bổ sung nhiều kiến thức cho các em.

* Khi hợp tác với thầy - lớp, được thầy tổng kết khắc sâu kiến thức (khoảng 10 phút), các em điều chỉnh, bổ sung những kiến thức còn thiếu hoặc sai sót.

* Mỗi số học sinh giỏi khi được học theo phương pháp này có điều kiện bộc lộ khả năng của mình. Các em nắm kiến thức vững vàng, hoàn thành tốt các nhiệm vụ trong phiếu học tập, đồng thời biết điều khiển các thành viên của nhóm trong giờ học thực hiện yêu cầu của giáo viên đề ra. Một số học sinh khác khi thể hiện quan điểm, thái độ để bảo vệ ý kiến đúng đã có lập luận chặt chẽ, sắc sảo. Những học sinh trung bình, yếu nhờ đó có thể học tập ở các bạn nhiều hơn.

* Trong khi thực hiện các giờ dạy học theo phương pháp đổi mới, người giáo viên không phải lệ thuộc, gò bó theo sách hướng dẫn. Với vai trò là người điều khiển tổ chức, dẫn dắt học sinh, để thực hiện thành công giờ dạy theo phương pháp đổi mới, người giáo viên buộc phải tích cực năng động hơn, linh hoạt hơn và có thể sử dụng phiếu học tập hoặc các hình thức khác vào chương trình dạy học nhằm thúc đẩy học sinh hoạt động trí tuệ thực sự:

4.2. Kết luận.

Kết quả giờ dạy thực nghiệm có thể đi đến một số kết luận sau:

1. Kết quả học tập và quá trình thích nghi với phương pháp dạy học đã khẳng định tính ưu việc và khả năng thực hiện đổi mới ở các trường tiểu học khi áp dụng chương trình tiểu học mới 2000.

2. Việc tổ chức hoạt động trong giờ luyện từ và câu bài tập 5 theo hướng đổi mới đảm bảo chất lượng cao hơn. Kết quả ở các lớp thực nghiệm cho thấy tỉ lệ khá giỏi cao hơn và tỉ lệ yếu kém giảm nhiều so với dạy học theo phương pháp truyền thống.

3. Dạy học theo hướng đổi mới, người giáo viên chủ động trong quá trình tổ chức giờ học, có sự sáng tạo, kích thích tính độc lập suy nghĩ cho học sinh nhằm phát triển trí tuệ tư duy của học sinh. Đặc biệt làm cho học sinh tự tin hơn, hứng thú hơn trong giờ dạy học.

Tiến hành dạy học theo hướng tích cực sẽ tạo điều kiện cho người dạy đặc biệt là người học hình thành thói quen (kỹ năng) điều khiển (điều khiển mình và điều khiển hoạt động chung). Điều này sẽ giúp cho việc hình thành khả năng tổ chức, quản lý, đánh giá việc dạy học và tự học của mỗi giáo viên và học sinh. Người học bạo dạn, chủ động, tự tin hơn trong quá trình học tập. Ngoài ra, cách học thảo luận nhóm còn kích thích sự (thi tài) và mong muốn thể hiện mình của học sinh. Xét trên một góc độ nào đó thì sự "ganh đua" trong học tập cũng là một phương tiện kích thích quá trình phát triển giáo dục.

4. Đổi mới phương pháp dạy học đã tạo ra được xung lực của quá trình dạy học hợp tác: Trò hợp tác với trò, trò hợp tác với lớp, trò hợp tác với thầy. Đây là yếu tố quan trọng góp phần tạo nên hiệu quả toàn diện giờ học.

4.3. Đề xuất:

Thông qua những điều đã thu được và những điều còn chưa được khắc phục, sau khi nghiên cứu và thể nghiệm, tôi xin có một số đề xuất như sau:

4.3.1. Cần tổ chức và tiến hành giờ dạy từ ngữ lớp 5 theo hướng tích cực nhằm kích thích học sinh phải là người học tích cực, hoạt động hợp tác với thầy với bạn trong giờ học để đưa từ đó vào hệ thống từ.

4.3.2. Để tiến hành giờ học theo hướng đổi mới cần thiết phải có 3 điều kiện sau:

+ Người dạy và người học phải được làm quen với việc tổ chức dạy học "động" (dạy học theo nhóm, dạy học tranh luận, dạy tự học…). Muốn vậy cần phải:

- Tổ chức hướng dẫn, rèn luyện cho học sinh có thói quen với việc tự học, tự quản lý điều hành nhóm, tổ trong học tập.

- Bồi dưỡng, tập huấn kịp thời cho đội ngũ giáo viên dạy tiểu học để nâng cao chất lượng giảng dạy, thích ứng việc đổi mới phương pháp dạy học.

+ Cần có bản thiết kế hoặc hướng dẫn thiết kế bài dạy học theo hướng tích cực (phiếu học tập).

+ Đảm bảo những điều kiện cơ sở vật chất cho giờ học. Muốn giờ dạy học thành công thì điều kiện về cơ sở vật chất cũng là một yếu tố rất cần thiết đó là tài liệu học tập, lớp học đúng quy cách, bàn ghế phải phù hợp với cách học theo nhóm, trang thiết bị dạy học phục vụ…

4.3.3. Dạy học theo quan điểm giáo dục tích cực cần phải được chỉ đạo kịp thời và đồng bộ ở các môn học với các mức độ phù hợp và phải có sự đánh giá khách quan, công bằng về việc thực hiện. Nếu dạy học tích cực chỉ được xem xét thực hiện một cách hình thức hoặc thực hiện một cách "cứng nhắc" sẽ không có tác dụng tốt cho quá trình dạy học.

PHẦN KẾT LUẬN

1. Trong các đơn vị ngôn ngữ; từ là đơn vị duy nhất có thể đảm nhận nhiều chức năng nhất. Chức năng cơ bản của từ là chức năng nhận danh, nhưng trong dãy ngữ đoạn từ còn mang cả chắc năng "làm bộc lộ ý nghĩa này hay ý nghĩa khác của từ nhiều nghĩa".

Thuộc tính nhiều chức năng của từ cho phép nó trở thành một đơn vị có tính chất phổ biến nhất, cho phép nó chiếm vị trí trung tâm trong cấu trúc ngôn ngữ.

Với tư cách là đơn vị cơ bản ngôn ngữ - đơn vị đa chức năng, từ ngữ được đưa vào không chỉ ở phân môn từ ngữ mà còn dạy lồng ghép vào tất cả các giờ của môn tiếng Việt và các môn học khác.

Việc tích luỹ cho học sinh một vốn từ, hiểu nó, sử dụng nó trong hoạt động giao tiếp hằng ngày không chỉ là một nhiệm vụ mà còn là một nhu cầu, yêu cầu bắt buộc và nghiêm túc đối với nhà trường tiểu học, đối với các thầy cô giáo. Chính vì vậy, việc dạy học luyện từ và câu ở nhà trường tiểu học đã và đang được quan tâm một cách đúng mực và hiệu quả. Những năm gần đây đã có nhiều ý kiến, nhiều quan điểm về phương pháp dạy học. Đồng thời, cũng có nhiều vấn đề mà ngành khoa học phương pháp dạy học tiếng Việt chưa giải quyết một cách đầy đủ và hữu hiệu như: Xây dựng hệ thống dạy học luyện từ và câu theo các đặc trưng về nội dung, chương trình, đặc trưng khối học, lứa tuổi… hoặc đưa ra một phương pháp dạy học bài luyện từ và câu theo hệ thống các thao tác để giúp người giáo viên có thể thực hiện một cách thống nhất.

Nói cách khác, phương pháp dạy học truyền thống hiện nay ở tiểu học chưa đem lại hiệu quả cao cho giờ học luyện từ và câu mà rõ nhất là học sinh hiểu từ dùng từ chưa đúng trong hoạt động giao tiếp và trong học tập, vốn từ còn nghèo nàn diễn đạt lúng túng.

Vì vậy, yêu cầu dạy học đổi mới là đòi hỏi tất yếu trong các nhà trường.

2. Đổi mới phương pháp dạy học đã được quan tâm đến nhiều nhưng đối với người thực hiện đổi mới (giáo viên) thì còn là một vấn đề mới mẻ và phức tạp. Đổi mới thế nào cho có hiệu quả với từng môn học là điều khó khăn nhất của người dạy. Nhiều người đã nói về "đổi mới" nhưng "cụ thể hoá" đổi mới và các môn học vào các cấp học thì chưa nhiều (chỉ có một số bài, một số giờ, một số môn có tính chất thực nghiệm của các nhà nghiên cứu, các thầy cô giáo thể nghiệm). Vì vậy, khi nghiên cứu vấn đề dạy học luyện từ và câu theo hướng đổi mới, chúng tôi nhằm giải quyết 2 vấn đề:

+ Đề xuất một chương trình dạy học bài mở rộng vốn từ lớp 4 nói riêng, phân môn luyện từ và câu nói chung. Nêu ra phương án dạy học có tính khả thi hấp dẫn và hữu hiệu.

+ Đưa ra một số mẫu thiết kế bài dạy học luyện từ và câu lớp 4 nhằm mục đích giúp người giáo viên tiểu học có tài liệu tham khảo, một định hướng dạy học đổi mới có hiệu quả cao.

Các thiết kế bài dạy học nói trên chưa phải là tối ưu nhưng bước đầu khẳng định hiệu quả nhất định, trong quá trình thực hiện người giáo viên nên có sự sáng tạo thì chắc chắn sẽ thực hiện mục đích như mong muốn.

3. Việc nghiên cứu và vận dụng những thành quả của đổi mới phương pháp dạy học vào phân môn luyện từ và câu lớp 4 thiết kế bài soạn (phiếu học tập) đã được các giáo viên tiểu học đánh giá tốt ở cả 3 phương diện: Tính khả thi, tính khoa học, tính hấp dẫn.

Điểm quan trọng hơn cả là quá trình thực nghiệm bài dạy học luyện từ và câu lớp 4 theo hướng đổi mới và đã đem lại kết quả mong muốn.

Phương án dạy học mà chúng tôi đề xuất có khả năng khắc phục được những nhược điểm của phương pháp truyền thống. Những kết quả thu được trong quá trình dạy học thực nghiệm cho phép chúng ta rút ra một số kết luận sau:

3.1. Về kết quả:

Việc dạy học bài luyện từ và câu (mở rộng vốn từ) theo hướng đổi mới là có hiệu quả.

Hoạt động học tập của học sinh, mạnh dạn, nhanh nhẹn, sáng tạo hơn. Hiệu quả của người dạy giáo viên nói ít hơn nhưng lại là người tổ chức hướng dẫn bao quát và xử lý các tình huống học tập một cách linh hoạt.

3.2. Về phạm vi ứng dụng.

Việc dạy học bài luyện từ và câu (mở rộng vốn tứ) lớp 4 theo hướng đổi mới có thể thực hiện được ở các trường tiểu học cho cả giáo viên và học sinh ở những địa bàn khác nhau, trong các điều kiện cơ sỏ vật chất còn khó khăn.

3.3 Về ý nghĩa kết quả

Đề tài có ý nghĩa thiết thực trong việc góp phần đổi mới dạy học ở tiểu học nói riêng và công cuộc đổi mới của đất nước nói chung như Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã khẳng định: "Muốn tiến hành công nghiệp hiện đại hoá thắng lợi phát triển GDĐT phát huy nguồn lực con người yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững".

4. Dạy học bài luyện từ và câu lớp theo hướng đổi mới đòi hỏi sự cố gắng nghiêm túc của cả thầy và trò, đồng thời đòi hỏi sự chuẩn bị một cách chu đáo:

- Trang bị cho người giáo viên lý luận về đổi mới bồi dưỡng cho họ cách thức dạy đổi mới, hướng dẫn người giáo viên điều hành lớp học theo các hình thức khác nhau (hướng dẫn, tập huấn), làm quen với giờ dạy đổi mới qua dự giờ hoặc dạy thể nghiệm).

- Cho học sinh làm quen với cách học tập theo nhóm tự quản, tự điều hành và tự giải quyết các nhiệm vụ.

- Chuẩn bị bài dạy, phiếu học tập và các phương án dạy học đầy đủ.

5. Tổ chức, chỉ đạo thực hiện đổi mới nghiêm túc, đồng thời có kiểm tra, khảo sát, đánh giá rút ra kinh nghiệm một cách nghiêm túc. Chỉ có như vậy có thể hiện được mục đích: Nâng cao hiệu quả của việc dạy học trong nhà trường.

Tất cả những điều tôi đã trình bày ở trên mới chỉ là kết quả nghiên cứu bước đầu nhằm góp phần nhỏ bé vào việc thực hiện đổi mới dạy học ở tiểu học. Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học ở trường tiểu học nói chung và từng bộ môn, phân môn, từng bài nói riêng là một vấn đề lớn phức tạp đòi hỏi phải có sự nghiên cứu lâu dài và công phu hơn. Tôi mong muốn các thầy cô giáo, các nhà nghiên cứu tiếp tục bàn bạc, trao đổi và giải quyết nhằm giải quyết một cách thảo đáng vấn đề đổi mới trong dạy học.

Duy Hải, ngày 12 tháng 4 năm 2013

NGƯỜI VIẾT

Nguyễn Thị Thuý Hằng

Tác giả: GV> Nguyễn Thị Thúy Hằng

Xem thêm

Hội thi tổng phụ trách Giỏi huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam
Tài năng tiếng Anh-Trần Quỳnh Nhi
Giao lưu Tài năng Tiếng Anh cụm 3- Huyện Duy Tiên
Trường Tiểu học Duy Hải với hội thi Tổng phụ trách giỏi huyện Duy Tiên 5-2015
Đại hội Liên đội trường tiểu học Duy Hải