tin tức-sự kiện

BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN DẠY THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI

BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ

THỰC HIỆN DẠY THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI


I. NHỮNG CÔNG VIỆC ĐÃ TRIỂN KHAI VÀ THỰC HIỆN:
1. Công tác tổ chức dạy học:

Nhà trường đã thực hiện tốt tinh thần các văn bản chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT và các chương trình tập huấn về tổ chức dạy học theo mô hình trường học mới Việt Nam (VNEN) và các văn bản hướng dẫn về chi tiêu tài chính; cụ thể:

1.1.Về hình thức tổ chức dạy học:

- Khối lớp 2,3 sắp xếp bàn ghế theo từng nhóm, mỗi nhóm nhiều nhất từ 4 đến 5 HS.

- Lớp có Hội đồng tự quản, được rèn luyện các kỹ năng, thói quen trong các hoạt động tự quản.

- Lớp học được trang trí: góc học tập, hộp thư, góc sinh nhật ….

- Giáo viên và học sinh được trang bị tài liệu dạy và học. sách vở, phương tiên dạy học hợp lý.

1.2. Về nội dung dạy và học:

- Tổ chức phân nhóm học sinh và rèn nề nếp học tập, kĩ năng điều hành cho Hội đồng tự quản, nhóm trưởng ... ngay từ đầu năm học.

- Thực hiện nghiêm túc mọi sự chỉ đạo của nhà trường và của tổ chuyên môn về chương trình mới VNEN: Thực hiện theo 5 bước giảng dạy và 10 bước học tập của học sinh, điều chỉnh nội dung, hình thức học tập phù hợp với đặc điểm tình hình học sinh/lớp; đo tiến độ học tập, chất lượng học học tập bao gồm kiến thưc, kỹ năng và phẩm chất đúng tình thần đã được tập huấn.

- Thường xuyên đầu tư, nghiên cứu tài liệu (như: lô gô, bảng nhóm ...) để thống nhất trong tổ về cách điều chỉnh cho phù hợp. Đồng thời nhằm hiểu dụng ý của tài liệu và nắm chắc nội dung bài dạy để linh hoạt, sáng tạo trong sử dụng tài liệu, hướng dẫn học tập phù hợp với đối tượng học sinh của lớp và đặc điểm của tiết học.

- Làm tốt công tác tổ chức lớp học theo mô hình trường học mới. Thường xuyên sử dụng các công cụ hỗ trợ học tập được trang trí ở trên lớp (Bảng thi đua, hộp thư vui, hộp thư cá nhân ...) vào quá trình học tập nhằm gây hứng thú học tập cho HS và tạo không khí lớp học thoải mái.

- Phát huy vai trò của các thành viên trong HĐTQ lớp, đội ngũ nhóm trưởng trong các hoạt động dạy-học. Thực hiện luân phiên thành viên HĐTQ, đội ngũ nhóm trưởng và cơ cấu nhóm để nhiều HS trong lớp có cơ hội thể hiện bản thân, HS trong lớp được hợp tác với tất cả các bạn trong lớp.

- Giao viên thực hiện khá nhuần nhuyễn 5 bước giảng dạy khi lên lớp. Đã nắm bắt, phân loại đối tượng học sinh trong lớp để kèm cặp giúp đỡ học sinh một cách chủ động.

- Linh hoạt chủ động điều chỉnh nhịp độ học tập tùy theo đối tượng học sinh của mình; thực hiện ghi chép nhật kí cụ thể ở mỗi bài dạy để điều chỉnh, rút kinh nghiệm khi gặp những vướng mắc về nội dung, hình thức tổ chức các hoạt động theo tài liệu. Có sổ theo dõi, nhận xét kết quả học tập của học sinh qua từng bài, từng thời điểm cụ thể.

- Thường xuyên khen ngợi, khích lệ học sinh trong học tập.

- Tham gia đầy đủ các hoạt động chuyên môn của tổ khối cũng như của nhà trường, cụm chuyên môn như thao giảng, dự giờ để học hỏi lẫn nhau và tích luỹ kinh nghiệm trong dạy- học theo mô hình trường học mới.

- Chuẩn bị chu đáo ĐDDH: Phiếu bài tập, hình ảnh, đồ dùng trực quan...; dự kiến tình huống trả lời, đáp án các câu hỏi, bài tập...

- Các em học sinh được trang bị đồ dùng học tập và Tài liệu hướng dẫn dạy học tương đối đầy đủ.

- Được tương tác với các bạn trong nhóm; được tự đánh giá quá trình học tập của bản thân. Khẳng định được vai trò của mình trong điều hành các bạn trong nhóm học tập; trong các hoạt động của lớp học sinh khá nhuần nhuyễn trong việc thực hiện theo 10 bước học tập.

1.3. Về công tác phối hợp giáo dục phụ huynh học sinh và cộng đồng:

- Được sự đồng tình ủng hộ của cha mẹ học sinh, phụ huynh thấy được sự tiến bộ của con em mình qua việc thể hiện các kỹ năng sống ở nhà trường, trong gia đình và ngoài xã hội.

2. Công tác quản lí chỉ đạo:

- Ban giám hiệu phân công chuyên môn ổn định, tổ chức sinh hoạt chuyên môn đều đặn 02 lần/tháng. Tổ chức dự giờ thăm lớp và hội thảo thống nhất phương pháp tổ chức lớp học, rút kinh nghiệm cho việc tổ chức dạy học/từng môn học.

- Triển khai kịp thời những văn bản chỉ đạo của cấp trên về phương pháp tổ chức dạy học, đánh giá học sinh theo chuẩn kiến thức, kỹ năng mà Bộ GD&ĐT đã ban hành.

- Chỉ đạo tổ chuyên môn thồng nhất việc thiết kế phiếu học tập, sử dụng thiết bị, đồ dùng trực quan, khai thác tranh ảnh,.... để tạo thuận lợi, kích thích tư duy học sinh tự hoạt động để lĩnh hội kiến thức.

- Giáo viên phải chủ động nghiên cứu kĩ bài dạy, có sự chuẩn bị nội dung kiến thức cơ bản và liên quan đến nội dung bài dạy. Vì nếu GV chủ quan sẽ dẫn đến dạy hời hợt, thiếu thông tin cập nhật, lúng túng khi hướng dẫn HS và nhất là khi HS hỏi thêm.

- Mỗi giáo viên phải có Sổ nhật kí dạy học và Sổ theo dõi kết quả học tập của học sinh qua từng bài, từng tuần, từng thời điểm để có hướng kèm cặp giúp đỡ kịp thời với từng đối tượng học sinh.

3. Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện:

3.1. Thuận lợi:

- Dạy học theo mô hình trường học mới tạo không khí học tập nhẹ nhàng, giáo viên và học sinh không bị áp lực về khuôn khổ phải dạy phải học như thế này, như thế kia…
- Sách giáo viên và học sinh có sự thống nhất về mặt nội dung trên cùng một bộ, giảm thiểu áp lực về nôi dung cũng như lượng sách vở/môn học.

- Có kinh phí cho việc in ấn phiếu học tập, tranh ảnh, mô hình… tạo điều kiện thuận lợi cho việc dạy và học, giúp tiết học trên lớp được sinh động và học sinh dễ dàng lĩnh hội kiến thức. Đáp ứng yêu cầu về tổ chức dạy học theo phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm.

- Học sinh nắm được kiến thức ngay tại lớp theo yêu cầu đạt chuẩn kiến thức và kỹ năng mà Bộ GD&ĐT ban hành. Học sinh không phải về nhà làm thêm bài tập hoặc phải học bài cũ; điều này giúp giảm tải được áp lực công việc học sinh phải học phải làm quả khả năng của các em.

3.2. Về khó khăn – tồn tại:

- Diện tích phòng học thiết kế theo cách học truyền thống nên quả nhỏ. HS của lớp quá đông (Từ 34 đến 35 em) trong đó còn trang bị tủ đựng sách vở, đồ dùng dạy học... do vậy không đảm bảo không gian thoáng đãng cho việc tổ chức các hoạt động trên lớp.

- Trong mỗi bài dạy có nhiều hoạt động của học sinh cần phải giải quyết để lĩnh hội kiến thức; do vậy các phương tiện giúp học sinh hoạt động như: ĐDDH(Tranh ảnh, phiếu bài tập...)giáo viên cần phải chuẩn bị trước; trong khi không có phương tiện in ấn, in ấn bên ngoài rất tốn kém.

- Đối với học sinh lớp 2 vừa ở lớp 1 lên, giáo viên rất vất vả vì phải hướng dẫn, theo dõi, giúp đỡ, kiểm tra nhiều lượt trong từng hoạt động học tập, vì còn có HS đọc, viết chưa thật tốt để đáp ứng yêu cầu của chương trình VNEN.
- Kỹ năng điều hành của nhóm trưởng, đặc biết đối với khối lớp 2 chưa quen, học sinh thao tác chậm. Hầu hết học sinh chưa mạnh dạn, còn rụt rè, nhút nhát; nhiều học sinh chưa biết hợp tác trong học tập, nên rất tốn thời gian của giáo viên trên lớp để rèn luyện kỹ năng này cho học sinh.

4.Kết quả đạt được:

- Qua một năm triển khai thực hiện Dự án Mô hình trường học mới, giáo viên và các em học sinh đã dần quen với mô hình dạy học VNEN.

II. VÍ DỤ THỰC HIỆN QUY TRÌNH 5 BƯỚC.

+ Bước 1. Gợi động cơ, tạo hứng thú cho HS.

Kết quả cần đạt:

Kích thích sự tò mò, khơi dậy hứng thú của HS về chủ đề sẽ học; HS cảm thấy vấn đề nêu lên rất gần gũi với mình.

Không khí lớp học vui, tò mò, chờ đợi, thích thú.

Cách làm: Đặt câu hỏi; Đố vui; Kể chuyện; Đặt một tình huống; Tổ chức trò chơi… Có thể thực hiện với toàn lớp, nhóm nhỏ, hoặc cá nhân từng HS.

+ Bước 2. Tổ chức cho HS trải nghiệm

Kết quả cần đạt:

Huy động vốn hiểu biết, kinh nghiệm có sẵn của HS để chuẩn bị học bài mới.
HS trải qua tình huống có vấn đề, trong đó chứa đựng những nội dung kiến thức, những thao tác, kĩ năng để làm nảy sinh kiến thức mới.

Cách làm: Tổ chức các hình thức trải nghiệm gần gũi với HS. Nếu là tình huống diễn tả bằng lời văn, thì câu văn phải đơn giản, gần gũi với HS. Có thể thực hiện với toàn lớp, nhóm nhỏ, hoặc cá nhân từng HS.

+Bước 3. Phân tích - Khám phá - Rút ra kiến thức mới.

Kết quả cần đạt:

HS rút ra được kiến thức, khái niệm hay quy tắc lí thuyết, thực hành mới.
Nếu là một dạng toán mới thì HS phải nhận biết được dấu hiệu, đặc điểm và nêu được các bước giải dạng toán này.

Cách làm: Dùng các câu hỏi gợi mở, câu hỏi phân tích, đánh giá để giúp HS thực hiện tiến trình phân tích và rút ra bài học.

Có thể sử dụng các hình thức thảo luận cặp đôi, thảo luận theo nhóm, hoặc các hình thức sáng tạo khác nhằm kích thích trí tò mò, sự ham thích tìm tòi, khám phá phát hiện của HS... Nên soạn những câu hỏi thích hợp giúp HS đi vào tiến trình phân tích thuận lợi và hiệu quả.

+ Bước 4. Thực hành.

Kết quả cần đạt:

HS nhớ dạng cơ bản một cách vững chắc; làm được các bài tập áp dụng dạng cơ bản theo đúng quy trình.

HS biết chú ý tránh những sai lầm điển hình thường mắc trong quá trình giải bài toán dạng cơ bản.

Cách làm:

Thông qua việc giải những bài tập rất cơ bản để HS rèn luyện việc nhận dạng, áp dụng các bước giải và công thức cơ bản. GV quan sát giúp HS nhận ra khó khăn của mình, nhấn mạnh lại quy tắc, thao tác, cách thực hiện.
Tiếp tục ra các bài tập với mức độ khó dần lên phù hợp với khả năng của HS. GV tiếp tục giúp các em giải quyết khó khăn bằng cách liên hệ lại với các quy tắc, công thức, cách làm, thao tác cơ bản đã rút ra ở trên.

Có thể giao bài tập áp dụng cho cả lớp, cho từng cá nhân, hoặc theo nhóm, theo cặp đôi, theo bàn, theo tổ HS.

+ Bước 5. Vận dụng

Kết quả cần đạt:

HS củng cố, nắm vững các nội dung kiến thức trong bài đã học.
HS biết vận dụng kiến thức đã học trong hoàn cảnh mới, đặc biệt trong những tình huống gắn với thực tế đời sống hàng ngày.

Cảm thấy tự tin khi lĩnh hội và vận dụng kiến thức mới .

Cách làm:

HS thực hành, vận dụng từng phần, từng đơn vị kiến thức cơ bản của nội dung bài đã học.

GV giúp HS thấy được ý nghĩa thực tế của các tri thức toán học, từ đó khắc sâu kiến thức đã học.

Khuyến khích HS diễn đạt theo ngôn ngữ, cách hiểu của chính các em.

Khuyến khích HS tập phát biểu, tập diễn đạt bước đầu có lí lẽ, có lập luận.

+ Bước 5. Vận dụng

Kết quả cần đạt:

HS củng cố, nắm vững các nội dung kiến thức trong bài đã học.

HS biết vận dụng kiến thức đã học trong hoàn cảnh mới, đặc biệt trong những tình huống gắn với thực tế đời sống hàng ngày.

Cảm thấy tự tin khi lĩnh hội và vận dụng kiến thức mới.

Cách làm:

HS thực hành, vận dụng từng phần, từng đơn vị kiến thức cơ bản của nội dung bài đã học.

GV giúp HS thấy được ý nghĩa thực tế của các tri thức toán học, từ đó khắc sâu kiến thức đã học.

Khuyến khích HS diễn đạt theo ngôn ngữ, cách hiểu của chính các em.

Khuyến khích HS tập phát biểu, tập diễn đạt bước đầu có lí lẽ, có lập luận thích nghi với môi trường học tập và đạt được hiệu quả.

- Nhà trường đã khắc phục khó khăn để tổ chức cho học sinh lớp 2, 3 tổ chức học 100% lớp 2 buổi/ngày.

- Trường triển khai VNEN đã có sự đổi mới, không khí học tập, các mối quan hệ hợp tác trong và ngoài nhà trường bước đầu được cải thiện, hướng về người học, hướng về phát triển năng lực đối với học sinh.

- Giáo viên giảng dạy theo mô hình VNEN đã hạn chế được sự giảng giải, thuyết trình, tập trung vào việc quan sát, hướng dẫn, tổ chức học tập, hỗ trợ, thúc đẩy quá trình học tập của học sinh.

- Học sinh cơ bản đã thay đổi được thói quen học tập, các em đã làm quen với cách học theo nhóm, dưới sự hướng dẫn của nhóm trưởng. Học sinh được rèn luyện nhiều hơn về kỹ năng nghe, nói; kỹ năng đánh giá và tự đánh giá; kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp trong cách hoạt động học theo nhóm.

* Bước đầu hình thành khả năng và năng lực:

+ Tự phục vụ, tự quản;

+ Giao tiếp, hợp tác;

+ Tự học và giải quyết vấn đề;

* Hình thành và phát triển về phẩm chất:

+ Giáo dục tốt tình yều gia đình, bạn bè và trường lớp…

+ Tự tin, tự trọng, tự chịu trách nhiệm;

+ Trung thực, kỉ luật;

+ Chăm học, chăm làm, thích hoạt động nghệ thuật, thể thao.

- Học sinh chủ động tham gia học tập sôi nổi, hào hứng. Bước đầu hình thành thói quen làm việc trong môi trường tương tác. Các em ý thức được “Khi đến lớp mình phải bắt đầu và kết thúc hành động như thế nào” và không phải chờ đến sự nhắc nhở của giáo viên góp phần đẩy mạnh sự phát triển trong công tác giáo dục của trường.

- Bước đầu tạo được sự đồng thuận của phụ huynh học sinh và cộng đồng cũng như sự ủng hộ và tích cực tham gia hỗ trợ cho nhà trường, giáo viên và học sinh thông qua các hoạt động cụ thể như trang trí lớp học(góc, cộng đồng),cùng tham gia các hoạt động làm vệ sinh lớp học với học sinh …

II. BÀI HỌC KINH NGHIỆM:

- Phải tăng cường thời gian đọc, viết trong hè đối với các em lớp 1 thì mới có thể đáp ứng phần nào yêu cầu của chương trình học đối với lớp 2 năm sau.

- Tập huấn cho Hội đồng tự quản, nhóm trưởng biết cách làm việc trong các hoạt động học tập, vui chơi... ngay từ các tuần đầu ổn định nề nếp, tổ chức lớp.

- Giáo viên phải có sự đầu tư nghiên cứu nội dung, phương pháp giảng dạy; quan tâm đến từng đối tượng học sinh, biết hỗ trợ học sinh trong quá trình học, đánh giá, nhận xét và góp ý, tạo môi trường thân thiện, tích cực.

- Thường xuyên tổ chức sinh hoạt chuyên môn để trao đối thống nhất về cách thức tổ chức dạy học theo nội dung chương trình biên soạn và tài liệu hướng dẫn học một cách có hiệu quả.

Người viết

Tổ chuyên môn 4+5

Tác giả: Tổ chuyên môn 4+5

Xem thêm

Hội thi tổng phụ trách Giỏi huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam
Tài năng tiếng Anh-Trần Quỳnh Nhi
Giao lưu Tài năng Tiếng Anh cụm 3- Huyện Duy Tiên
Trường Tiểu học Duy Hải với hội thi Tổng phụ trách giỏi huyện Duy Tiên 5-2015
Đại hội Liên đội trường tiểu học Duy Hải